Bản án số 916/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 916/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 916/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 916/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung D - Lê Thúy V
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 916/2026/DS-PT Bản án số 916/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 916/2026/DS-PT Bản án số 916/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 916/2026/DS-PT
Ngày: 16-7-2026
V/v tranh chấp quyền về lối đi qua
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Lê Thị Kim Nga
bà Trịnh Thị Phúc
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Mỹ Linh Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông
Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 494/2026/TLPT-DS ngày 19 tháng 6
năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền về lối đi qua”.
Do Bản án dân sự thẩm số 73/2026/DS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1-Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 471/2026/QĐ-PT ngày 24 tháng 6
năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Nguyễn Trung D, sinh năm 1953; địa chỉ: số E Quốc lộ A, khu phố
B, phường L, tỉnh Tây Ninh.
2. Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1958; địa chỉ: số E Quốc lộ A, khu phố B,
phường L, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn:
1. Thúy V, sinh năm 1946; địa chỉ: số D Quốc lộ A, Khu phố B,
Phường L, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Hồ Mạnh H, sinh năm 1954; địa chỉ số
C, 974 đường T, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Văn bản ủy quyền
ngày 27/5/2024).
2
2. Ông Nguyễn Đình B, sinh năm 1960; địa chỉ: số D Quốc lộ A, khu phố B,
phường L, tỉnh Tây Ninh.
3. Ông Nguyễn Công B1, sinh năm 1981; địa chỉ: số E Quốc lộ A, khu phố
B, phường L, tỉnh Tây Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Mai Quang Đ, sinh năm 1957; địa chỉ: Số D Quốc lộ A, khu phố B,
phường L, tỉnh Tây Ninh.
2. Phòng Hậu cần Công an tỉnh T; địa chỉ trụ sở: số E Quốc lộ A, phường L,
tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp: ông Trương Thanh B2 (Trưởng phòng)
- Người kháng cáo: bị đơn, bà Thúy V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 13/3/2025, đơn khởi kiện bổ sung ghi ngày
20/6/2025 trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông
Nguyễn Trung D trình bày:
Trước đây, ông công tác tại Phòng Hậu cần Công an tỉnh L. Năm 1994, ông
được UBND tỉnh L Quyết định giao đất số 2549/QĐ-UB ngày 21 tháng 10
năm 1994, diện tích 573,8m² đất thửa 551 tờ bản đồ số 2 (nay thửa 91 tờ bản
đồ 2-30a) tại Tổ dân cư số 9, khu phố B, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An.
Ông đã được Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số phát hành T 214709, số vào sổ
01661/QSDĐ/0104-LA ngày 05/6/2001.
Theo bản trích lục bản đồ địa chính, tờ bản đồ số 02 tại thời điểm ông được
cấp đất, thì thửa 551 lối đi từ nra đường công cộng, chiều dài 17,5m x
chiều ngang 3m giáp với đất của ông Dương Đ1 và bà Thị L. Sau đó đất của
vợ chồng ông Đ1, bà L được bán đấu giá cho ông Hoàng Thế S, ông S được cấp
GCNQSDĐ thửa 93 vào ngày 19/12/2003. Sau khi ông S chết, Thúy V
vợ ông S nhận thừa kế thửa 93 và đứng tên GCNQSDĐ số phát hành BO 627140,
số vào sổ 03172 vào ngày 11/11/2023.
Từ năm 1994 đến khoảng năm 1997, ông sử dụng lối đi này từ nhà ra Hẻm
D. Từ năm 1998, để tiện cho công việc nên ông sử dụng lối đi tại thửa 106 thuộc
phần đất của Phòng Hậu cần Công an tỉnh L. Năm 2024, Công an tỉnh L đã
văn bản số 1891/CAT PH10 ngày 15/6/2024 yêu cầu ông trả lại hiện trạng khu
đất cho Phòng Hậu cần Công an tỉnh ông đang sử dụng làm lối đi, nên gia đình
ông không lối đi nào khác. Thửa 91 của ông bị vây bọc bởi thửa 92 của
Nguyễn Ngọc T, thửa 93 của Thúy V, thửa 122 của ông Nguyễn Đình B,
thửa 156 của ông Nguyễn Công B1 và thửa 90 của ông Mai Quang Đ.
Nay ông yêu cầu Thúy V và các chủ sử dụng đất liền kề ông Nguyễn
Đình B, ông Nguyễn Công B1 Nguyễn Ngọc T mở lối đi cho thửa đất 91,
cụ thể là mở lối đi từ khu C qua khu B ra Hẻm D, theo Trích đo bản đồ địa chính
3
số 377-2025 do Công ty TNHH Đ2 đo vẽ ngày 30/5/2025, được Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai khu vực T duyệt ngày 18/9/2025 (sau đây viết tắt là Trích
đo số 377-2025).
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 20/12/2025, nguyên đơn Nguyễn Ngọc T
trình bày:
Năm 2000, bà nhận chuyển nhượng của ông Dương Đ1bà Võ Thị L thửa
92 diện tích 524,2m
2
. Sau đó, bà chuyển nhượng lại cho nhiều người, đến năm
2016 thì diện tích thửa 92 còn lại 264,5m
2
.
thống nhất trình bày của ông Nguyễn Trung D về nguồn gốc thửa 91. Bà
xác định, khi cấp giấy tờ đất cho ông D thì thửa số 91 lối đi ra lộ đất ra Quốc
lộ A. Hiện tại, và ông D đang sử dụng chung lối đi nằm phía sau nhà bà, đi qua
thửa 92 để ra thửa 106 của Phòng Hậu cần Công an tỉnh. Khi Công an có văn bản
lấy lại phần đất này thì nhà ông D, nhà của nhà của ông Nguyễn Công B1
không còn lối đi nào khác. Do đó, bà và ông Nguyễn Đình B, ông Nguyễn Công
B1 làm Văn bản thỏa thuận ngày 09/5/2024 về việc thống nhất để ông Nguyễn
Trung D đứng tên khởi kiện yêu cầu Thúy V mở lối đi từ thửa số 91 qua
thửa 92, 93 ra Hẻm D.
Nay bà khởi kiện yêu cầu Thúy V mở lối đi cho từ khu B qua khu
C theo Trích đo số 377-2025.
Bị đơn bà Lê Thúy V do ông Hồ Mạnh H đại diện theo ủy quyền trình bày:
V không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông D yêu cầu khởi kiện của
bà T.
Nguồn gốc thửa 93 do chồng của V ông Hoàng Thế S mua, sau khi
ông S chết đã để lại thừa kế cho V. Theo Giấy mua bán nhà lập giữa Ngân hàng
N1 với ông Hoàng Thế S vào ngày 30/9/1991 thì thửa 93 diện tích 574m
2
,
nhưng GCNQSDĐ cấp cho ông Hoàng Thế S năm 2003 cấp cho Thúy
V năm 2013 thì diện tích 536,4m
2
. Theo Trích đo số 377-2025, thì diện tích thửa
93 491,3m
2
bao gồm khu B diện tích 26,2m
2
, đã giảm so với diện tích trong
GCNQSDĐ nên bà V không đồng ý yêu cầu mở lối đi công cộng cho các hộ dân
liền kề phía sau. Hiện tại, V trồng chuối trên khu B không xây dựng
gì trên đất.
Bị đơn, ông Nguyễn Công B1 trình bày: ông con ruột của ông Nguyễn
Trung D. Ông thống nhất với lời trình bày của ông D vnguồn gốc thửa đất số
91. Phần đất ông sử dụng là thửa 156, được ông D tặng cho vào năm 2022, được
Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp GCNQSDĐ vào ngày 07/10/2022. Khi
cấp có đo đạc, ký giáp ranh, khi cấp giấy tờ đất không có lối đi.
Ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông D T. Ông ông Nguyễn
Đình B, bà Nguyễn Ngọc T Văn bản thỏa thuận ngày 09/5/2024 đồng ý cho
ông D khởi kiện yêu cầu V mở lối đi từ thửa số 91 qua thửa 92, 93 ra Hẻm D.
Bị đơn, ông Nguyễn Đình B trình y: ông chủ sử dụng thửa 122. Ông
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông D bà T. Ông và ông Nguyễn Công B1,
4
Nguyễn Ngọc T có ký Văn bản thỏa thuận ngày 09/5/2024 đồng ý cho ông D
khởi kiện yêu cầu V mở lối đi từ thửa số 91 qua thửa 92, 93 ra Hẻm D.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày
Ông Mai Quang Đ trình bày: ông là chủ sử dụng thửa 90 giáp ranh với thửa
93 của V và thửa 91 của ông D. Ông xác định nguồn gốc thửa đất số 93, 91 và
thửa 156 theo các bên trình bày là đúng.
Hiện tại thửa số 90 của gia đình ông đã được xây hàng rào tường p gạch
kiên cố, đây là sân nhà chiều ngang dưới 2m cặp với bậc thềm nhà chính của
ông, nên ông không thể mở lối đi công cộng cho ông D các hộ dân xung quanh
liền kề. Ông đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông D, bà T về việc yêu cầu bà V mở
lối đi vì trước đây, phần đất giáp ranh thửa 93 90 đường đất lối đi rộng
khoảng 3 mét từ thửa 106 đi ra hẻm công cộng.
Phòng Hậu cần Công an tỉnh T văn bản thể hiện ý kiến: ông Nguyễn
Trung D sử dụng lối đi gắn bảng tên H1 519 là khu đất thuộc thửa 106 của
Phòng Hậu cần. Công an tỉnh đã có văn bản đề nghị ông D trả lại hiện trạng khu
đất để sử dụng vào mục đích an ninh, đến nay ông D vẫn chưa trả lại phần đất
này.
Tại Bản án dân sự thẩm số 73/2026/DS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1-Tây Ninh đã xử: áp dụng các Điều 35, Điều 39, Điều
271, Điều 273, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 254
Bộ luật dân sự 2015; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung D, bà Nguyễn Ngọc T
về việc yêu cầu mở lối đi với Lê Thúy V.
1. Buộc bà Lê Thúy V mở cho ông Nguyễn Trung D, bà Nguyễn Ngọc T, ông
Nguyễn Công B1, ông Nguyễn Đình B lối đi diện tích 26,2m
2
tại khu B thuộc
một phần thửa đất s93 tbản đồ số 374, tại khu phố B phường L, tỉnh Tây Ninh
do bà Lê Thúy V đứng tên.
2. Buộc bà Nguyễn Ngọc T mở cho ông Nguyễn Trung D, ông Nguyễn Công
B1, ông Nguyễn Đình B lối đi diện tích 29,2m
2
tại khu C thuộc một phần
thửa đất số 92 tờ bản đồ số 374, tại khu phố B phường L, tỉnh Tây Ninh do
Nguyễn Ngọc T đứng tên.
Theo trích đo Mảnh trích đo bản đồ địa chính do Công ty TNHH Đ2 đo vẽ
ngày 30/5/2025 được Chi nhánh văn phòng đăng đất đai khu vực T duyệt ngày
18/9/2025.
Việc sử dụng lối đi nêu trên của ông Nguyễn Trung D, Nguyễn Ngọc T,
ông Nguyễn Công B1, ông Nguyễn Đình B phải đúng mục đích, không được cản
trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy
định của pháp luật và không gây ảnh hưởng xấu đến các hộ xung quanh.
5
3. Về chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ 35.000.000 đồng.
Ông Nguyễn Trung D, Nguyễn Ngọc T, ông Nguyễn Công B1, ông Nguyễn
Đình B phải chịu và đã nộp xong.
Về án phí: Ông Nguyễn Công B1 phải chịu 300.000 đồng án phí.
Ông Nguyễn Trung D, Nguyễn Ngọc T, ông Nguyễn Đình B được miễn án
phí.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên vquyền và thời hạn kháng cáo, việc thi
hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/4/2026, bị đơn bà Lê Thúy V kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Hồ Mạnh H trình bày: bà V không đồng ý mở lối đi tại khu B như bản
án sơ thẩm đã xử. Trong trường hợp buộc phải mở lối đi, tV phải được nhận
đền bù.
Ồng Nguyễn Trung D trình bày: ông không tranh chấp gì về quyền sử dụng
đất với V, mà ông chỉ yêu cầu bà V mở lối đi cho ông và những hộ liền kề phía
trong vì hiện nay Phòng Hậu cần Công an tỉnh T không cho sử dụng lối đi nội bộ
của Công an. Theo thỏa thuận, ông ông Đình B, ông Công B1 T sẽ đền
bù cho bà V nếu được mở lối đi, mỗi người ¼ tiền đền bù.
Nguyễn Ngọc T, ông Nguyễn Đình B và ông Nguyễn Công B1 trình bày:
thống nhất ý kiến của ông Nguyễn Trung D, mở lối đi qua đất của V phù
hợp nhất.
Ông Mai Quang Đ trình bày: phần đất của ông hiện nay đã xây dựng tường
rào, sân phía trước nhà nên không thể mở lối đi cho ông D T, ông Đình B
ông Công B1 được. Phần đất mà bên ông D đề nghị mở lối đi trên đất của
V ở sân vườn phía sau nhà bà V, hiện nay chỉ đang trồng chuối nên mở là phù
hợp.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn bà Lê Thúy V đủ điu kiện để
xem xét theo trình t phúc thm.
Về nội dung kháng cáo: thửa 91 và thửa 92 bị vây bọc bởi các bất động sản
liền kề, không có lối đi. Phương án mở lối đi qua khu B và khu C là hợp lý nhất.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử căn cứ. Tuy nhiên, bản án thẩm nhận
định nhưng không tuyên trong quyết định về việc buộc bên được mở lối đi phải
đền bù cho V chịu lãi nếu chậm thi hành nghĩa vụ trả tiền là thiếu sót. Ngoài
ra, Tòa án cấp thẩm không tuyên vị trí lối đi, không buộc đương sự thực hiện
đăng ký biến động trên GCNQSDĐ và tính án phí không chính xác. Đề nghị sửa
một phần bản án sơ thẩm về cách tuyên án, buộc ông D, ông Đình B, ông Công
B1 T phải liên đới đền cho V số tiền 247.770.387 đồng, cây trồng trên
đất 2.700.000 đồng, tổng cộng 250.470.387 đồng, sửa án phí thẩm buộc
6
đương sự thực hiện đăng ký biến động trên GCNQSDĐ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn, Lê Thúy V thực hiện đúng theo quy định
tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các
nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người kháng cáo giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được vviệc giải quyết toàn
bộ vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: đại diện Phòng Hậu cần Công an tỉnh T
vắng mặt và có đề nghị giải quyết vắng mặt, thuộc trường hợp quy định tại Điều
296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
[3] Về xác định quan hpháp luật tranh chấp thẩm quyền giải quyết vụ
án: căn cứ yêu cầu khởi kiện của các đương sự, Tòa án cấp thẩm xác định vụ
án tranh chấp quyền về lối đi qua và thụ lý giải quyết, là đúng quy định tại khoản
9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[4] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Thúy V kháng cáo 1 phần bản án
thẩm, không đồng ý mở lối đi tại khu B, thuộc 1 phần thửa 93 do V đang đứng
tên trên GCNQSDĐ. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp
phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo.
Xét kháng cáo của Thúy V không đồng ý mlối đi cho chủ sử dụng
các thửa đất số 91, 156, 92 và 122
[5] Lối đi các đương sự tranh chấp, được thể hiện khu B và khu C trên
Trích đo số 377-2025. Bà V kháng cáo không đồng ý mở lối đi tại khu B, thuộc 1
phần thửa 93 do bà V đang đứng tên trên GCNQSDĐ.
[6] Theo Quyết định số 2549/QĐ-UB ngày 21 tháng 10 năm 1994 của Ủy
ban nhân dân tỉnh L về việc giao đất thửa 551 (nay thửa 91) cho ông Nguyễn
Trung D (bút lục số 201), thì tứ cận của thửa 551 như sau:
Đông giáp: Trường S1 dài 14,2m;
Tây giáp: Thổ cư ông N dài 17,3m;
Nam giáp: Phòng Tài vụ Công an hậu cần dài 34,8m;
Bắc giáp: Thổ cư dự kiến ông Đ dài 34,8m.
[7] Theo hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất 1 phần thửa 91 của ông Nguyễn
Trung D cho ông Nguyễn Công B1 thể hiện: tại bản tả ranh giới, mốc giới
thửa đất lập ngày 18/5/2021 ông Nguyễn Trung D, ông Mai Quang Đ, ông
Nguyễn Đình B, Lê Thúy V và đại diện Phòng Hậu cần Công an tỉnh L đã ký
xác nhận ranh giới (bút lục số 177) và Mảnh trích đo địa chính số 2287-2022 do
Công ty TNHH Đ3 lập ngày 16/7/2022, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai tại thành phố T duyệt ngày 23/8/2022 (bút lục số 187), thì không thể hiện
lối đi công cộng giữa thửa 91 và 92, 122; thửa 90 và 93.
7
[8] Tại Công văn số 646/UBND-NC ngày 10/02/2026, Ủy ban nhân dân
phường L, tỉnh Tây Ninh xác định, “theo hồ địa chính lưu trữ tại địa phương,
trên bản đồ địa chính do cơ quan nhà nước quản lý không thể hiện lối đi từ khu C
qua khu B liên quan đến các thửa đất số 92, 91 và 156” (bút lục số 204).
[9] Từ các tình tiết được nêu tại các đoạn [6] đến [8], thì trình bày của ông
D, bà T cho rằng, theo bản trích lục bản đồ địa chính tờ bản đồ số 02 (bút lục số
200), tại thời điểm năm 1994 ông D được UBND tỉnh L giao đất thửa 551 (nay là
thửa 91), thì thửa đất này đã tồn tại một lối đi ra đường công cộng, chiều dài
17,5m x chiều ngang 3m giáp với đất của ông Dương Đ1 và bà Thị L (sau này
được bán đấu giá cho ông Hoàng Thế S - là thửa 93 hiện nay), là không phù hợp
với Quyết định số 2549/QĐ-UB đã giao đất cho ông D hồ lưu trữ của
quan quản lý đất đai tại địa phương.
[10] Căn cứ Trích đo số 377-2025, thì các thửa đất số 91, 156, 92 và 122
hiện nay bị vây bọc bởi thửa đất s93 90 không lối đi ra Hẻm D (bút lục
số 208). Theo các Biên bản xem xét, thẩm định tại chdo Tòa án cấp sơ thẩm lập
ngày 24/4/2025, 03/4/2026, 26/6/2026; Biên bản xác minh ngày 31/10/2025; Biên
bản làm việc định giá ngày 20/10/2025 (bút lục số 222, 223, 225-227, 211,
212, 238-240, 213-215), thì trên diện tích 26,2m
2
thuộc 1 phần thửa 93 vị trí
khu B của Trích đo số 377-2025 các bụi chuối không công trình, vật kiến
trúc; phần giáp ranh khu B (cạnh phía Đông) cách bụi chuối khoảng 2-3m là bức
tường tông do ông Mai Quang Đ xây dựng bao quanh sân nhà lát nền gạch của
ông Đ, nếu mở lối đi rộng 2m thì phần nhà của ông Đ không có lối đi.
[11] Tại khoản 1 Điều 254 của Bộ luật Dân snăm 2015 quy định về “Quyền
về lối đi qua” như sau:
“1. Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ
sở hữu khác không hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu
cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần
đất của họ.
Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào được coi thuận tiện
hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị
vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.”
[12] Tòa án cấp thẩm đã căn cứ tình hình thực tế sdụng đất của các
đương sự, từ đó chấp nhận yêu cầu của ông D và bà T, mở lối đi qua 1 phần thửa
93 tại vị trí B trên Trích đo số 377-2025, là đúng quy định khoản 1 Điều 254 của
Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo
này của bà V.
[13] Tuy nhiên, Bản án thẩm nhận định tại đoạn [3.1] về bồi thường
giá trị quyền sử dụng đất lối đi, nhưng lại không tuyên trong phần quyết định buộc
ông D, T, ông Công B1, ông Đình B đền bù cho V, là không đúng quy định
tại đoạn 3 khoản 1 Điều 254 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Chủ sở hữu
bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản
chịu hưởng quyền, trừ trường hợp thỏa thuận khác.” Do đó, chấp nhận một
8
phần kháng cáo của V, buộc ông D, T, ông Công B1, ông Đình B phải
nghĩa vụ liên đới đền cho V số tiền 247.770.387 đồng giá trị quyền s
dụng đất khu B và cây trồng trên đất gtrị 2.700.000 đồng, tổng cộng
250.470.387 đồng. Căn cứ Văn bản thỏa thuận về việc kiện mở lối đi do ông
Nguyễn Trung D, ông Nguyễn Công B1, Nguyễn Ngọc T và ông Nguyễn Đình
B ngày 09/5/2026, buộc mỗi người phải đền cho V ¼ số tiền đền
62.617.596 đồng (= 250.470.387đ/4), quy tròn là 62.618.000 đồng.
[14] Về chi phí đo đạc, định giá, thẩm định tại chỗ tại cấp thẩm tổng cộng
là 35.000.000 đồng: do ông D, bà T, ông Công B1, ông Đình B được sử dụng lối
đi thuộc khu B khu C nên phải chịu chi phí này. Căn cứ Văn bản thỏa thuận
ngày 09/5/2024 giữa ông D, T, ông Công B1, ông Đình B, thì 04 đương sự
đồng ý liên đới chịu mọi chi phí liên quan đến mở lối đi và đã nộp xong.
[15] Đề nghị của Kiểm sát viên là căn cứ, phù hợp với quy định của pháp
luật và nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm nên được chấp nhận.
[16] Về án phí dân sự thẩm: V T mỗi người phải chịu án phí
không giá ngạch do yêu cầu mở lối đi của các nguyên đơn được chấp nhận;
ông D, bà T, ông Công B1, ông Đình B mỗi người phải chịu án phí có giá ngạch
tương ứng với số tiền mỗi người phải đền bù cho V. Tuy nhiên, do V, ông
D, T, ông Đình B người cao tuổi yêu cầu miễn án phí, nên được xét
miễn.
[17] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận một phần,
nên V không phải chịu. V đã được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên
không tuyên hoàn trả.
[18] Các phần khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm thì hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309, Điều 147, Điều 148, Điều
165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 254 của Bộ luật Dân snăm 2015; Điều 12,
Điều 26 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của Lê Thúy V.
3. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 73/2026/DS-ST ngày 20 tháng 4
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1-Tây Ninh về việc chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của ông Nguyễn Trung D, bà Nguyễn Ngọc T đối với bà Thúy V về
việc yêu cầu mở lối đi qua:
3.1. Buộc bà Thúy V dành cho ông Nguyễn Trung D, bà Nguyễn Ngọc
T, ông Nguyễn Công B1, ông Nguyễn Đình B một lối đi tại khu B có diện tích
9
26,2m
2
thuộc một phần thửa đất số 93 tờ bản đồ số 374, địa chỉ thửa đất tại khu
phố B phường L, tỉnh Tây Ninh, do bà Lê Thúy V đứng tên trên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
3.2. Vị trí, kích thước tứ cận của khu B được thể hiện theo Trích đo bản đồ
địa chính số 377-2025 do Công ty TNHH Đ2 đo vẽ ngày 30/5/2025, được Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực T duyệt ngày 18/9/2025.
3.3. Buộc ông Nguyễn Trung D, ông Nguyễn Công B1, bà Nguyễn Ngọc T
ông Nguyễn Đình B mỗi người phải đền cho Thúy V số tiền
62.618.000đ (sáu mươi hai triệu sáu trăm mười tám ngàn đồng).
3.4. Về nghĩa vụ nếu chậm thi hành án: kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành
án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Các phần sau đây của Bản án dân sự sơ thẩm số 73/2026/DS-ST ngày 20
tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1-Tây Ninh không bị kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị:
4.1. Buộc Nguyễn Ngọc T dành cho ông Nguyễn Trung D, ông Nguyễn
Công B1, ông Nguyễn Đình B một lối đi tại khu C diện tích 29,2m
2
thuộc
một phần thửa đất số 92 tờ bản đồ số 374, địa chỉ thửa đất tại khu phố B phường
L, tỉnh Tây Ninh, do Nguyễn Ngọc T đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền s
dụng đất.
4.2. Vị trí, kích thước tứ cận của khu C được thể hiện theo Trích đo bản đồ
địa chính số 377-2025 do Công ty TNHH Đ2 đo vẽ ngày 30/5/2025, được Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực T duyệt ngày 18/9/2025.
4.3. Về chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ tổng cộng
35.000.000 đồng: buộc ông Nguyễn Trung D, Nguyễn Ngọc T, ông Nguyễn
Công B1, ông Nguyễn Đình B phải liên đới chịu và đã nộp xong.
5. Việc sử dụng lối đi nêu trên của ông Nguyễn Trung D, Nguyễn Ngọc
T, ông Nguyễn Công B1, ông Nguyễn Đình B phải đúng mục đích, không được
cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo
quy định của pháp luật và không gây ảnh hưởng xấu đến các hộ xung quanh.
6. Các đương sự quyền và nghĩa vụ liên hệ các quan thẩm quyền
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các quan liên quan để thực hiện
việc đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai
và quyết định của bản án.
7. Văn phòng đăng ký đất đai, Cơ quan Tài nguyên và Môi trường, Cơ quan
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án
để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho đương sự phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
10
8. Về án phí dân sự thẩm: buộc ông Nguyễn Công B1 phải chịu 3.130.900
đồng. Lê Thúy V, ông Nguyễn Trung D, Nguyễn Ngọc T ông Nguyễn
Đình B được miễn án phí.
9. Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Lê Thúy V không phải chịu.
10. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật kể
từ ngày tuyên án.
11. Về hướng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi
hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu
thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định
tại các Điều 6, 7 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 1-Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 1-Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 916/2026/DS-PT Bản án số 916/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 916/2026/DS-PT Bản án số 916/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất