Bản án số 284/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 284/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 284/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 284/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 284/2026/DS-PT
Ngày 20 - 5 - 2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Ngọc Minh.
Các thẩm phán: 1. Ông Trần Minh Quang;
2. Ông Lý Thơ Hiền.
- Thư ký phiên toà: Nguyn Th Khánh Chi Thm tra viên Tòa án nhân
dân tỉnh Đắk Lk.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đắk Lk tham gia phiên tòa:
Trn Th Xuân Linh Byă - Kim sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai ván dân sự phúc thẩm thụ số: 96/2026/DS PT ngày
19/3/2026 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân s thẩm số: 43/2025/DS-ST ngày 09/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 242/2026/QĐ-PT ngày 29
tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trn Th Như Q; địa ch: A L, phường T, tỉnh Đắk Lk
(vng mt).
Người đại din theo y quyn:
+ Ông Bùi Trng T; địa ch: Khu ph D, phường Đ, tỉnh Đắk Lk (có đơn xin
xét x vng mt).
2
+ Ông Nguyn Quc P; địa ch: Thôn T, xã T, tỉnh Đắk Lk (vng mt)
- B đơn: Nguyn Anh T1; địa ch: A T, phường B, tỉnh Đk Lk (vng
mt)
Người đại din theo y quyn: Bà Nguyn Th Ái L; địa ch: T dân ph F Đ,
phưng N, tỉnh Hà Tĩnh (có mt).
Địa ch liên h: 257A 14 N, khu dân C hills, phường G, thành ph H Chí
Minh.
- Ngưi có quyn lợi nghĩa v liên quan:
+ Bà Nguyn Th Ly S; địa ch: B T, phường T, tỉnh Đắk Lk (vng mt)
Người đại din theo y quyn: Ông Nguyn Tun N; địa ch: 1 L, phưng T,
tỉnh Đắk Lk (có đơn xin xét xử vng mt)
+ Bà Nguyn Th V; địa ch: Thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lk (vng mt);
+ Ông Trn Văn T2; địa ch: A T, phường B, tỉnh Đắk Lk (vng mt)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Văn N1; địa chỉ: Khu G, Y, H, tỉnh
Phú Thọ và bà Nguyễn Thị Anh Đ; địa chỉ: Thôn T, T, tỉnh Lâm Đồng (ông N1
vắng mặt, bà Đ có mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Anh T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Trần Thị Như Q người đại diện theo ủy quyền ông Bùi
Trọng T trình bày:
Ngày 23/10/2023, Q đưa cho S D ruột số tiền 650.000.000 đồng
để cho T1 mượn. Mục đích đkinh doanh. Nguyễn Anh T1 đã trực tiếp
viết Giấy mượn tiền và xác nhận nợ cam kết nếu không hoàn trả số tiền
trên thì Trần Thị Như Q có quyền tịch thu tài sản của bà T1 tương đương với số
tiền đã mượn nói tn. Nếu sai trái T1 xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
trước pháp luật. Theo thỏa thuận miệng thì thời hạn trả 01 tháng, nhưng sau đó
T1 không trả. Q liên hệ đòi nợ nhS trực tiếp đòi nợ vợ chồng
T1, ông T2. Nên vào ngày 07/02/2024, ông T2 chồng T1 chuyển khoản
cho bà Nguyễn Thị Ly S trả số tiền 10.000.000 đồng và đưa lại cho bà Q
10.000.000 đồng nói là số tiền ông T2 trả. Nay bà Nguyễn Anh T1 còn nợ
640.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi từ ngày thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử vụ án
với mức lãi suất là 10%/năm.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
3
Giữa T1 Q không hề sự thỏa thuận vay mượn tiền như đại diện
nguyên đơn trình bày. Bà T1 không biết bà Q là ai, chưa từng gặp mặt. Giấy mượn
tiền ngày 23/10/2023, T1 viết mượn tiền của Trần Thị Như Q do Nguyễn
Thị V nhờ vả, hướng dẫn. giữa V bà T1 mối quan hệ thân thiết chị
em lâu năm nên thường xuyên giúp đnhau về mặt tài chính tinh thần. Khoảng
cuối năm 2023, V chia sẻ muốn vào TP . sinh sống nhưng vẫn còn nợ tiền của
Q nên không thể đi được. Cùng thời điểm đó, bà T1 đang vay một số tiền nhỏ
của V, nên V nhờ T1 viết giấy mượn tiền cho Q, để V thể di
không bị Q cản trở. Rất nhiều lần T1 từ chối viết giấy mượn tiền này
lý do bà T1 không vay mượn tiền của bà Q chồng của bà T1 cũng không đồng ý
yêu cầu V đưa ra. Sau đó, dưới sự năn nỉ V, T1 cảm thấy đồng cảm
một phần trách nhiệm đang mượn tiền bà V, nên T1 mới viết giấy mượn tiền
Q, theo sự hướng dẫn của V. Trước đây, người đại diện theo ủy quyền của
Nguyễn Anh T1 ông Văn N1, bà Nguyễn Thị Anh Đ trình bày. Đề nghị Tòa
án trả lại đơn khởi kiện của Q chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của
pháp luật tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Nay người đại
diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị Ái L trình bày không đồng ý yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan bà Nguyễn Thị Ly S trình bày:
S Trần Thị Như Q họ hàng, Q gọi S là dì. Trong làm ăn kinh
doanh S quen biết với Nguyễn Thị V. Năm 2023, V giới thiệu vợ
chồng người bạn là bà Nguyễn Anh T1 và ông Trần Văn T2 cần mượn tiền để kinh
doanh. Nên ngày 23/10/2023, tại nhà của vợ chồng T1, ông T2 trên đường H.
S đưa cho vợ chồng T1 mượn số tiền là 650.000.000 đồng. S nói số
tiền này của cháu gái Trần Thị Như Q cho mượn S không sẵn số
tiền lớn tại thời điểm lúc đó. Tại thời điểm mượn tiền, bà S cũng nói vấn đề
này với vợ chồng T1, T2 bà T1 đã đồng ý viết Giấy mượn tiền của Trần Thị
Như Q. Nay T1 thông qua người đại diện theo ủy quyền cho rằng T1 không
mượn tiền là không đúng, cố tình né tránh việc trả nợ. Mặt khác, nếu không có việc
mượn tiền thì tại sao chồng T1 ông T2 vào ngày 07/02/2024 chuyển vào
tài khoản của bà S số tiền 10.000.000 đồng để trả nợ. Sau đó, bà S đưa lại cho bà Q
10.000.000 đồng. T1 phải trả cho cháu tôi Trần Thị Như Q số tiền
4
640.000.000 tiền gốc theo Giấy mượn tiền ngày 23/10/2023 theo đúng quy định
của pháp luật.
Tại đơn trình bày ý kiến xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V trình bày:
V với bị đơn Nguyễn Anh T1 chỉ quan hệ đối tác với khách hàng.
V nhân viên Ngân hàng từng làm hồ các khoản vay của vợ chồng T1, T2
tại Ngân hàng. Thời điểm năm 2023, vợ chồng T1 cần tiền để kinh doanh và
V có giới thiệu cho vợ chồng bà T1 gặp bà Nguyễn Thị Ly S để mượn tiền. Sự việc
ngày 23/10/2023, V dẫn S đến công ty vợ chồng T1 trên đường H,
thành phố T để làm việc về khoản tiền 650.000.000đồng. Bà V chứng kiến bà S
nói số tiền cho T1 mượn tiền của cháu gái S chị Q. Do đó T1
viết giấy mượn tiền xác nhận nợ của chị Q số tiền 650.000.000đồng (sáu trăm
năm mươi triệu đồng). Nội dung trình bày của đại diện bị đơn không đúng sự
thật. Bà V khẳng định giữa bà V với bà T1 không có quan hệ thân thiết đến mức bà
T1 phải viết giấy nhận nợ dùm V giữa V, Q, S cũng không nợ
nần . Nguyễn Anh T1 viết giấy mượn tiền và xác nhận nợ lúc đó V
chứng kiến làm chứng việc này. Giao dịch mượn tiền của T1 với Q
thật. Bà cũng không liên quan gì và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án và cho phép bà
vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. V cam đoan chịu trách nhiệm pháp
luật về những lời trình bày trên đây là đúng sự thật.
Đại diện theo ủy quyền của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Trần Văn T2 trình bày:
Tại Biên bản hòa giải trước đây, người đại diện theo ủy quyền của ông ông
Trần Văn T2 Nguyễn Thị Ái L trình bày: Đại diện của nguyên đơn trình
bày ông T2 đã chuyển khoản trả số tiền 10.000.000 đồng cho bà S, không biết việc
chuyển khoản giữa ông T2 S liên quan đến ông T2. Nay, người đại diện
theo ủy quyền của ông Trần Văn T2 ông Văn N1 trình bày: bà Nguyễn Anh T1
dùng điện thoại của ông T2 để chuyển khoản trả cho bà Nguyễn Thị Ly S
10.000.000 đồng. Sử dụng vào mục đích gì là không rõ.
Tại bản án thẩm số 43/2025/DS-ST ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân
khu vực 11 – Đắk Lắk đã quyết định:
5
Áp dng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điu 91 B lut t tng dân sự; Các điều 357, 463, 466, 468, 469 B lut dân s
năm 2015;
Tuyên x:
Chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn bà Trn Th Như Q.
Buc b đơn Nguyn Anh T1 phi tr cho nguyên đơn Trn Th Như Q
số tiền gốc lãi 719.822.000 đồng (Bảy trăm mười chín triệu tám trăm hai
mươi hai ngàn đồng). Trong đó gốc 640.000.000đồng và lãi 79.822.000 đồng.
Kể từ ngày nguyên đơn đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án
theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số
tiền và thời gian chưa thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các
đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/9/2025 bị đơn Nguyễn Anh T1 đơn kháng cáo với nội dung:
Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn ginguyên đơn khởi kiện, bị đơn
vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử các đương sự đã chấp hành đúng
các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
V nội dung: Qua phân tích đánh giá các tài liu, chng c trong h vụ
án tranh tng tại phiên tòa, đi din Vin kim sát cho rằng: Căn c vào các tài
liu chng c đã được thu thp trong h vụ án, xét thấy không căn c để
chp nhận đơn kháng cáo của b đơn Nguyn Anh T1. Đ ngh HĐXX căn cứ
khoản 1 Điều 308 B lut t tng dân s, không chp nhn kháng cáo ca b đơn
và gi nguyên án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liu trong h sơ vụ án đã được thm tra ti phiên tòa,
căn cứ vào kết qu tranh lun tại phiên tòa trên s xem xét đầy đủ các tài liu,
chng c li trình bày của các đương sự và ý kiến ca Kim sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
6
[1] Vtố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn Nguyễn Anh T1 làm đúng hạn
luật định đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét, giải quyết theo
trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét nội dung kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Anh T1, Hội
đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[2.1] Tại giấy mượn tiền đề ngày 23/10/2023 có nội dung: bà Nguyễn Anh T1
mượn của Trần Thị Như Q số tiền 650.000.000 đồng để kinh doanh. Giấy
mượn tiền nêu trên do T1 trực tiếp viết, tên cam kết chịu trách nhiệm đối
với khoản nợ. Ngoài ra, nội dung giấy mượn tiền còn thể hiện: Nếu không hoàn
trả số tiền trên Trần Thị Như Q quyền tịch thu tài sản của tôi tương đương
với số tiền đã mượn nói trên. Nếu sai trái tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
trước pháp luật(bút lục 694). Bên cạnh đó, quá trình giải quyết vụ án cũng như
tại phiên tòa, bị đơn không tranh chấp về chữ viết, chữ ký trong giấy mượn tiền mà
chỉ cho rằng việc viết giấy mượn tiền là do Nguyễn Thị V nhờ viết giúp, thực tế
không nhận tiền từ bà Q. Tuy nhiên, bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
chứng minh cho lời trình bày này. Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân
sự thì đương sự phản đối yêu cầu của bên kia phải nghĩa vụ chứng minh. Trong
vụ án này, bị đơn không đưa ra được các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho việc
T1 viết giấy vay tiền chỉ để “giúp” bà V hoặc có việc giả tạo trong giao dịch vay
tài sản theo giấy mượn tiền ngày 23/10/2023.
[2.2] Xét Vi bằng số 52/2024/VB-TPL ngày 26/12/2024 bị đơn cung cấp,
HĐXX thấy rằng: Nội dung tin nhắn thể hiện trong vi bằng phản ánh việc trao đổi
tiền bạc giữa bà V và bà T1 trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến tháng 5/2023;
trong khi giấy mượn tiền giữa T1 bà Q được lập ngày 23/10/2023. Nvậy,
về mặt thời gian không sự trùng khớp. Mặt khác, nội dung tin nhắn không thể
hiện việc bà V ép buộc, chỉ đạo hoặc hướng dẫn bà T1 viết giấy nhận nợ cho Q;
cũng không xác định cụ thể người tađược nhắc đến trong tin nhắn ai. Do đó,
không đủ căn cứ để xác định giấy mượn tiền ngày 23/10/2023 giao dịch giả tạo
như bị đơn trình bày. Trong khi đó, quá trình giải quyết vụ án, Nguyễn Thị V
thừa nhận: m 2023, vợ chồng bà T1 cần tiền để kinh doanh nên giới thiệu
cho T1 gặp Nguyễn Thị Ly S để mượn tiền chứng kiến S nói
số tiền cho T1 mượn tiền của cháu gái bà S chị Q, do đó T1 viết
Giấy mượn tiền xác nhận nợ của chị Q số tiền 650.000.000 đồng. Giữa T1
và bà V không có quan hệ thân thiết đến mức bà T1 phải viết Giấy nhận nợ dùm tôi
7
giữa V, Q, S không nợ nần gì. Giao dịch mượn tiền giữa chị Q
T1 thật, số tiền này do S trực tiếp đưa cho T1 mượn. Cam đoan lời
khai chịu trách nhiệm về lời khai của mình” (bút lục 39). Như vậy, lời khai của
V phù hợp với lời khai của Q, S về thời gian giao dịch, về số tiền mượn,
nói số tiền mượn này của Q chứ không phải của S phù hợp với nội
dung của “Giấy mượn tiền” đề ngày 23/10/2023 do bà T1 viết và ký nhận.
[2.3] Bên cạnh đó, sau khi phát sinh khoản vay ngày 23/10/2023 thì ny
07/02/2024, từ tài khoản mang tên ông Trần Văn T2 (chồng T1) có chuyển số
tiền 10.000.000 đồng vào tài khoản của Nguyễn Thị Ly S. Phía bị đơn và người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T2 không giải thích được hợp
căn cứ của việc chuyển tiền này. Tại các giai đoạn tố tụng, phía bị đơn lúc cho rằng
không biết việc chuyển tiền nhằm mục đích , lúc lại trình bày T1 dùng điện
thoại ông T2 để chuyển tiền. Trong khi đó, bà S trình bày đây là khoản tiền phía bà
T1 trả nợ cho khoản vay của bà Q và sau đó bà S đã giao lại cho bà Q.
[2.4] Đối với khoản tiền lãi: Xét thấy tại giấy mượn tiền đề ngày 23/10/2023
không thể hiện thời hạn vay không thỏa thuận vlãi suất nên cấp thẩm
xác định đây hợp đồng vay không kỳ hạn, không lãi là phù hợp với khoản 1
Điều 469 Bộ luật n sự m 2015. Việc cấp thẩm căn cứ theo hướng dẫn tại
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao để xác định thời điểm bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ sau thời gian hợp lý
là 03 tháng tính từ ngày bị đơn biết việc Tòa án thụ lý vụ án để tính lãi là đúng quy
định pháp luật.
[3] T nhng phân tích trên, Hi đồng xét x xét thy a án cp sơ thm đã
đánh giá đúng bn cht v vic, áp dng đúng các quy định ca pháp lut khi chp
nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, ni dung kháng cáo ca b đơn không
có căn c để chp nhn.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị
đơn bà Nguyễn Anh T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
8
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
án phí, lệ phí Tòa án
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Anh T1. Giữ nguyên bản
án dân sự thẩm số: 43/2025/DS-ST ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 11– Đắk Lắk.
Tuyên xử:
Chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn bà Trn Th Như Q.
Buc b đơn Nguyn Anh T1 phi tr cho nguyên đơn Trn Th Như Q
số tiền gốc lãi 719.822.000 đồng (Bảy trăm mười chín triệu tám trăm hai
mươi hai ngàn đồng). Trong đó gốc 640.000.000đồng và lãi 79.822.000 đồng.
Kể từ ngày nguyên đơn đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án
theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số
tiền và thời gian chưa thi hành án.
[2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyễn Anh T1 phải chịu 300.000đ án
phí dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ 300.000đ tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm
đã nộp theo Biên lai số 0001875 ngày 08/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk
Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TANDCC;THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 11;
- Phòng THADS khu vực 11;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án. Lê Ngc Minh
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
9
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT X
Lý Thơ Hiền Trn Minh Quang
10
Tải về
Bản án số 284/2026/DS-PT Bản án số 284/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 284/2026/DS-PT Bản án số 284/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất