Bản án số 134/2026/HS-PT ngày 15/05/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 134/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 134/2026/HS-PT ngày 15/05/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 134/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/05/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Lương Ngọc Thân K
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 134/2026/HS-PT
Ngày 15/5/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Thái Thị Phi Yến
Các Thẩm phán: Ông Ngô Hà Nam
Bà Đỗ Thị Thúy Năng
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Thư T án nhân dân
thành phố Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng m
phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ số 88/2026/TLPT-HS
ngày 16 tháng 03 năm 2026 đối với bị cáo Lương Ngọc Thân K do kháng cáo
của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2026/HS-ST ngày 06/02/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng.
* Bị cáo kháng cáo: Lương Ngọc Thân K, sinh ngày 09/9/1983 tại Đà
Nẵng; Tên gọi khác: không; Nơi trú: số A đường A, tổ A, phường A, thành phố
Đà Nẵng; Số căn cước công dân: ************; Nghề nghiệp: Chuyên viên ng
nghệ thông tin; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới
tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Lương H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Lệ H1,
sinh năm 1955; Bị cáo 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 02; Bị cáo vợ là Hồ
Thị Thu T1, sinh năm 1990 02 con (con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ
nhất sinh năm 2022); Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 05/12/2025 bị Trưởng trạm Cảnh sát giao thông H3 ra
Quyết định số G01.863.308.10-981-25-006180/-XPHC xử phạt vi phạm hành
chính với số tiền 7.500.000 đồng về hành vi “Điều khiển xe không chứng nhận
đăng ký xe, điều khiển xe không gắn biển số xe”;
Bị o hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi trú”
(có mặt tại phiên toà).
2
* Bị hại: Chị Đỗ Thị Ý N, sinh ngày 27/10/1995 (đã chết);
Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại gồm:
Trần Thị T2, sinh năm 1974 (mẹ ruột chị N); Số căn cước công dân
************, cấp ngày 15/8/2021; Địa chỉ: Tổ A, thôn T, H, thành phố Đà
Nẵng. Trần Thị T2 u quyền cho ông Nguyễn Văn T3 T4 tham gia tố tụng theo
Giấy uỷ quyền ngày 28/8/2025.
Anh Nguyễn Văn Tịnh T4, sinh m: 1994 (chồng của chị N); Số căn cước
công dân ************, cấp ngày 05/12/2021; Nguyễn Mai P, sinh năm 2023;
Cùng địa chỉ: Kiệt A, thôn D, xã H, thành phố Đà Nẵng. (Ông T4 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 31/07/2025, Lương Ngọc Thân K điều khiển xe
mô tô nhãn hiệu Winer X, chưa có biển số (sau này được đăng ký biển s43AA-
162.29) chở theo sau chị Đỗ Thị Ý N (K và chị N có mi quan hệ là đng nghiệp)
đi từ thôn A, xã B, thành phố Đà Nẵng hướng về khu du lịch Bà N (nơi làm việc)
thuộc thôn A, xã B với tốc độ khoảng 40 km/h. Khi lưu thông trên đường dẫn vào
Khu D đoạn thuộc thôn A, xã B, thành phố Đà Nẵng, đây là đoạn đường quanh co,
đèo dốc, nhưng do không chú ý quan sát phía trước, không giảm tốc độ và điều
khiển xe bằng một tay nên K điều khiển xe tông vào bồn câyn phải lề đường
theo hướng lưu thông dẫn đến tai nạn giao thông làm chị Đỗ Thị Ý N tử vong tại
hiện trường, xe mô tô bị hư hỏng.
Tang vật tạm giữ: 01 (một) xe mô hiệu Winner chưa gắn biển số; 01 Giấy
phép lái xe hạng A1 mang tên Lương Ngọc Thân K; 01 giấy chứng nhận đăng
xe mô tô, xe gắn máy số 4300018541; tên chủ xe: Lương Ngọc Thân K.
Kết quả xét nghiệm Lương Ngọc Thân K âm tính với chất ma tuý trong thể
và nồng độ cồn trong máu là 0,000 mg/L.
Tại Kết luận giảm định tử thi số 684/KLGĐTT-KTHS ngày 13/08/2025 của
Phòng K1 Công an thành phố Đ kết luận: Tử thi Đỗ Thi Ý N1 chết do chấn
thương sọ não.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện:
- Nơi xảy ra vụ tai nạn tại đoạn đường gần trụ điện chiếu sáng ký hiệu CS17T7
của đường DT602 thuộc thôn A, xã B, thành phố Đà Nẵng.
- Đường DT602 đường một chiều theo hướng Quốc lộ A đi vào khu du lịch
Bà Nà H2.
- Đoạn đường xảy ra tai nạn được chia thành 03 làn đường, chiều rộng mỗi làn
lần lượt làn 1: 1,7 mét, làn 2: 3,75 mét, làn 3: 1,5 mét; làn 1 làn 2 được phân
3
cách bởi vạch kẻ đường liên tục màu trắng, làn 2 và làn 3 được phân cách bằng
vạch kẻ đường không liên tục màu trắng.
- Đoạn đường này được trải nhựa, dốc đi lên, và cong hướng phải.
- Chọn trụ điện chiếu sáng CS17T7 làm mốc mép lề đường bên phải làm
mép chuẩn, tiến hành ghi nhận các dấu vết như sau:
+ Trụ điện chiếu sáng CS17T7 nằm trên lề đường bên phải và cách mép chuẩn
là 0,55 mét.
+ Trên lđường bên phải 01 bồn cây xanh, được xây bằng gạch, vữa,
hình vuông, cao 15 cm, tại góc thứ nhất vết bể gạch bong tróc lớp vữa kích
thước 15x7cm, tâm vết cách điểm mốc 6,7 mét cách mép chuẩn 0,15 mét.
Ký hiệu vết số 1.
+ Trên mặt đường nhựa vết y xước không liên tục dài 1,4 mét, đầu vết
cách vết số một là 4,4 mét và cách mép chuẩn là 0,37 mét, cuối vết cách mép chuẩn
là 0,45 mét. Ký hiệu vết số 2.
+ Dọc theo mép chuẩn một tử thi nữ giới nằm ngửa, đầu xoay vhướng
đường quốc lộ 1A hơi chếch về lề đường, hai chân tử thi hướng về khu du lịch
N, đỉnh đầu tử thi cách đầu vết số 2 0,8 mét cách mép chuẩn 0,23 mét,
chân tử thi cách mép chuẩn là 0,2 mét. Ký hiệu số 3.
+ Trên lề đường phát hiện mảnh nhựa màu đen, m mảnh nhựa cách vết số
một là 4,3 mét và cách mép chuẩn là 1,25 mét. Ký hiệu số 4.
+ Trên mặt đường nhựa và xếp sát mép chuẩn một chiếc xe mô tô, dựng
bằng chân chống bên, xe mô tô không có biển số. Màu đen, nhãn hiệu H4, xe mô tô
dựng theo mép chuẩn đầu xe hướng về khu du lịch H2 tâm trục bánh sau
xe mô tô cách đầu vết số 2 là 3,7 mét.
Kết quả khám nghiệm phương tiện thể hiện:
Vết 1: Mặt ngoài manh trắng gió, bên phải hai vùng trầy xước mài mòn
nhựa kích thước lần lượt là 16 x 4,5cm và 19 x 5cm.
Vết 2: Vành bánh xe trước bị bể vỡ, rời ra khỏi vị trí ban đầu, kích thước vùng
bể v36 x 4cm tương ứng mặt ngoài cảng trước bánh xe này bị trầy xước kích
thước 7 x 7cm.
Vết 3: Mặt ngoài đoạn hai phần ba trước của ống xả bị trầy xước m lún móp
kích thước 30 x 10cm, tâm cách đất 24cm tương ứng ốp bảo vệ ống xả bị bể vỡ, rời
ra khỏi vị trí ban đầu.
Vết 4: Ốp nhựa bảo vệ thân xe bên phải hai vùng bị trầy xước mài mòn
nhựa kích thước lần lượt là 14 x 7cm 4,5 x 2,5cm.
Trong quá trình điều tra, quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Lương Ngọc
Thân K 01 (một) xe hiệu Winner 01 giấy chứng nhận đăng xe mô tô,
xe gắn máy số 4300018541.
4
Sau vụ tai nạn giao thông, Lương Ngọc Thân K đã bồi thường cho gia đình bị
hại số tiền 255.000.000đ (hai trăm m mươi lăm triệu đồng). Đại diện gia đình b
hại ông Nguyễn Văn Tịnh T4 đơn bãi nại dân sự xin giảm nhhình phạt cho
bị cáo.
Với nội dung như trên, tại Bản án hình sự thẩm số 26/2026/HS-ST ngày
06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng đã quyết định:
Căn c vào điểm a khoản 1 Điều 260, c điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều
51, khoản 3 Điều 54, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng
Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị o Lương Ngọc Thân K phạm tội “Vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Lương Ngọc Thân K 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành
hình phạt tù tính từ ny bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Bản án thẩm n tuyên về xử vật chứng, án phí và thông báo
quyền kháng cáo bản án.
Ngày 12/02/2026, bị cáo Lương Ngọc Thân K đơn kháng cáo Bản án
thẩm, bị cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo
theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát có quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về thtục ttụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Lương Ngọc Thân K đầy đủ
nội dung theo thủ tục kháng cáo trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp
lệ.
Về nội dung: Xét nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Lương Ngọc Thân K
thấy rằng: Bản án hình sự thẩm số 26/2026/HS-ST ngày 06/2/2026 ca Tòa án
nhân dân khu vực 4, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Lương Ngọc Thân K về
tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều
260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng
đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo mức hình phạt 09 tháng tù giam là phù
hợp. Tuy nhiên, xét thấy trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã bồi
thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng và đại diện bị hại có đơn
đề nghị a án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo hưởng án treo; mặt khác bị cáo
nhân thân tốt, hiện lao động chính trong gia đình, đang nuôi hai con nhỏ
mẹ già yếu. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị
cáo được hưởng án treo.
Bị cáo không tranh luận, mong Hội đồng xét xử xem xét về điều kiện hiện nay
của bị cáo là trụ cột chính trong gia đình, đang nuôi hai con còn nhỏ và mẹ gyếu;
vợ không công việc ổn định; bị cáo luôn hợp tác trong quá trình điều tra; tích
5
cực bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 455.000.000 đồng và được gia đình
bị hại đnghTòa cấp phúc thẩm cho bị cáo hưởng án treo. Vì vậy, bị cáo mong
Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh
tụng tại phiên toà, Hi đồng xét xử nhn định như sau:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử thẩm, bị cáo Lương Ngọc Thân K đơn
kháng cáo trong hạn luật định, theo đúng quy định tại các Điều 331, Điều 332
Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lương Ngọc Thân K
đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù
hợp với các chứng cứ, tài liệu trong hồ vụ án, cũng như tranh tụng tại phiên
tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 31/7/2025, bị cáo Lương Ngọc Thân K điều
khiển xe nhãn hiệu Winner (sau tai nạn thì được đăng biển kiểm soát
43AA-162.29 do Khai đứng tên) chở theo sau chị Đỗ Thị Ý N. Khi đến đoạn đường
dẫn vào Khu D tại thôn A, B thuộc đoạn đường dốc, quanh co nhưng bị cáo
không chú ý quan sát phía trước, không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn, điều khiển
xe bằng một tay nên đã tông vào bồn y bên phải lđường theo hướng lưu thông
dẫn đến tai nạn giao thông làm chị N chấn thương sọ não và tử vong tại chỗ.
Với hành vi u trên, Bản án hình sự thẩm 26/2026/HS-ST ngày
06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo
Lương Ngọc Thân K về tội “Vi phạm quy định vtham gia giao thông đường bộ”
theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thì thấy:
Hành vi của bị cáo Lương Ngọc Thân K đã xâm phạm đến tính mạng, sức
khỏe ca người khác, không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn hội
còn m ảnh hưởng đến tình hình trật tự về an toàn giao thông đường bộ tại địa
phương nên cần phải xử phạt nghiêm để giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng
ngừa chung cho hội. Căn cứ vào hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Tòa
án cấp sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 09 tháng tù giam phù hợp. Tuy nhiên, sau khi
xét xử thẩm, bị cáo đã tự nguyện tiếp tục bồi thường số tiền 200.000.000 đồng
cho gia đình bị hại. Đồng thời, ngày 25/3/2026, ông Nguyễn Văn Tịnh T4 - đại
diện gia đình bị hại, có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
được hưởng án treo. Đây các tình tiết giảm nhquy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ
luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo. Tại phiên toà hôm nay, bị
cáo thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tích cc bồi thường
thiệt hại cho bị hại, lao động chính trong gia đình, nuôi m già hai con con
6
nhỏ; bị cáo nơi trú làm việc ràng; chấp hành chính sách, pháp luật đầy
đủ tại địa phương. Mặc bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi điều
khiển xe không có chứng nhận đăng ký xe và không gắn biển số xe, tuy nhiên hành
vi này xảy ra cùng thời điểm của vụ án, nên không xác định bị cáo là người có nhân
thân xấu. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 2 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP
ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, bị cáo đủ
điều kiện hưởng án treo đồng thời để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với
bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, cho bị
cáo được hưởng án treo như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
[4] Các phần khác của bản án thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
hiệu lực pháp luật.
[5] Do chấp nhận kháng cáo của bị cáo nên bị o K không chịu án phí hình
sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
I. Căn cứ vào: điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355 Điều 357 của Bộ luật tố
tụng hình sự;
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Ngọc Thân K, sửa Bán án hình sự
thẩm s26/2026/HS-ST ngày 06/02/2026 của Toà án nhân dân khu vực 4 - Đà
Nẵng về hình phạt.
2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lương Ngọc Thân K 09 (chín) tháng nhưng cho hưởng án
treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử
thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày
15/5/2026.
Giao bị cáo Lương Ngọc Thân K cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố
Đà Nẵng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi
nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành ánh hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án th
quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án
treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải
chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới
theo quy định của Bộ luật hình sự.
II. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố
tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
7
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mc thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Lương Ngọc Thân K không chịu án phí hình sự phúc thẩm.
III. Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lc pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
IV. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Toà án nhân dân tối cao;
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
- Phòng HSNV-CATP Đà Nẵng (PV 27);
- CQCSĐT Công an thành phố Đà Nẵng ;
- TAND khu vực 4 - Đà Nẵng ;
- VKSND khu vực 4 - Đà Nẵng
- Phòng THA khu vực 4 - Đà Nẵng;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Thái Thị Phi Yến
Tải về
Bản án số 134/2026/HS-PT Bản án số 134/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 134/2026/HS-PT Bản án số 134/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất