Bản án số 381/2026/HS-PT ngày 02/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 381/2026/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 381/2026/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 381/2026/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 381/2026/HS-PT ngày 02/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 381/2026/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 02/06/2026 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Ch ta phiên ta: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lâm;
Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Trầm - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2026, ti trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số:
203/2026/TLPT-HS ngày 18 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Xuân T,
do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2026/HS-ST
ngày 04 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí
Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Xuân T sinh năm 1989 ti tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: Thôn
F, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk); nghề nghiệp: Lao
động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch:
Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Tòng Q (đã chết) và bà Lê Thị T1, sinh
năm 1960; bị cáo có vợ tên Phm Thị Cẩm H, sinh năm 1991 và có 02 con, con
lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sư: không; bị cáo bị bắt
tm giam từ ngày 30/9/2025 cho đến nay; hiện đang bị tm giam ti Tri tm giam
Bố Lá (Cơ sở 1) - Công an Thành phố H; bị cáo có mặt ti phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Thế A, Luật sư Văn phòng Luật sư
T2 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị hi không có kháng cáo, không bị kháng
cáo, kháng nghị nên Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến ti phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 381/2026/HS-PT
Ngày 02-6-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Nguyễn Xuân T được Công ty TNHH B (sau đây viết tắt là Công ty B) ký
hợp đồng lao động số BG529552 và bổ nhiệm chức vụ Trưởng Bưu cục Tân Uyên
với công việc hàng ngày là toàn quyền phụ trách quản lý ti Bưu cục T, phân chia
đơn hàng cho các nhân viên giao hàng, thu tiền từ các nhân viên giao hàng do các
khách hàng đã thanh toán và nộp về Công ty trước 11 giờ 00 phút ngày hôm sau.
Đầu tháng 01/2023, do thiếu tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định chiếm đot tiền
giao hàng ti Bưu cục. Thực hiện ý định trên, T đã thực hiện hành vi chiếm đot
tài sản của Công ty B 02 lần, cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 18/01/2023, 07 nhân viên giao hàng của Công ty sau khi giao
149 đơn hàng đã thu tiền của khách ti địa bàn T với tổng số tiền là 43.395.546
đồng và giao li cho T để T nộp về cho Công ty B, cụ thể:
1. Nguyễn Thị Mộng C đã thu số tiền 2.201.789 đồng (hai triệu hai trăm
linh một nghìn bảy trăm tám mươi chín đồng);
2. Nguyễn Thị Mộng L đã thu số tiền 8.582.802 đồng (tám triệu năm trăm
tám mươi hai nghìn tám trăm linh hai đồng);
3. Lê Viết H1 đã thu số tiền 9.238.369 đồng (chín triệu hai trăm ba mươi
tám nghìn ba trăm sáu mươi chín đồng);
4. Nguyễn Minh H2 đã thu số tiền 3.024.300 đồng (ba triệu không trăm hai
mươi bốn nghìn ba trăm đồng);
5. Võ Hoàng T3 đã thu số tiền 634.000 đồng (sáu trăm bốn mươi bốn nghìn
đồng);
6. Nguyễn Văn T4 đã thu số tiền 9.692.187 đồng (chín triệu sáu trăm chín
mươi hai nghìn một trăm tám mươi bảy đồng);
7. Phm Văn T5 đã thu số tiền 10.022.099 đồng (mười triệu không trăm hai
mươi hai nghìn không trăm chín mươi chín đồng).
Sau đó, sáng ngày 19/01/2023, T đã xác nhận trên hệ thống phần mềm quản
lý nội bộ của Công ty B với nội dung đã thu tiền của 149 đơn hàng mà 07 nhân
viên giao hàng đã bàn giao bằng hình thức thanh toán tiền mặt với tổng số tiền
43.395.546 đồng nhưng T không nộp tiền về cho Công ty B mà đã chiếm đot số
tiền 43.395.546 đồng.
Lần 2: Ngày 19/01/2023, T đã đưa hàng hóa của 86 đơn hàng ti bưu cục
giao cho khách hàng với tổng số tiền thực tế trên tổng 86 đơn hàng là 36.877.981
đồng, sau khi giao hàng cho khách và thu số tiền 36.877.981 đồng, T không nộp
tiền thu được về cho Công ty B mà tiếp tục chiếm đot số tiền trên.
Sau khi chiếm đot số tiền ti Bưu cục T6 trong ngày 18/01/2023 và
19/01/2023 với tổng số tiền là 80.273.527 đồng, T tự ý nghỉ việc rồi bỏ trốn và đã
sử dụng hết số tiền vào mục đích tiêu xài cá nhân.
Công ty B đã nhiều lần liên hệ với T để yêu cầu T trả li số tiền đã chiếm
đot nhưng không được. Đến ngày 05/4/2023, ông Hồ Thế N là người đi diện
3
theo ủy quyền của Công ty B đến Công an thị xã T, tỉnh Bình Dương (nay là Công
an Thành phố H) trình báo sự việc.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 21/11/2023, gia đình bị cáo đã bồi thường
cho Công ty B số tiền 66.423.381 đồng. Số tiền còn li đã được Công ty B cấn trừ
vào tiền cọc 5.000.000 đồng (là tiền thế chân Nguyễn Xuân T đã đặt cọc cho Công
ty khi vào làm việc) và tiền lương tháng 01/2023 (số tiền 8.849.647 đồng) của bị
cáo Nguyễn Xuân T. Công ty B không có yêu cầu gì thêm và đơn bãi ni xin giảm
nhẹ hình pht cho T.
Ti Cáo trng số 90/CT-VKS-KV17 ngày 19/01/2026 của Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về
tội “Tham ô tài sản” theo quy định ti điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình
sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ti Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2026/HS-ST ngày 04 tháng 02 năm 2026
và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 12/2026/QĐ-SCBS ngày 03/3/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phm tội “Tham ô tài sản”
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử pht: bị cáo Nguyễn Xuân T 07 (bảy) năm tù về tội “Tham ô tài sản”;
Thời hn tù tính từ ngày 30/9/2025.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 10 tháng 02 năm 2026, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình pht.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
ta trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
Về thời hn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hn luật định
nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục
phúc thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định ti các Điều 331, 333 của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo: Hành vi phm tội của bị cáo là nguy
hiểm cho xã hội, gây thiệt hi về tài sản của tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà
nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Vì muốn có tiền để tiêu xài
cá nhân mà bị cáo cố ý phm tội, bất chấp quy định của pháp luật. Bị cáo T đã lợi
dụng chức vụ, quyền hn được giao quản lý tiền mua hàng, chiếm đot tiền của
Công ty TNHH B vào ngày 18/01/2024 và ngày 19/01/2023 với tống số tiền là
80.273.527 đồng (ngày 18/01/2023 chiếm đot 43.395.546 đồng và ngày
19/01/2023 chiếm đot 36.877.981 đồng) nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo
về tội “Tham ô tài sản” với tình tiết định khung “Phm tội 02 lần trở lên” được
quy định ti điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự. Ti cấp phúc thẩm,
gia đình bị cáo bổ sung, cung cấp tài liệu mới: bị cáo là lao động chính trong gia
đình, gia đình có hoàn cảnh khó khăn được địa phương xác nhận. Tuy nhiên, Tòa
4
án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phm tội của bị cáo, tuyên
xử pht bị cáo mức hình pht 07 năm (mức khởi điểm của khung hình pht) là
phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo T.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều
356 của Bộ luật Hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn
Xuân T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2026/HS-ST ngày 04 tháng 02
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất tội danh, điều luật mà
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo. Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng
tình tiết phm tội nhiều lần để chuyển khung hình pht cho bị cáo từ khoản 1 Điều
353 của Bộ luật Hình sự lên điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự là chưa
phù hợp. Hành vi của bị cáo có tính liên tục chứ không phải 02 lần. Ý thức chiếm
đot tài sản của bị cáo là sau khi có tiền của công ty. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự như: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo
đã khắc phục toàn bộ thiệt hi cho công ty, việc khắc phục này trước khi bị cáo bị
khởi tố; bị hi có đơn xin giảm nhẹ hình ht và xin bãi ni cho bị cáo thể hiện mức
độ nguy hiểm của hành vi phm tội không còn; bị cáo đầu thú thể hiện thiện chí
rõ ràng; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình bị
cáo rất khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia dình, nếu cách ly bị cáo ra xã
hội thì thiệt hi xảy ra sẽ rất lớn hơn thiệt hi mà bị cáo đã gây ra. Mức hình pht
Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo chưa thể hiện hết được chính sách khoan
hồng của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình pht
cho bị cáo.
* Bị cáo đồng ý bài tranh luận ca người bào chữa và không tranh luận bổ
sung.
* Đại diện Viện kiểm sát viên đối đáp: Người bào chữa cho rằng bị cáo đầu
thú nhưng trong hồ sơ không có tài liệu, chứng cứ thể hiện vấn đề này. Về ý thức
chiếm đot tài sản của bị cáo, trong hồ sơ đã thể hiện bị cáo có ý thức chiếm đot
tài sản nên trong vòng 2 ngày bị cáo đã thực hiện hành vi phm tội; về các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì Tòa án cấp sơ thâm đã xem xét áp dụng cho
bị cáo. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm giải quyết vụ án. Đề nghị
Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
* Người bào chữa, bị cáo không tranh luận bổ sung.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận
kháng cáo cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng ti phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hn luật định nên
đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
5
[2] Về nội dung: ti phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phm tội như nội
dung bản án sơ thẩm, có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Xuân T trong thời gian giữ
chức vụ Trưởng Bưu cục ti TU của Công ty TNHH B đã lợi dụng chức vụ, quyền
hn về việc được giao quản lý tiền mua hàng, để chiếm đot tiền của Công ty
TNHH B hai lần: Ngày 18/01/2023 T chiếm đot số tiền 43.395.546 đồng; ngày
19/01/2023 T tiếp tục chiếm đot số tiền 36.877.981 đồng. Tổng số tiền T đã
chiếm đot của Công ty TNHH B là 80.273.527 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn
Xuân T thực hiện đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” với tình tiết
định khung quy định ti điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Xuân T
về tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình pht của bị cáo, Hội đồng xét xử xét
thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: bị cáo thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hi cho bi hi và
người đi diện hợp pháp của bị hi xin giảm nhẹ hình pht cho bị cáo; bị cáo là
lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh gia đình khó khăn; đây là các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định ti điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51
của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do
đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, giảm một phần hình
pht của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình pht.
[4] Đi diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không
chấp nhận kháng cáo của bị cáo là không cùng quan điểm với Hội đồng xét xử
nên không chấp nhận.
[5] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo xin giảm nhẹ hình pht cho bị
cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với đề nghị áp dụng tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo đầu thú là không có căn cứ nên Hội đồng xét
xử không chấp nhận.
[6] Các phần quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận
nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định ti Điều 135,
Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án và Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị
quyết này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015.
6
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân T. Sửa Bản án hình sự sơ
thẩm số 41/2026/HS-ST ngày 04 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử pht bị cáo Nguyễn Xuân T 06 (sáu) năm tù về tội “Tham ô tài sản”.
Thời hn chấp hành hình pht tù tính từ ngày 30/9/2025.
2. Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều
23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội
Bị cáo Nguyễn Xuân T không phải chịu.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
- Phòng Hồ sơ - Công an TP.HCM;
- Tòa án nhân dân khu vực 17 - TP.HCM;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - TP.HCM;
- Tri tm giam Bố Lá (Cơ sở 1);
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng khác;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 17 - TP.HCM;
- Lưu hồ sơ vụ án, VP, 25. (54)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Huỳnh Đức
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
7
Nguyễn Thanh Tùng Nguyễn Hữu Lâm
Nguyễn Huỳnh Đức
8
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 04/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 04/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 03/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 03/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 03/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 02/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 02/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 02/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 01/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 01/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 01/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm