Bản án số 108/2026/HS-PT ngày 09/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 108/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 108/2026/HS-PT ngày 09/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 108/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 108/2026/HS-PT Bản án số 108/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 108/2026/HS-PT Bản án số 108/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 108/2026/HS-PT
Ngày 09-6-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Ngầu.
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Quốc Tuấn;
2. Ông Nguyễn Văn Nam.
- Thư phiên tòa: Ông Đinh Trần Khánh Duy - Thư Tòa án nhân n
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Bích Du - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2026 tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số 67/2026/TLPT-HS ngày 22 tháng 4
năm 2026, do có kháng cáo của các bị cáo Mai Tuấn AMai Tuấn K đối với Bản
án hình sự sơ thẩm s35/2026/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân
khu vực 11 – Tây Ninh.
Bị cáo kháng cáo:
1. Họ tên: Mai Tuấn A, sinh ngày 25/10/2005, tại tỉnh y Ninh; số căn
cước công dân: ************, cấp ngày 13/3/2021; nơi đăng hộ khẩu thường
trú và nơi cư trú hiện nay: ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình
độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không có; quốc tịch:
Việt Nam; con ông Mai Tuấn H, sinh năm 1983 và bà Châu Thị D, sinh năm 1986;
vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không ; bị tạm giam từ ngày 22/5/2025 đến
17/10/2025; bị cáo tại ngoại, có mặt.
2. Họ tên: Mai Tuấn K, sinh ngày 21/01/2008 (thời điểm phạm tội bị cáo
mới 17 năm 03 tháng 01 ngày tuổi), tại tỉnh Tây Ninh; số căn cước công dân:
************ cấp ngày 05/12/2022; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú
hiện nay: p T, T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa:
7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Mai Tuấn H, sinh năm 1983 bà Châu Thị D, sinh năm 1986; vợ, con: chưa
có; tiền án, tiền sự: không có; bị tạm giam từ ngày 22/5/2025 đến 27/8/2025; bị cáo
tại ngoại, có mặt.
2
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Mai Tuấn K: Ông Mai Tuấn H, sinh năm
1983 và bà Châu Thị D, sinh năm 1986; cùng nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh
(là cha, mẹ ruột của bị cáo K), có mặt;
Người bào chữa cho bcáo Mai Tuấn K: Nguyễn Thị Ngọc L Trợ giúp
viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, có mặt;
Người làm công tác hội trong hoạt động pháp người chưa thành niên:
Ông Nguyễn Tiến T Chuyên viên Phòng V (phụ trách công tác trẻ em) T, tỉnh
Tây Ninh. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
Ngoài ra còn bị hại người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không
kháng cáo, kháng nghị, Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do muốn tiền để tiêu xài muốn xe để sử dụng, Mai Tuấn A rủ
em ruột là Mai Tuấn K và em họ là Mai Tấn P, sinh ngày 13/11/2010, ngụ tại ấp T,
T, huyện T (nay ấp T, T), tỉnh Tây Ninh, cùng đi đến Kho tạm giữ xe vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông của Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh
(nay K1 tạm giữ xe vi phạm giao thông của Phòng C Công an tỉnh T) tại khu
phố D, thị trấn T, huyện T (nay ấp D, T), tỉnh Tây Ninh để trộm xe
phụ tùng xe mô tô. Trước khi đi trộm Tuấn A chuẩn bị 01 bao nylon đựng đồ nghề
gồm kìm, mỏ lếch, cờ lê, các dụng cụ khác mang theo để tháo trộm phụ tùng xe mô
phân công K hoặc P thay phiên nhau cảnh giới, phụ giúp bưng các phụ tụng
ra ngoài sau khi trộm được. Sau khi bàn bạc, phân công nhiệm vcả nhóm leo
tường rào đi vào kho tạm giữ xe rọi đèn tìm đến các xe đang dựng trong
kho, K P thay phiên nhau cảnh giới cho Tuấn A tháo phụ tùng xe, khi P cảnh
giới thì K trực tiếp tháo phụ tùng xe. Vào khoảng 02 giờ ngày 21/5/2025, Tuấn A
điều khiển xe hiệu Exciter biển số 70K1-554.43 (biển số thật 37N1-
337.96) chở theo P mang theo 01 bao nylon đựng đồ nghề dùng để tháo trộm phụ
tùng xe mô tô, còn Tuấn K đi bằng xe Dream biển số 70H4-5823, cả nhóm đến gần
khu vực lô 13 cất giấu xe ở đám cây ven đường dưới cây xoài, sau đó đi bộ đến bờ
tường rào Công an huyện T, cả 3 leo lên cây cột điện bị nghiêng rồi leo qua tường
rào, khi vào bãi xe Tuấn A bật đèn pin điện thoại tìm thấy chiếc xe hiệu Exciter
150c màu cam, biển số 70H1-602.37, rồi cả nhómng tháo phụ tùng như yếm, 01
bộ đầu đèn, 01 pô, mặt nạ. Lúc cả nhóm đang tháo xe thì bị lực lượng Công an
phát hiện, cả nhóm leo rào bỏ chạy, bỏ lại các phụ tùng xe vừa tháo 01 bao
nylon đựng đồ nghề tháo lắp xe tô. Đến 09 giờ ngày 21/5/2025, Tuấn A, Tuấn
K và P được Công an mời lên làm việc, Tuấn A Tuấn K tự nguyện giao nộp các
phụ tùng xe và 03 xe mô tô trộm cắp trước đó.
Quá trình điều tra, Mai Tuấn A Mai Tuấn K thành khẩn khai báo, thừa
nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tự thú khai ra những lần phạm tội trộm
cắp trước đó tại Kho tạm giữ xe vi phạm hành chính giao thông của Công an huyện
3
T, tỉnh Tây Ninh (nay là K1 tạm gixe vi phạm giao thông của Phòng C Công an
tỉnh T), cụ thể như sau:
- Lần 1: vào khoảng 00 giờ ngày 22/4/2025, Tuấn A, K P leo tường rào,
Tuấn A P thực hiện hành vi tháo trộm cắp 02 bánh xe căm bẹ, 3 cây v
ruột, thắng đĩa bánh trước của xe mô tô Jupiter V màu đỏ biển số: 70K2-2277, còn
K đi xung quanh để cảnh giới. Đến sáng ngày 23/4/2025, Tuấn A 01 mình mang
02 mâm bánh xe vừa trộm được đem bán tại sở thu mua phế liệu được số tiền
150.000 đồng, Tuấn A cho K 30.000 đồng, còn lại số tiền dùng để mua bánh
nước cho P.
- Lần 2: vào khoảng 00 giờ ngày 23/4/2025, Tuấn A, K và P leo tường rào, cả
nhóm tìm thấy xe mô tô honda Wave màu vàng biển số 70K1-511.90, Tuấn A trộm
cắp 02 bánh xe căm chỉ vruột, thắng đĩa trước, còn K tháo trộm 02 phuộc sau,
còn P đứng cảnh giới. Đến sáng ngày 24/4/2025, Tuấn A mang 02 mâm bánh xe
vừa trộm được đem bán tại sở thu mua phế liệu được số tiền 140.000 đồng, K
bán 02 phuộc sau được số tiền 180.000 đồng, Tuấn A mua bánh nước ngọt cho
P, số tiền còn lại để tiêu xài.
- Lần 3: vào khoảng 00 giờ ngày 01/5/2025, Tuấn A, K và P leo ờng vào,
Tuấn A P tháo trộm 01 lốc máy 01 phuộc sau của xe EXCITER 135, không
có số khung; còn K tháo trộm 01 lốc máy của xe Wave màu đen tím không biển số,
không số khung. Đến sáng cùng ngày 01/5/2025, Tuấn A chở K mang theo 01 lốc
máy vừa trộm được bán tại cơ sở thu mua phế liệu với số tiền 300.000 đồng. Cùng
ngày K chở Tuấn A mang theo 01 lốc máy còn lại bán tại sở thu mua phế liệu
được số tiền 160.000 đồng. Tuấn A mua bánh nước ngọt cho P, số tiền còn lại
để tiêu xài, K giữ số tiền 160.000 đồng để tiêu xài.
- Lần 4: o khoảng 00 giờ ngày 03/5/2025, Tuấn A, K P leo tường vào,
Tuấn A P tháo trộm 02 nh xe căm bẹ của xe Exciter 135, màu xanh
biển số: 59Y1-254.07; Tuấn AP tiếp tục lấy trộm 01 pô xe của xe mô tô Suzuki
Raider màu đỏ biển số 48G1-017.15; còn Tuấn K lấy trộm 01 bình xăng con của xe
mô tô hiệu Sirius không biển số. Đến sáng ng ngày, Tuấn A 01 mình mang theo
02 mâm bánh xe vừa trộm được đem bán cho sở thu mua phế liệu với số tiền
150.000 đồng. Tuấn A mua bánh nước cho P, số tiền còn lại dùng để tiêu xài,
không chia cho K.
- Lần 5: vào khoảng 00 giờ ngày 04/5/2025, Tuấn AP leo tường vào, Tuấn
A P tháo trộm 01 lốc máy 01 bình xăng con của xe Exciter 135 màu
đen, không biển số. Đến sáng cùng ngày, Tuấn A 01 mình mang theo 01 lốc máy
xe vừa trộm được đem bán tại sthu mua phế liệu được số tiền 300.000 đồng.
Tuấn A mua bánh nước ngọt cho P, số tiền còn lại dùng để tiêu xài, không chia
cho K.
- Lần 6: vào khoảng 00 giờ ngày 06/5/2025, Tuấn A, K P leo tường vào, P
và K đứng cảnh giới, Tuấn A tháo trộm 01 lốc máy của xe mô tô Wave Đen, không
biển số. Đến sáng cùng ngày, Tuấn A tháo lốc máy ra rồi đem 01 phần lốc máy xe
vừa trộm được đem bán cho sở thu mua phế liệu được số tiền 150.000 đồng.
4
Cùng ngày, Tuấn A chK mang phần còn lại của lốc máy bán cho sở thu mua
phế liệu được số tiền 150.000 đồng. Tuấn A mua bánh nước ngọt cho P, số tiền
còn lại dùng để tiêu xài, không chia cho K.
- Lần 7: vào khoảng 00 giờ ngày 07/5/2025, Tuấn AP leo tường vào, Tuấn
A tháo trộm 01 lốc máy của xe hiệu Wave (xe độ) biển số: 70S2-3575,
không dàn áo. Đến sáng cùng ngày, Tuấn A 01 mình mang theo 01 lốc máy xe vừa
trộm được đem bán tại sở thu mua phế liệu được số tiền 300.000 đồng. Tuấn A
mua bánh và nước ngọt cho P, số tiền còn lại dùng để tiêu xài, không chia cho K.
- Lần 8: vào khoảng 00 giờ ngày 08/5/2025, Tuấn A, K và P leo ờng vào,
Tuấn A tháo trộm 01 lốc máy của xe mô tô hiệu Win màu đen biển số 24Z1-007.33
01 lốc máy của xe mô hiệu Wave không biển số, không dàn áo, sườn màu
xanh, số khung: không kiểm tra được; K lấy trộm 01 bình xăng con của xe
biển số 21T6-0461. Đến sáng cùng ngày, Tuấn A 01 mình mang theo 02 lốc máy
xe vừa trộm được đem bán tại cơ sở thu mua phế liệu được số tiền 550.000 đồng.
- Lần 9: vào khoảng 00 giờ ngày 13/5/2025, Tuấn A, K P leo tường vào
lấy trộm 01 xe mô tô Wave màu đỏ biển số 70K4-2889; Tuấn A trực tiếp tháo trộm
01 lốc máy 110 01 bình xăng con của xe hiệu wave màu bạc biển số
70k3-7298. Đến sáng cùng ngày, Tuấn A 01 mình mang theo 01 lốc máy xe vừa
trộm được đem bán tại cơ sở thu mua phế liệu được số tiền 160.000 đồng.
- Lần 10: vào khoảng 01 giờ ngày 15/5/2025, Tuấn AP leo tường lấy trộm
01 xe mô hiệu Yamaha Sirius, màu xám biển s 70k1-554.43 đem về nhà sửa
chữa để sử dụng.
- Lần 11: vào khoảng 01 giờ ngày 17/5/2025, Tuấn A, K P leo tường vào,
Tuấn AP trực tiếp lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh biển số
37N1-337.96, còn K đi xung quanh kho để cảnh giới. Tuấn A K đem xe về nhà
sửa chữa để sử dụng.
- Lần 12: vào khoảng 03 giờ ngày 21/5/2025, Tuấn A, K P tiếp tục leo
tường vào, P cảnh giới, Tuấn A K đang tháo trộm đtrên chiếc xe Exciter màu
cam biển số 70H1-602.37 gồm yếm xe, xe mặt nạ xe nhưng chưa kịp mang
đi tCông an huyện T đi kiểm tra phát hiện nên cả ba đã bỏ chạy về nhà để lại
dụng cụ tháo phụ tùng tại hiện trường. Đến ng ngày 21/5/2025, được lực lượng
Công an mời làm việc.
* Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐG, ngày 22/5/2025 của Hội đồng
định giá tài sản huyện T, tỉnh Tây Ninh kết luận:
- 01 xe Yamaha Sirius, màu xám (không biển số do bị tháo), số khung:
RLCUE3220KY135839, số máy: E8X9E699096 tại thời điểm định giá tháng
05/2025 trị giá 10.333.000 đồng;
- 01 xe mô Yamaha Exciter GP biển s 70K1-554.43 (biển số của xe:
37N1-337.96), số khung: RLCUG1010KY184451, số máy G3D4E tại thời điểm
định giá tháng 05/2025 trị giá 16.667.000 đồng;
5
- 01 xe mô Honda Wave Biển số 70K4-2889, màu đỏ, số khung: Không
xác định, số máy: 66PA02868 tại thời điểm định giá tháng 05/2025 trị giá
3.167.000 đồng.
Tổng giá trị đối với 03 xe mô tô giá trị 30.167.000 đồng.
* Bản Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS, ngày 10/11/2025 của Hội
đồng định giá tài sản xã T, tỉnh Tây Ninh kết luận: các phụ tùng xe mô bị lấy
trộm có tổng giá trị là 1.393.644 đồng.
Tổng giá trị 03 xe các phụ tùng xe các bị cáo Mai Tuấn A
Mai Tuấn K cùng đối tượng Mai Tấn P lấy trộm 31.560.000 (ba mươi mốt triệu
năm trăm sáu mươi nghìn) đồng (Làm tròn).
* Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- 115 hình ảnh màu trong 03 bản ảnh, đã lưu vào hồ sơ vụ án.
- quan điều tra đã trả lại 01 xe hiệu Honda Dream biển số 70H4-
5823 của chủ sở hữu bà Mai Thị L1; đã trả lại cho Công an tỉnh T do ông Phạm
n P1 người được ủy quyền nhận gồm: 01 (một) xe hiệu Yamaha
Exciter màu xanh biển số 37N1-337.96; 01 (một) xe hiệu Yamaha Sirius,
màu xám biển số 70K1-554.43 01 (một) xe mô Wave màu đỏ biển s70K4-
2889.
- Các vật chứng khác được thống chuyển đến Phòng thi hành án dân sự
khu vực 11 - Tây Ninh theo quy định pháp luật.
Qua xác minh các bị cáo Mai Tuấn A, Mai Tuấn K không tài sản riêng
giá trị nên Cơ quan điều tra không tiến hành kê biên.
* Về phần trách nhiệm dân sự: bị hại Công an tỉnh T người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Cao S, ông Cao Kỳ H1 và Nguyễn
Thị Thảo D1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm.
Tại Bản cáo trạng số 48/CT-VKSTC ngày 26/12/2025 của Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 11 - Tây Ninh truy tố các bị o Mai Tuấn A, Mai Tuấn K về tội
“Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án số 35/2026/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 11 Tây Ninh đã quyết định (tóm tắt):
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 173; điểm b, s, r khoản 1 Điều 51; điểm g,
o khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị
cáo Mai Tuấn A 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành án
phạt tính từ ngày bị cáo Mai Tuấn A đi chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm
giam từ ngày 22/5/2025 đến ngày 17/10/2025.
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 173; điểm b, s, r khoản 1 Điều 51; điểm g
khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình
sự; các Điều 12, 115 119 của Luật pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị
cáo Mai Tuấn K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn
6
chấp hành án phạt tính từ ngày bị cáo Mai Tuấn K đi chấp hành án, khấu trừ
thời gian tạm giam từ ngày 22/5/2025 đến ngày 27/8/2025.
Ngày 19/3/2026, bị cáo Mai Tuấn A đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt.
Ngày 19/3/2026, bị cáo Mai Tuấn A đơn kháng cáo xin được hưởng án
treo.
Tại phiên tòa:
Các bcáo Mai Tuấn A Mai Tuấn K cùng trình bày ý kiến: giữ nguyên nội
dung kháng cáo, các bị cáo tuổi đời còn quá nhỏ, suy ngnông cạn, thiếu chín
chắn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự. Ngoài lần phạm tội
này các bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương nghĩa vụ
công dân nơi cư trú. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của
các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh Tây Ninh trình bày ý kiến:
Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Mai Tuấn AMai Tuấn K về tội “Trộm cắp
tài sản” theo quy định tại điểm a khản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ,
đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã xem
xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo phạm
tội nhiều lần (bị cáo Anh 12 lần, bị cáo K 09 lần), trong đó có 03 lần tài sản chiếm
đoạt trên 2.000.000 đồng, bị cáo A xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội những
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, o khoản 1 Điều 52
của Bộ luật Hình sự; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động
gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho người bị hại, tự thú hành vi
phạm tội trước đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại
điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo K dưới 18 tuổi phạm
tội, xử phạt bị cáo Anh mức hình phạt 03 (ba) năm tù, xphạt bị cáo K 01 (một)
năm 03 (ba) tháng tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội các bị
cáo gây ra, không nặng. Các bị cáo kháng cáo cung cấp thêm giấy xác nhận của Ủy
ban nhân dân xã T, tỉnh Tây Ninh xác nhận mỗi bị cáo đã ủng hộ số tiền 2.500.000
đồng cho địa phương để chăm lo cho người nghèo hỗ trợ công tác tuyển quân
m 2026, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2
Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhưng không đáng kể, nên không căn cứ chấp
nhận kháng o của các bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a
khoản 1 Điều 355 Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận
kháng cáo của các bị cáo Mai Tuấn A Mai Tuấn K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Mai Tuấn A không trình bày ý kiến tranh luận.
Người bào chữa cho bị cáo Mai Tuấn K trình bày ý kiến tranh luận: thống
nhất với tội danh điều khoản áp dụng của bản án thẩm đã xét xử, thống nhất
ý kiến trình bày đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh về
tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo K. Tuy nhiên việc Toà án cấp sơ thẩm xét
xử bị cáo K hình phạt 01 năm 03 tháng là quá nghiêm khắc. Bởi lẽ tại thời điểm
thực hiện hành vi phạm tội bcáo K người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nhận
7
thức pháp luật còn hạn chế, nên khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo K chưa nhận
thức được snguy hiểm của hành vi mình gây ra. Do cha, mẹ bị cáo thiếu sự
quan tâm và bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do sự rủ rê, lôi kéo, xúi dục của anh
bị cáo là bị cáo A. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tự nguyện giao nộp
số tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả gây ra thể hiện sự ăn năn hối lỗi đối
với hành vi phạm tội của mình. Hơn nữa trong ván này bị cáo A, bị cáo K anh
em ruột, chính sách nhân đạo của pháp luật hội chủ nghĩa, đề nghị Hội đồng
xét xử cân nhắc áp dụng khoản 1 Điều 119 Điều 124 của Luật pháp người
chưa thành niên, xử phạt bị cáo Mai Tuấn K mức hình phạt 01 (một) năm 03 (ba)
tháng nhưng cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng
đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Mai Tuấn K ông Mai Tuấn H,
Châu Thị D trình bày ý kiến: việc bị cáo K thực hiện hành vi phạm tội thiếu sự
quản của vợ chồng ông bà, nay ông, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem
xét cho bị cáo K được hưởng án treo.
Bị cáo Mai Tuấn K trình bày ý kiến: bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm
tội như nội dung bản cáo trạng truy tố và bản án sơ thẩm đã nêu, đồng ý với lời bào
chữa đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, không trình bày tranh luận bổ
sung.
Người làm công tác hội trong hoạt động pháp người chưa thành niên
ông Nguyễn Tiến T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo:
+ Bị cáo Mai Tuấn A: bị cáo rất hối hận vhành vi phạm tội của mình, xin
Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo
cải tạo sớm trở về hoà nhập cộng đồng và là một công dân sống có ích cho gia đình
và xã hội.
+ Bị cáo Mai Tuấn K: bị cáo biết hành vi của mình sai trái, xin Hội đồng
xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Mai Tuấn A Mai Tuấn K lập cùng
ngày 19/3/2026 nộp tại Toà án cấp thẩm còn trong thời hạn luật định; nội dung
đơn kháng cáo hợp lệ phù hợp với quy định tại Điều 332 Điều 333 của Bộ luật
Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Ông Nguyễn Tiến T người làm công tác hội trong hoạt động
pháp người chưa thành niên vắng mặt, có đơn xin vắng mặt, tại Toà án cấp sơ thẩm
ông Nguyễn Tiến T đã tham gia đã ý kiến, do đó căn cứ vào Điều 150 của
Luật Tư pháp người chưa thành niên, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
8
[2] Hành vi của các bị cáo thể hiện:
Tại phiên tòa các các bị cáo Mai Tuấn A, Mai Tuấn K đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các i
liệu, chứng cứ thu thập trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
đủ căn cứ xác định: từ ngày 22/4/2025 đến ngày 21/5/2025 tại Kho giữ xe vi phạm
giao thông của Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay K1 tạm giữ xe vi phạm
giao thông của Phòng C Công an tỉnh T) thuộc ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh, các bị
cáo Mai Tuấn A, Mai Tuấn K đối tượng Mai Tấn P đã nhiều lần lén lút thực
hiện trộm cắp tài sản xe tô các phụ tùng xe đang được tạm giữ tại
kho. Lần sau cùng vào khoảng 03 gingày 21/5/2025, khi các bị cáo A, K đối
tượng P đang thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện. Quá trình điều tra, các bị
cáo Anh, K và đối tượng phát đã 12 lần thực hiện hành vi trộm cắp 03 chiếc mô
các phụ tùng xe mô tô, trong đó: bị cáo K thực hiện hành vi trộm cắp tài sản
chung với bị cáo A và đối tượng P 09 lần, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt
21.227.664 đồng (gồm 02 chiếc tô trị g19.834.000 đồng các phụ tùng xe
mô tô trị giá 1.393.664 đồng); bị cáo A đối tượng P đã 12 lần thực hiện hành vi
trộm cắp tài sản (trong đó 09 lần thực hiện trộm cắp tài sản chung với bị cáo K)
tổng giá trị 31.560.664 đồng (gồm 03 chiếc trị giá 30.167.000 đồng
các phụ tùng xe mô tô trị giá 1.393.664 đồng). Hành vi của các bị cáo Mai Tuấn A,
Mai Tuấn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại
Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Anh, K và đối tượng P đã có sự cấu
kết chặt chẽ phân công nhiệm vụ người cảnh giới, người thực hiện hành vi
phạm tội phạm, nên hành vi của các bị cáo A và K thuộc trường hợp phạm tội có tổ
chức, tình tiết định khung tăng nặng “Có tổ chức” được quy định tại điểm a
khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Do đó Toà án cấp thẩm xét xcác bị cáo Mai Tuấn A Mai Tuấn K về
tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự
là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1] Đối với bị cáo Mai Tuấn A: khi quyết định hình phạt, Toà án cấp
thẩm đã xem xét bị cáo vai trò chính, người khởi xướng, chuẩn bị công cụ
phạm tội, lôi kéo, rủ rê, phân công nhiệm vụ cho bị cáo K đối tượng P người
thực hành, người cảnh giới thay nhau cùng thực hiện hành vi phạm tội cùng tính
chất thủ đoạn; bị cáo thực hiện tội phạm tổng cộng 12 lần cùng với bị cáo K đối
tượng P, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt 31.560.664 đồng; bị cáo nhiều
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho
bị hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tự thú những lần phạm tội trước đó
theo quy định tại điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội
nhiều lần và xúi dục bị cáo K và đối tượng P là người dưới 18 tuổi phạm tội, là tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, o khoản 1 Điều 52 của
Bộ luật Hình sự, Toa án cấp thẩm xử phạt bị cáo A 03 (ba) năm tương
9
xứng với tính chất, mức đhành vi phạm tội bị cáo gây ra, không nặng. Bị cáo
kháng cáo, cung cấp thêm Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tây Ninh
xác nhận bị cáo đã ủng hộ số tiền 2.500.000 đồng cho địa phương để chăm lo cho
người nghèo hỗ trợ công tác tuyển quân năm 2026, tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhưng
không đáng kể, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
[3.2] Đối với bị cáo K thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, bị bị
cáo Anh rủ rê, lôi kéo thực hiện tội phạm; bị cáo thực hiện tội phạm tổng cộng 09
lần cùng với bị cáo A đối tượng P, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt
21.227.664 đồng; bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã tác
động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
tự thú những lần phạm tội trước đó theo quy định tại điểm b, r, s khoản 1 Điều
51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; khi
thực hiện tội phạm bị cáo người dưới 18 tuổi (mới được 17 năm 03 tháng 01
ngày tuổi), Toà án cấp sơ thẩm căn cứ các Điều 12, Điều 115 và Điều 119 của Luật
pháp người chưa thành niên xử phạt bị cáo K 01 (một) năm 03(ba) tháng
phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội các bị cáo gây ra. Bị
cáo kháng cáo, cung cấp thêm Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân T, tỉnh Tây
Ninh xác nhận bị cáo đã ủng hộ số tiền 2.500.000 đồng cho địa phương để chăm lo
cho người nghèo và hỗ trợ công tác tuyển quân năm 2026, tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình smới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
nhưng không đáng kể. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo bị cáo A anh em ruột còn
chung sống với cha mẹ, bị cáo là người dưới 18 tuổi, có nhân thân tốt, có nơi cư trú
ràng, khả năng tự cải tạo, ngoài lần phạm tội này bị cáo chấp hành tốt chủ
trương chính sách của Nhà nước địa phương, áp dụng chính sách nhân đạo của
Nhà nước, Hội đồng xét xử căn vào khoản 1 Điều 119 Điều 124 của Luật
pháp người chưa thành niên xử phạt bị cáo 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho
bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời
cũng không ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
[4] Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Tuấn
A; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Tuấn K; chấp nhận đề nghị của người bào
chữa cho bị cáo Mai Tuấn K; chấp nhậnmột phần đề nghị của đại diện Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Tây Ninh; sửa bản án thẩm về hình phạt đối với bị cáo K, giữ
nguyên hình phạt đối với bị cáo A.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố
tụng hình sự; điểm b, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà
án.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Mai Tuấn A phải chịu
200.000(hai trăn nghìn) đồng; kháng cáo bị cáo Mai Tuấn K được chấp nhận nên
bị cáo K không phải chịu.
10
[6] Các quyết định của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị phúc
thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 của
Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Tuấn A.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Tuấn K.
Sửa Bản án hình sự thẩm s35/2026/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 11 Tây Ninh về phần quyết định hình phạt đối với
bị cáo Mai Tuấn K.
1. Tuyên bố các bị cáo Mai Tuấn A và Mai Tuấn K phạm tội Trộm cắp tài
sản”.
2. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, o
khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Mai Tuấn A 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt
tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 22/5/2025
đến ngày 17/10/2025.
3. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g
khoản 1 Điều 52; Điều 17 Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Điều 12; khoản 1 Điều
119 và Điều 124 của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
3.1. Xử phạt bị cáo Mai Tuấn K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án
treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc
thẩm (ngày 09/6/2026).
3.2. Giao bị cáo Mai Tuấn K cho Uỷ ban nhan dân T, tỉnh Tây Ninh để
giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bkết án trách
nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhan dân xã T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo
dục người bị kết án.
3.3. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi trú tthực hiện theo quy
định của Luật Thi hành án hình sự.
3.4. Trong thời gian thử thách, nếu người bkết án cố ý vi phạm nghĩa vụ
theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án thể quyết
định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3.5. Trường hợp người bị kết án thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án
buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình
phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
4. Về án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng
Hình sự; điểm b, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:
11
4.1. Bị cáo Mai Tuấn A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4.2. Bị cáo Mai Tuấn K không phải chịu
5. Các quyết định của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị phúc
thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Phòng GĐ,KT,TT&THA TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 11- Tây Ninh;
- VKSND khu vực 11 – Tây Ninh;
- Cơ quan Thi hành án hình sự;
- Phân trại tạm giam Tân Châu;
- Phòng THADS khu vực 11 – Tây Ninh;
- Phòng PC06, PC01 Công an tỉnh TN;
- Bị cáo;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ; tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Võ Văn Ngầu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 108/2026/HS-PT Bản án số 108/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 108/2026/HS-PT Bản án số 108/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất