Bản án số 650/2026/DS-PT ngày 20/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 650/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 650/2026/DS-PT ngày 20/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 650/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSDĐ giữa nguyên đơn bà Trần Thị Đ và bị đơn ông Lâm Văn K
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 650/2026/DS-PT Bản án số 650/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 650/2026/DS-PT Bản án số 650/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 650/2026/DS-PT
Ngày: 20/7/2026
V/v: tranh chấp QSDĐ.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ánh Bình
Các Thẩm phán: Phạm Thị Hồng Hà
Ông Lê Minh Đạt
- Thư phiên Tòa: bà Nguyễn Phúc Thư Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Ngọc Phấn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 287/2026/TLPT-DS ngày 28 tháng
4 năm 2026 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án n sự thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 13 – Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 571/2026/QĐ-PT
ngày 10 tháng 6 năm 2026, giữa:
- Nguyên đơn: bà Trần Thị Đ, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp B, H, tỉnh
Vĩnh Long (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Trần Minh T, sinh năm
1968. Địa chỉ: ấp Đ, xã H, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy quyền ngày
20/6/2026) (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật
Nguyễn Vĩnh B (Trung tâm tư vấn pháp luật Trà Vinh - Hội luật gia tỉnh V) (có
mặt) Luật Thái Săm B1 (Văn phòng L) thuộc đoàn Luật tỉnh V (
mặt).
- Bđơn: ông Lâm Văn K, sinh năm 1956. Địa chỉ: ấp T, V, tỉnh Vĩnh
Long (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn là bà Tiêu Thị N, sinh năm 1959. Địa
chỉ: ấp T, V, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy quyền ngày 22/6/2026) (
mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1966 (vắng mặt)
2. Lý Thị T1, sinh năm 1963 ( vắng mặt)
2
Cùng địa chỉ: ấp Trà Cuôn, xã Vinh Kim, tỉnh Vĩnh Long
3. Anh Nguyễn Thành P, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp H, H, tỉnh Vĩnh
Long (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của ông Đ1, T1, anh P ông Trần Minh T,
sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp Đ, H, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy quyền
ngày 13,14/7/2026) (có mặt)
4. Anh Lâm Hốc S, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: B3-3.16C/c G, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh
5. Chị Lâm Thị M, sinh năm 1984. Địa chỉ: 1 B, phường B, Thành phố Hồ
Chí Minh (vắng mặt).
6. Bà Tiêu Thị N, sinh năm 1959 ( có mặt)
7. Anh Lâm Quốc T2, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long
Người đại diện hợp pháp của anh S, chị M1 anh T2 Tiêu Thị N,
sinh năm 1959. Địa chỉ: ấp T, V, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy quyn
ngày 18, 22/6/2026) (có mặt).
8. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Vĩnh Long - Ông Đường Thế B2.
Địa chỉ: ấp C, xã V, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin vắng mặt).
Người kháng cáo: bà Trần Thị Đ là nguyên đơn;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/2019 của nguyên đơn Trần Thị Đ
tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn trình bày:
Thửa đất số 1148, diện tích 1751m
2
, tờ bản đồ số 3, loại đất trồng lúa, tọa
lạc ấp T, K, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay ấp T, V, tỉnh Vĩnh Long)
nguồn gốc là của bà Phan Thị P1 (K1) chuyển nhượng cho bà vào năm 2011 với
tổng diện tích 5.310m
2
. Lúc bán đất K1 không chỉ ranh đất, không đo đạc
cũng không trụ ranh, hai bên sang nhượng hết thửa đất trên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận chuyển nhượng thì đứng tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng cha, mẹ Thị T1 ông Trần
Văn Đ1 người trực tiếp canh tác. Năm 2015, N ông K phần đất lúa
giáp ranh đất của hỏi xin cha mẹ của diện tích 150m
2
đlàm đường đi
ra kinh. Sau khi đo đất, tách thửa theo bờ đi hiện thì diện tích 1751m
2
vậy không đồng ý, phần đất này đứng tên nhưng phía N, ông K canh
tác, sử dụng. Nay yêu cầu ông Lâm Văn K trả lại diện tích đất tranh chấp
thực đo là 1737m
2
, thuộc thửa 1148, tờ bản đồ số 3, loại đất trồng lúa, tọa lạc ấp
T, K, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay ấp T, V, tỉnh Vĩnh Long) cho gia
đình bà sử dụng.
- Tại bản khai ngày 15/7/2019 (BL58) trong quá trình giải quyết vụ án
bị đơn ông Lâm Văn K trình bày:
Vào năm 1996, ông sang nhượng của Kiên Thị H hai phần đất, một
phần đất ruộng diện tích 6210m
2
, thửa đất số 80, tờ bản đsố 3, tọa lạc tại ấp T,
K, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay ấp T, V, tỉnh Vĩnh Long) một phần
3
đất nền chòi liền kề với đất của bà Phan Thị P1 (không phải K1), sau đó
đến năm 2005 hai bên mới làm giấy tay sang bán phần đất nền ông Kiên T3
em của Kiên Thị H tên và Trưởng ban nhân dân ấp xác nhận, sau đó
ông cải tạo phần đất nền này thành đất ruộng canh tác cho đến nay. Phần đất
ruộng ông mua của H, ông đã làm thủ tục tách thửa sang tên xong, còn phần
đất nền sau này ông mới biết P1 đứng tên. Đến năm 2011, P1 bán đất
cho Đ, ông gặp P1 thì P1 cho rằng không bán phần đất nền ông
đang sử dụng cho Đ Đ cũng không ý kiến gì. Năm 2015, ông tiến
hành làm thủ tục hợp thửa đất thì ông mới phát hiện phần diện tích đất nền
của ông đang sử dụng từ trước đến nay do Đ đứng tên. Sau đó ông và cha mẹ
Đ Thị T1, ông Trần Văn Đ1 thỏa thuận tách thửa phần đất nền và
ông Đ1, T1 đồng ý nên ông bà Đ hợp đồng chuyển nhượng phần đất
nói trên, ông đến Văn phòng Đ2 đóng tiền để làm thủ tục tách thửa thì ông Đ1,
T1 Đ không thống nhất cho rằng ông chiếm đất của gia đình Đ
nên gia đình Đ không đồng ý sang tên thửa đất trên cho ông. Nay ông không
đồng ý theo yêu cầu của Đ, ông yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thửa số 1148, diện tích 1751m
2
(thực đo 1737m
2
), tờ bản đồ số 3,
loại đất trồng lúa, tọa lạc ấp T, K, huyện C, tỉnh Trà Vinh do Trần Thị Đ
đứng tên quyền sử dụng đất yêu cầu công nhận phần diện tích đất này cho
ông.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Đ1, bà Thị T1,
anh Nguyễn Thành P lời trình bày thống nhất như lời trình bày của
Trần Thị Đ, không trình bày gì thêm.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Tiêu Thị N, anh Lâm Hốc S,
chị Lâm Thị M, anh Lâm Quốc T2 lời trình bày như lời trình bày của ông
Lâm Văn K, không trình bày gì thêm.
Tại bản án dân sự thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Vĩnh Long đã quyết định:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Thị Đ về việc yêu cầu
bị đơn ông Lâm Văn K trả lại phần đất diện tích thực đo 1737,0m
2
, thuộc thửa
1148, tờ bản đồ số 3, loại đất trồng lúa, tọa lạc ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long do bà
Trần Thị Đ đứng tên quyền sử dụng đất để bà canh tác, sử dụng.
2. Công nhận phần đất diện ch thực đo 1737,0m
2
, thuộc thửa 1148, tờ
bản đồ số 3, loại đất trồng lúa, tọa lạc ấp T, V, tỉnh Vĩnh Long thuộc quyền
sử dụng của bị đơn ông Lâm Văn K. (Phần đất ch thước tứ cận theo đồ
khu đất kèm theo Công văn số 129/CV-CNHCN, ngày 12 tháng 7 năm 2019 của
Văn phòng Đ2 Chi nhánh huyện C nay Chi nhánh Văn phòng đăng đất
đai Khu vực 15- Vĩnh Long)
3. Đề nghị quan thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho bị đơn ông Lâm Văn K theo Quyết định của Bản án khi có hiệu lực
pháp luật.
4. Ông Lâm Văn K nghĩa vụ liên hệ với quan thẩm quyền để
thực hiện nghĩa vụ tài chính và thực hiện các thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với diện tích 1737,0m
2
, thuộc thửa 1148, tờ bản đồ số 3,
4
loại đất trồng lúa, tọa lạc ấp T, V, tỉnh Vĩnh Long theo quy định của pháp
luật.
Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các
đương sự theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị Đ kháng cáo yêu cầu hủy
toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn trình bày nội dung kháng cáo:
Tại phiên tòa hôm nay bà Trần Thị Đ thay đổi nội dung kháng cáo, không
yêu cầu hủy án bản án sơ thẩm mà yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông K bà N phải trả lại cho
nguyên đơn thửa đất s1148, tờ bản đồ số 3, diện tích 1737,0m
2
, loại đất trồng
lúa, tọa lạc ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long.
Tiêu Thị N đại diện cho ông K cũng người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trình bày:
Vào năm 1996 ông K mua thửa đất số 80, diện tích 6200m
2
đất
trồng lúa của bà Kiên Thị H và thửa đất này bà đã nhập vào thửa đất khác của bà
và hiện nay thành thửa 1169, diện tích 8360m
2
, đất trồng lúa, ông K đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sdụng đất. Đến năm 2005 phát hiện phần đất mua
của bà H còn phần đất gò cao chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nên bà và ông K đến nhờ bà H lập giấy sang đất nền đề ngày 17/42005 và bà cho
rằng phần đất nền là thửa đất đang tranh chấp 1148. Nay bà không đồng ý kháng
cáo của nguyên đơn, thống nhất với bản án thẩm. thửa đất tranh chấp
mua của H từ năm 1996, nhưng năm 2005 mới làm giấy tay sang đất nền,
canh tác 30 năm nay, do đó không đồng ý trả thửa đất 1148 cho nguyên đơn.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa đã thực hiện
đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng đầy đủ, quyền và nghĩa vụ tố
tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: căn cứ Điều 148, khoản 3 Điều 308 Bluật tố tụng dân sự
năm 2015; Điều 29, Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng áp
phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Đ.
- Hủy Bản án dân sự thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 06/3/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long chuyển hồ vụ án cho Tòa án nhân
dân khu vực 13 - Vĩnh Long giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị Đ không phải chịu án pdân sự
phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, do kháng cáo được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
5
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Đơn kháng cáo của nguyên đơn Trần Thị Đ làm trong hạn luật
định đúng trình tự thủ tục Bộ luật tố tụng dân sự quy định nên Hội đồng
xét xử chấp nhận giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Tại phiên Tòa người đại diện hợp pháp của Trần Thị Đ thay đổi
nội dung kháng cáo, không yêu cầu hủy án sơ thẩm, yêu cầu sửa án sơ thẩm theo
hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy việc thay đổi nội
dung kháng cáo của nguyên đơn phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 284 của Bộ
luật tố tụng dân sự, không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp:
Theo công văn số 32/CNHCN ngày 28/02/2024 của chi nhánh văn phòng
đăng ký đất đai huyện Đ2 (nay là Chi nhánh VPĐKĐĐ khu vực 15 -Vĩnh Long)
ghi nhận: Theo Đơn đăng ký quyền sử dụng đất bà Phan Thị P1:
+ Tbản đồ III-3, số thửa 82, diện tích 5310m
2
, loại đất hoang, tọa lạc ấp T,
K, huyện C, tỉnh Trà Vinh (đính kèm Đơn xin đăng quyền sử dụng đất năm
1995).
+Tư liệu năm 1995, thửa 82, tờ bản đồ số 3, diện tích 5310m
2
, loại đất
hoang, khai trong sổ mục Phan Thị P1 đứng tên (đính m sổ mục đất
đai).
+Thửa số 82, tbản đồ số 3, diện tích 5310m
2
, loại đất hoang, tọa lạc ấp
T, K, huyện C, tỉnh TVinh được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ
Phan Thị P1 năm 1996 (đính kèm số ký nhận).
Năm 2011 bà Trần Thị Đ nhận chuyển nhượng từ bà Phan Thị P1 thửa đất
số 82, tờ bản đồ số 3, diện tích 5310m
2
, loại đất hoang, tọa lạc ấp T, xã K, huyện
C, tỉnh Trà Vinh ( đính kèm hồ sơ).
Năm 2015 bà Trần Thị Đ thực hiện thủ tục chuyển mục đích từ đất hoang
sang đất trồng lúa tại thửa số 82, tờ bản đồ số 3, diện tích 5310m
2
, tọa lạc ấp T,
xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh ( đính kèm hồ sơ).
Năm 2015 Trần Thị Đ thực hiện thủ tục tách thửa đất số 82 nêu trên
thành 02 thửa: thửa 1148, tờ bản đồ số 3, diện tích 1751,0m
2
thửa 1149, tờ
bản đồ số 3, diện tích 3559m
2
.
Như vậy thửa đất đang tranh chấp 1148, tờ bản đồ số 3, diện tích
1751,0m
2
, loại đất trồng lúa nguồn gốc của Phan Thị P1, năm 2011 P1
chuyển nhượng cho Trần Thị Đ, Đ được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh
Trà Vinh ( nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Quá trình Đ nhận chuyển nhượng của P1, đến khi Đ chuyển mục đích
sử dụng từ đất hoang thành đất trồng lúa và tách thành 02 thửa 1148 1149
cũng không ai ngăn cản, tranh chấp. Đ người được quyền sử dụng đất
theo quy định tại Điều 166 Luật đất đai năm 2013.
[4]. Xét việc ông Lâm Văn K trình bày, ông nhận chuyển nhượng thửa
đất đang đất tranh chấp của Kiên Thị H vào năm 1996 sdụng ổn định
liên tục cho đến nay. Xét thấy: theo nội dung “Tờ sang đất nền” lập ngày
6
17/4/2005 giữa Kiên Thị H ông Lâm Văn K thì H sang cho ông K một
cái nền chòi, ghi giáp cận, nhưng không thể hiện sang thửa đất nào, diện tích
bao nhiêu, đất đâu, do ai đứng tên quyền sdụng chỉ thể hiện sang đất
nền, không có sang đất trồng lúa.
Hơn nữa tại phiên tòa phúc thẩm, N khai ông K nhận chuyển
nhượng thửa đất số 80 của Kiên Thị H vào năm 1996, diện tích 6200m
2
, sau
đó vợ chồng nhập thửa 80 vào thửa đất khác liền ranh đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thành thửa 1169, t bản đồ số 3, diện tích
8360,0m
2
. Đến năm 2005 thì phát hiện phần đất giáp ranh thửa 1169 không
nằm trong quyền sử dụng đất mà ông K được cấp giấy nên đến gặp Kiên
Thị H kêu viết giấy tay mua bán đất nền đề ngày 17/4/2005. Như vậy thể hiện
năm 1996 Kiên Thị H không chuyển nhượng thửa đất tranh chấp cho ông K,
bà N mà quá trình sử dụng thửa 1169 liền kề với thửa đất tranh chấp thì phía ông
K cho rằng đất phần đất của mình mua của H còn thiếu nên ngày 17/4/2005
đến kêu H viết giấy sang đất nền. N cho rằng bà H viết giấy tay sang đất
nền ngày 17/4/2005 cho ông K đúng vị trí thửa đất đang tranh chấp không
đúng, phần đất tranh chấp không thuộc quyền sử dụng của H thuộc
quyền sử dụng của P1 thửa 82, P1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất vào năm 1996.
[5]. Ngoài ra xét thấy ông Lâm Văn K nhận chuyển nhượng thửa 80, diện
tích 6210m
2
của Kiên Thị H đất trồng lúa, nguyên đơn Đ nhận chuyển
nhượng thửa 82, diện tích 5310m
2
của Phan Thị P1 loại đất khác (đất
hoang). Ranh đất giữa thửa 80 thửa 82 là một đường thẳng, hình thể không
giống thửa đất đang tranh chấp (hình chữ L). Sau khi nhận chuyển nhượng từ bà
P1 thì Đ làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng từ đất hoàng sang đất trồng
lúa. Nếu ông K nhận chuyển nhượng thửa đất tranh chấp của H từ năm 1996
thì tại sao ông K không kê khai, đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền s
dụng đất, cũng không kiện P1 hoặc bà Đ để đòi lại đất. Trong khi đó thửa đất
ông K mua của bà H thửa 80 giáp ranh thửa đất tranh chấp thì ông khai đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài tờ sang đất nền ngày 17/4/2005
thì ông K không cung cấp được chứng cứ chứng minh có nhận chuyển nhượng
thửa đất 1148, diện tích 1737,0m
2
của Kiên Thị H. Do đó bị đơn cho rằng
H chuyển nhượng thửa đất tranh chấp cho ông K là không căn cứ để Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Xét việc ông K khai phần đất tranh chấp do bà Đ đứng tên, nhưng ông
K người sdụng đất nên m 2015 Đ đồng ý chuyển nhượng lại diện tích
đất tranh chấp cho ông K và hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng QSDD và ông
K đã nộp chi phí tách thửa tại Văn phòng đăng quyền sử dụng đất Chi nhánh
huyện C, nhưng sau đó Đ không đồng ý tách thửa nên hợp đồng chuyển
nhượng chưa được công chứng, chứng thực theo quy định. Đ không thừa
nhận sự việc này phía bà Đ trình bày do đồng ý cho ông K, N diện tích
đất 150m
2
đlàm đường đi ra kinh, đồng ý tách thửa cho ông K 150m
2
và giao
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K làm thủ tục tách thửa, nhưng khi
làm thủ tục tách thửa thì ông K ghi vào hợp đồng chuyển nhượng là Đ
7
chuyển nhượng cho ông K hết thửa đất 1148, diện tích 1751,0m
2
nên bà Đ
không đồng ý. Lời trình bày của Đ phợp với đơn khiếu nại của Đ đến
Ban tiếp công dân - VPUBND tỉnh T khiếu nại việc ông K địa chính xã tự ý
tách thửa chiếm dụng của phần đất 1737,0m
2
nên UBND K trả lại giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1148 cho Đ. Do đó ông K cho rằng Đ
đồng ý chuyển nhượng thửa đất tranh chấp cho ông K là không có căn cứ.
[7]. Lời khai của ông K, N không phù hợp với tài liệu chứng cứ
trong hồ vụ án, vì thửa đất tranh chấp số 82, tờ bản đồ số 3, diện tích 5310m
2
Ủy ban nhân dân huyện C đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ
Phan Thị P1 vào năm 1996, Kiên Thị H không kê khai, đăng ký, không được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì H không có quyền chuyển
nhượng đất cho ông K theo quy định tại Điều 3, Điều 73 Luật đất đai năm 1993.
Ông K cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nhận chuyển
nhượng thửa đất 1148 của Kiên Thị H. Tòa án cấp thẩm xác minh thực tế
những người ở gần phần đất tranh chấp và lời khai của bà Trần Thị H1 (con ruột
Phan Thị P1) đxác định việc Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy cho Đ
không đúng quy định công nhận thửa đất 1148 cho ông Lâm Văn K không
đúng quy định của pháp luật về đất đai.
[8]. Ngoài ra bị đơn ông Lâm Văn K không có yêu cầu phản tố công nhận
cho ông K thửa đất số 1148, diện tích 1751,0m
2
, đất trồng lúa, nhưng Bản án
thẩm công nhận thửa đất tranh chấp cho ông K không đúng quy định tại Điều
200 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
Trần Thị Đ, sửa bản án sơ thẩm, buộc ông Lâm Văn K và bà Tiêu Thị N phải trả
lại cho Trần Thị Đ thửa đất số 1148, tờ bản đồ số 3, diện tích 1751,0m
2
, loại
đất trồng lúa do bà Trần Thị Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa
lạc tại ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long.
Xét lời trình bày của Luật bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn n
cứ chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát không phù hợp với nhận định của
Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[9]. Về chi phí tố tụng: căn cứ Điều 157, Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân
sự, buộc bị đơn phải chịu số tiền 3.229.655 đồng, do nguyên đơn đã nộp tạm
ứng trước nên buộc bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 3.229.655 đồng
( làm tròn 3.229.000đ).
[10]. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 26, Điều 27, khoản 2 Điều 29, điểm
đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
-Án phí dân sự sơ thẩm: do sửa án nên sửa lại án phí,
Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí 300.000đ,
tuy nhiên bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí.
-Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án nên bà Trần Thị Đ người kháng cáo
không phải chịu án phí.
8
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 148, Điều 157, Điều 165, khoản 2 Điều 308 của Bộ
luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Trần Thị Đ;
Sửa bản án dân sự thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Vĩnh Long.
Căn cứ Điều 166, 170 Luật đất đai năm 2013; Điều 166 của Bộ luật dân
sự 2015; khoản 2 Điều 26, Điều 27, khoản 2 Điều 29, điểm đ khoản 1 Điều 12
của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Đ;
2. Buộc ông Lâm Văn K Tiêu Thị N nghĩa vụ trả lại cho bà Trần
Thị Đ thửa đất số 1148, tờ bản đồ số 3, diện tích 1737,0m
2
, loại đất trồng lúa,
tọa lạc ấp T, V, tỉnh Vĩnh Long do Trần Thị Đ đứng tên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
(Có sơ đồ khu đất kèm theo bản án)
3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lâm Văn K phải hoàn trả cho bà Trần Thị
Đ số tiền 3.229.000 đồng ( Ba triệu hai trăm hai mươi chín nghìn đồng).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Lâm Văn K được miễn án phí.
Hoàn trả Trần Thị Đ số tiền 2.582.000 đồng theo biên lai số 000029,
ngày 27 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang,
tỉnh Trà Vinh (nay là phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 – Vĩnh Long).
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: hoàn trả cho Trần Thị Đ 300.000đ (
ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0005143
ngày 23/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi nh
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 8, 34,
36, 71,72 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
qui định của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Đương sự; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND cùng cấp;
- TAND khu vực 13 - VL;
- Phòng THADS khu vực 13-VL; (Đã ký)
-Thi hành án DS tỉnh Vĩnh Long;
- Lưu hồ sơ vụ án.
ĐẶNG THÁNH BÌNH
9
10
11
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 650/2026/DS-PT Bản án số 650/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 650/2026/DS-PT Bản án số 650/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất