Bản án số 985/2026/DS-PT ngày 19/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 985/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 985/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 985/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 985/2026/DS-PT ngày 19/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 985/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | 1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị Thu H.2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2026/DS-ST ngày 04/02/2026 củaTòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 985/2026/DS-PT
Ngày: 19/5/2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng
Ông Đào Minh Đa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh,
tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 608/2026/TLPT-DS ngày
30 tháng 3 năm 2026 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2026/DS-ST ngày 04/02/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2603/2026/QĐXXPT-DS ngày 21
tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 6322/2026/QĐ-PT ngày
05 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Tố N, sinh năm 1980; địa chỉ: số C khu phố Đ, phường Đ,
Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: số D, đường số I, khu đô thị T, phường D,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Thúc Đ, sinh năm 1988; địa
chỉ: số D, đường số I, khu đô thị T, khu phố N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh
hoặc bà Phạm Thị Thu T, sinh năm 1998; địa chỉ: xóm E, thôn A, xã T, tỉnh Quảng
Ngãi; địa chỉ liên hệ: số D đường số I, khu đô thị T, khu phố N, phường D, Thành phố
Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 23/9/2025); ông
Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà T vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1981; địa chỉ: số F đường G, khu Đ, khu
phố T, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Hoài N1, sinh năm 2000; địa
chỉ: số F G, phường H, tỉnh Cà Mau; địa chỉ liên hệ: số F đường số A, khu đô thị T,
2
khu phố N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Giấy
ủy quyền ngày 30/10/2025); có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Hoàng Thị Thu H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn trình bày:
Bà Vũ Tố N và bà Hoàng Thị Thu H có mối quan hệ bạn bè. Vào tháng 5/2023,
bà H ngỏ ý vay tiền sử dụng vào mục đích riêng. Hai bên không lập giấy vay tiền, có
thỏa thuận trả lãi suất hàng tháng nhưng không xác định rõ mức lãi suất cụ thể. Tổng
số tiền bà H đã vay của bà N là 2.290.000.999đ (Lưu ý: xem lại số 999 này), được thực
hiện qua hình thức chuyển khoản từ tài khoản số 868686 (Ngân hàng TMCP P - OCB)
của bà N đến tài khoản số 65110001672151 (Ngân hàng TMCP Đ1 - B) của bà H, cụ
thể như sau:
Ngày 04/5/2023: Vay 300.000.000đ, thời hạn 30 ngày.
Ngày 18/12/2023: 240.000.000đ (tiền hụi).
Ngày 20/5/2024: Vay 200.000.000đ.
Ngày 04/6/2024: Vay 850.000.000đ.
Ngày 18/7/2024: Vay 210.000.000đ.
Ngày 18/7/2024: Vay 490.000.000đ.
Ngày 19/9/2024, bà H đã trả cho bà N số tiền 900.000.000đ, còn nợ lại
1.390.000.999đ. Cùng ngày, bà H lập giấy nhận nợ, xác nhận còn nợ bà N số tiền
1.150.000.999đ (số tiền này chưa bao gồm khoản nợ hụi ngày 18/12/2023) và xin gia
hạn thanh toán từ 06 tháng đến 01 năm (tức đến ngày 19/9/2025). Tuy nhiên, quá thời
hạn cam kết, bà H vẫn không thanh toán dù bà N đã nhiều lần nhắc nhở. Vì vậy, bà N
khởi kiện yêu cầu:
- Buộc bà Hoàng Thị Thu H trả số tiền 1.529.229.591 đồng. Trong đó số tiền nợ
gốc là 1.390.000.999 đồng, số tiền nợ lãi trong hạn từ ngày 19/9/2024 đến ngày
19/9/2025 x 10%/năm là 139.000.099 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn từ ngày 20/9/2025
đến 23/9/2025 là 228.493đ (10%/năm x 150%).
- Yêu cầu bà Hoàng Thị Thu H tiếp tục chịu lãi suất trên số tiền nợ gốc quá hạn
chưa trả với mức lãi suất 150% x 10%/năm, tính từ ngày 24/9/2025 cho đến khi Bản
án/ Quyết định có hiệu lực pháp luật.
Bà N cho bà H vay hoàn toàn không thế chấp tài sản vì là chỗ quen biết nhau, tin
tưởng nhau.
Ngày 23/12/2025, nguyên đơn xin rút lại một phần yêu cầu, cụ thể rút yêu cầu số
tiền 240.000.000đ ghi nội dung “hui tran”. Chỉ yêu cầu bà H phải trả cho bà N số tiền
gốc 1.150.000.999đ theo giấy xác nhận ngày 19/9/2024. Yêu cầu tính lãi suất trên số
tiền gốc 1.150.000.999đ này từ ngày 20/9/2025 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm theo
quy định của pháp luật là 10%/năm.
Quá trình tiến hành tố tụng, bị đơn trình bày:
3
Bà H và bà N quen biết với nhau, do có nhu cầu sử dụng tiền nên bà H vay tiền
của bà N nhiều lần. Việc vay tiền này không thế chấp tài sản gì.
Ngày 19/9/2024, bà H và bà N cùng ký giấy nhận nợ để chốt lại số tiền bà H còn
nợ bà N là 2.050.000.999đ. Cùng ngày, bà H trả cho bà N số tiền 900.000.000đ, số tiền
nợ còn lại là 1.150.000.999đ. Các bên thỏa thuận thời hạn thanh toán chậm nhất đến
ngày 19/9/2025, không có thỏa thuận lãi suất cho vay.
Hiện nay bà N khởi kiện bà H yêu cầu trả số tiền gốc 1.390.000.999đ cùng tiền
lãi trong hạn, lãi quá hạn là không đúng vì các lý do:
Tại giấy xác nhận nợ ngày 19/9/2024 chỉ thể hiện số tiền gốc còn nợ là
1.150.000.999đ, nên chỉ có thể xác định bà H còn nợ bà N số tiền này và hiện nay bà
H cũng chỉ đồng ý trả số tiền này cho bà N. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của bão lũ, việc
làm ăn của bà H gặp nhiều khó khăn nên cần phải có thời gian để bà H tìm nguồn mới
trả được cho bà N, thời gian bà H đề nghị là từ 06 tháng đến 01 năm sẽ thanh toán cho
bà N.
Đối với số tiền 240.000.000đ bà N chuyển cho bà H ngày 18/12/2023 với nội
dung “hui tran”, đây là số tiền bà N chơi hụi và nhờ bà H chuyển đóng hụi. Giữa bà H
và bà N không có bất cứ giao dịch nào về hụi nên không đồng ý số tiền này.
Căn cứ theo giấy xác nhận ngày 19/9/2024 không có thỏa thuận lãi suất nên việc
nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất chậm trả là không đúng.
Do đó, bị đơn bà H chỉ đồng ý trả số tiền nợ 1.150.000.999đ theo giấy xác nhận
ngày 19/9/2024, tuy nhiên chỉ đồng ý trả trong thời hạn 06 tháng đến 01 năm; không
đồng ý trả lãi suất.
Ngoài ra, bị đơn nhận thấy chữ ký tại đơn khởi kiện không phải của bà N, còn
phần chữ ghi tên Vũ Tố N đã được đánh máy sẵn, không phải chữ viết tay của bà N.
Do đó, khi nào bà H có tiền nộp chi phí giám định sẽ yêu cầu giám định chữ ký trong
đơn khởi kiện của bà N.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2026/DS-ST ngày 04/02/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Chấp nhận việc rút phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền
240.000.000 đồng chuyển ngày 18/12/2023 có nội dung “hui tran”. Đình chỉ xét xử đối
với yêu cầu này.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Tố N về việc tranh chấp
hợp đồng vay tài sản (tiền) đối với bà Hoàng Thị Thu H.
Buộc bà Hoàng Thị Thu H có trách nhiệm trả ngay cho bà Vũ Tố N số tiền nợ
gốc là 1.150.000.999 đồng (một tỷ, một trăm năm mươi triệu, chín trăm chín mươi chín
đồng) và tiền lãi suất tính từ ngày 20/9/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm là 43.164.421đ.
Tổng số tiền buộc bà H có trách nhiệm trả ngay cho bà N là 1.193.165.420đ.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, nghĩa vụ chậm trả, quyền kháng cáo,
quyền và nghĩa vụ thi hành án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/02/2026, bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm.
4
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn vẫn giữ yêu cầu
kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án
do bà N không ký vào đơn khởi kiện.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến
của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Phan Thúc Đ có đơn đề nghị
xét xử vắng mặt; bà Phạm Thị Thu T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên
tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng
mặt người đại diện hợp pháp của nguyên đơn theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[2] Quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu
khởi kiện đối với số tiền 240.000.000 đồng chuyển ngày 18/12/2023. Xét thấy, việc rút
một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy
định của pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu trên là
đúng quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Bị đơn là bà H thừa nhận chứng cứ là giấy nhận nợ ngày 19/9/2024 và thừa
nhận số tiền còn nợ nguyên đơn là 1.150.000.999 đồng; đây là tình tiết không phải
chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Bị đơn đồng ý trả nợ nhưng xin gia hạn thời gian từ 06 tháng đến 01 năm
nhưng nguyên đơn không đồng ý. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền gốc 1.150.000.999 đồng là có căn cứ.
[5] Về lãi suất: Theo giấy nhận nợ ngày 19/9/2024, các bên không thỏa thuận lãi
suất và thời hạn trả nợ là ngày 19/9/2025. Đến hạn trả nợ, bị đơn không thanh toán là
vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi từ ngày 20/9/2025
đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 04/02/2026) với mức lãi suất 10%/năm với số tiền
43.164.421 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 466 và khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[6] Bị đơn kháng cáo yêu cầu giám định chữ ký của nguyên đơn bà N tại đơn khởi
kiện vì cho rằng chữ ký này không phải của bà N. Xét thấy, người đại diện hợp pháp
của bị đơn nộp đơn yêu cầu giám định sau khi đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử
phúc thẩm; đồng thời, yêu cầu giám định này không phải đối với chứng cứ do nguyên
đơn xuất trình mà là đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện liên quan trực tiếp đến quyền lợi
của bà N, do bà N nộp tại Tòa án; đồng thời bà N đã xác nhận nội dung khởi kiện và
ủy quyền hợp pháp cho người đại diện tham gia tố tụng. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định
chữ ký trong đơn khởi kiện là của bà N. Do đó, yêu cầu của người đại diện hợp pháp
5
của bị đơn về việc hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án và yêu cầu giám định
chữ ký là không có căn cứ.
[7] Từ những phân tích trên, kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.
[8] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại
phiên tòa là phù hợp.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, Điều 296, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng
dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị Thu H.
2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2026/DS-ST ngày 04/02/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Án phí phúc thẩm: Bà Hoàng Thị Thu H phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng), được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0012520 ngày
12/02/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 16 – Thành phố
Hồ Chí Minh;
- TAND khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí
Minh;
- Đương sự;
- Lưu: HS, VP (15), 72.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Mộng Tuyết
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 02/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 26/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 26/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 25/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 25/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 22/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 22/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 21/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 21/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm