Bản án số 750/2026/DS-PT ngày 14/07/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 750/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 750/2026/DS-PT ngày 14/07/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 750/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng V.2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 750/2026/DS-PT Bản án số 750/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 750/2026/DS-PT Bản án số 750/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN T Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 750/2026/DS-PT
Ngày: 14 7 2026
V/v “Tranh chấp thừa kế tài sản
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Thị Minh Trang
Các thẩm phán: Bà Mạc Thị Chiên
Bà Hà Thị Phương Thanh
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Thúy Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Lưu Thị
Kim Chúc - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 14 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử công khai vụ án thụ số 938/2026/TLPT-DS ngày 17 tháng 6 năm 2026
về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 179/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1092/2026/QĐ-PT
ngày 22 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng V, sinh năm 1977 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp N, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1971(Có mặt).
Địa chỉ: ấp N, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Hồng H (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã T, thành phố Cần T.
2. Ông Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1976 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
2
3. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1962; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
4. Anh Trần Trung K, sinh năm 2000; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
5. Anh Trần Trung G, sinh năm 2004; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp N, xã T, thành phố Cần Thơ.
6/ Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Ngọc N; chức vụ: Chủ tịch.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Văn Bé B; chức vụ: Phó trưởng
Phòng kinh tế (Có mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
Do có kháng cáo của ông Nguyễn Hồng V là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Nguyễn
Hồng V trình bày:
Cha mẹ ông là ông Nguyễn Văn H1 Thị Kim N1 đã chết, không
để lại di chúc, có để lại phần đất tọa lạc tại ấp N, T, thành phố Cần Thơ. Ông
xác định phần diện tích đất còn lại theo Mãnh trích đo địa chính số 322/2024
ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P,
tỉnh Hậu Giang (Nay Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực X - Cần
Thơ) là 2.254,5m², tại thửa đất số 35, 36, hiện do bà Nguyễn Ngọc T đứng tên là
di sản thừa kế chưa được phân chia. Ông cho rằng việc chuyển dịch quyền s
dụng đất từ ông Nguyễn Văn H1 sang ông Nguyễn Hồng Q, sau đó từ ông Q
sang T không hợp pháp, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
bà T là không đúng quy định. Do đó, ông yêu cầu Tòa án hủy các hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất, hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp
yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất nêu trên, ông yêu cầu được nhận một nửa
diện tích đất và nhận phần đất căn nhà để làm nơi thờ cúng cha mẹ. Ông V
thừa nhận ký tên vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn
Văn H1ông Nguyễn Hồng Q, nhưng cho rằng việc ký tên chỉ nhằm mục đích
để ông Q vay tiền ngân hàng. Đối với hợp đồng tặng cho giữa ông Q T
cũng như việc T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông không
biết.
* Bị đơn Nguyễn Ngọc T trình bày: Sau khi cha mẹ chết, các anh chị
em trong gia đình đã sthỏa thuận phân chia phần đất thành ba phần cho bà,
ông V ông Q, việc thỏa thuận chỉ bằng lời nói, không lập thành văn bản; ông
3
H không được chia do đã được chia đất trước đó. Phần đất của ông V nằm trong
diện tích đất ông Q đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T2, còn phần
đất đang tranh chấp phần được chia đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Do đó, không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. xác định tại thời điểm ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
từ ông H1 sang ông Q thì bà, ông V ông Q đều mặt cùng tên vào
hợp đồng.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồng Q trình y:
Ông thống nhất về nguồn gốc đất của cha mẹ để lại, đồng thời thừa nhận
việc chuyển nhượng phần lớn diện tích đất. Phần đất tranh chấp diện tích
2.254,5m² là phần đất do cha mẹ cho ông. Tuy nhiên, hiện nay bà T đã đứng tên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông yêu cầu chia thừa kế phần đất này
thành ba phần bằng nhau cho ông, T ông V, ông yêu cầu được nhận phần
đất tương ứng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồng H trình bày:
Ông là anh ruột thứ 2 của bà T ông V, gia đình 4 anh, chị em ruột
gồm ông Nguyễn Hồng H, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Hồng Q Nguyễn Hồng
V, cha mẹ không nhận con nuôi hay con riêng nào khác. Trước đây ông
H1 làm hợp đồng tặng cho phần đất cho ông Q khi đó ông không địa
phương nên không biết hiện tại ông cũng không biết. Ông không biết ông Q
tặng cho phần đất lại cho T, do năm 2002 ông đã không còn sinh sống
ấp N, T, thành phố Cần Thơ. Về căn nhà T sinh sống trước đây là của cha
ông H1 ở, sau khi cha mất thì T tu bổ, sửa chữa lại, còn việc nhà nước
cho hay không thì ông không biết, ông cũng không nghe T nói. Về tài sản
thừa kế của ông H1 để lại là một phần do ông Q đã chuyển nhượng và phần bà T
đang canh tác sử dụng. Sau này khi ông về ông thấy người cất nhà thì ông
hỏi mới biết nhận chuyển nhượng từ ông Q, khi đó ông biết phần đất
sang tên cho ông Q nhưng không biết làm sao ông Q được sang tên. Đối với
phần đất của ông H1 đã tặng cho ông Q ông Q đã tặng cho lại cho T thì
ông không ý kiến gì, các anh em tự giải quyết với nhau. Đối với yêu cầu chia
thừa kế của các anh em thì ông không có ý kiến và ông từ chối nhận phần di sản
này, các anh em tự phân chia giải quyết với nhau. Do sức khỏe yếu nên xin
vắng mặt trong các buổi làm việc, xét xử của Tòa án.
* Đại diện Ủy ban nhân dân T, thành phố Cần Thơ trình bày: Do chưa
trích lục được hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Nguyễn
Ngọc T nên chưa xác định được trình tự, thủ tục cấp giấy có đúng quy định pháp
4
luật hay không. Tuy nhiên, xét thấy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa
ông H1 và ông Q từ ông Q tặng cho T đều công chứng, chứng thực,
chữ của các bên nên hợp đồng của các đương sự đảm bảo theo quy định của
pháp luật.
* Tại Bản án sơ thẩm số 179/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn
Hồng V về việc yêu cầu chia di sản thừa kế phần đất diện tích 2254,5m
2
, tại
thửa đất số 35, 36 đất tọa lạc tại ấp N, xã T, thành phố Cần Thơ.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự quyền
kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 12 tháng 5 năm 2026: nguyên đơn ông Nguyễn Hồng V kháng cáo
yêu cầu sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
* Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị hủy hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất từ ông V sang ông Q và từ ông Q sang cho bà T, yêu
cầu chia thừa kế cho ông được hưởng ½ diện tích 2.254,5m
2
còn lại nhà thờ
cúng cha mẹ.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Q vẫn giữ quan điểm đề
nghị chia phần đất tranh chấp thành ba phần bằng nhau.
* Bị đơn T: không chấp nhận kháng cáo đề nghị giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án, Thẩm phán và
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy trình thủ tục của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Xét thấy, nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu
chia thừa kế đối với diện tích hiện nay T đang đứng tên quyền sử dụng đất,
yêu cầu được chia đôi với bị đơn. Tuy nhiên, như nhận định trên, nguyên đơn đã
đồng ý tên cùng bà T cụ H1 để chuyển quyền sử dụng đất cho ông Q,
nguyên đơn không chứng minh được tồn tại thoả thuận khác cho việc ông Q
đứng tên quyền sử dụng đất. Xét phần đất cha mẹ để lại6.913m
2
nếu chia cho
3 người (phần ông H từ chối nhận) thì tương ứng với phần diện tích T đứng
tên phù hợp. Quá trình tặng cho quyền sử dụng đất từ cụ H1 sang ông Q thì
ông V không chứng minh được phản đối, quá trình ông Q chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho ông T2 thì ông V không chứng minh được việc cản trở,
5
ngăn cản. Hiện nay, nguyên đơn xác định chỉ tranh chấp yêu cầu chia thừa kế
phần bà T đang đứng tên quyền sử dụng đất là không phù hợp.
Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
không căn cứ. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là snên không căn cứ
chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng
dân sự, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Hồng V được nộp trong
thời hạn luật định đã thực hiện việc nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy
định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, những
người tham gia tố tụng vắng mặt đã đơn đề nghị xét xvắng mặt hoặc được
triệu tập hợp lệ theo quy định, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng
dân sự tiến hành xét xử vắng mặt.
[2] Xét nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Hồng V:
[2.1] Nguyên đơn kháng cáo cho rằng phần đất tranh chấp vẫn di sản
chưa được phân chia của ông Nguyễn Văn H1 Thị Kim N1; việc ông
ký tên trong Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H1
ông Nguyễn Hồng Q chỉ nhằm mục đích để ông Q vay vốn ngân hàng, không
phải đồng ý cho tặng cho quyền sdụng đất; từ đó yêu cầu chia di sản thừa kế,
hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông H1 với ông Q, hủy Hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Q với T và hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã cấp cho bà T.
[2.2] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Các tài liệu, chứng cứ trong
hồ vụ án kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm xác định phần đất
tranh chấp nguồn gốc do ông Nguyễn Văn H1 Thị Kim N1 tạo lập
trong thời kỳ hôn nhân. Sau khi N1 chết, mặc các đồng thừa kế chưa thực
hiện thủ tục khai nhận, phân chia di sản theo quy định pháp luật nhưng trên thực
tế các đồng thừa kế đã quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản ổn định trong thời
gian dài theo sự thống nhất của các thành viên trong gia đình.
[2.3] Ngày 06/5/2010, ông Nguyễn Văn H1 lập Hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất đối với phần đất diện tích 6.913m² cho ông Nguyễn Hồng Q. Hợp
đồng được chứng thực theo đúng quy định của pháp luật. Ông V thừa nhận trực
tiếp ký tên trong hợp đồng nhưng cho rằng việc ký tên chỉ nhằm tạo điều kiện để
6
ông Q vay vốn ngân hàng. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày của mình, ông V
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh giao dịch này giao
dịch giả tạo theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân snăm 2005 hoặc thuộc
trường hợp vô hiệu khác theo quy định của pháp luật.
[2.4] Ngược lại, hồ vụ án thhiện sau khi hợp đồng được xác lập, ông
Q đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trực tiếp quản lý, sử dụng
ổn định, thực hiện việc chuyển nhượng một phần diện tích đất cho người khác
và sau đó tặng cho phần diện tích còn lại cho bà T.
[2.5] Trong suốt quá trình này, ông V không có khiếu nại, tranh chấp hoặc
phản đối việc quản lý, sdụng định đoạt quyền sử dụng đất của ông Q. Việc
ông V không ý kiến trong một thời gian dài đối với việc đăng sang tên,
chuyển nhượng và tặng cho quyền sử dụng đất thể hiện thực tế các đồng thừa kế
đã chấp nhận việc quản lý, sử dụng tài sản theo hiện trạng. Đây là căn cứ để cấp
thẩm nhận định tài sản của ông H1 N1 trên thực tế đã được các đồng
thừa kế tiếp nhận và sử dụng ổn định, không còn là khối di sản chung chưa phân
chia.
[2.6] Bên cạnh đó, lời khai của T ông Q đều thể hiện sau khi được
nhận quyền sử dụng đất, ông Q đã sử dụng tài sản để giải quyết công việc gia
đình, trong đó việc htrợ ông V cưới vợ, ổn định cuộc sống. Ông V cũng
không chứng minh được mình chưa nhận bất kỳ lợi ích nào từ khối tài sản của
cha mẹ để lại. Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự
nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
[3] Tại giai đoạn phúc thẩm, ông V cũng không xuất trình được tài liệu,
chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ án hoặc chứng minh cấp thẩm đánh
giá chứng cứ không khách quan, không đầy đủ.
[4] Đối với Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông QT, tại
thời điểm xác lập giao dịch, ông Q người sdụng đất hợp pháp, đã được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có đầy đủ quyền định đoạt theo quy định
tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. Hồ sơ cũng không tài liệu, chứng cứ
chứng minh giao dịch này vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức hội
hoặc thuộc trường hợp vô hiệu.
[5] Đại diện quan có thẩm quyền về đất đai xác định việc đăng ký biến
động, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho T được thực hiện đúng
trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu
cầu hủy Hợp đồng tặng cho quyền sdụng đất hủy Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã cấp cho bà T.
[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Q vẫn giữ quan điểm đề nghị chia phần
đất tranh chấp thành ba phần bằng nhau. Xét thấy, sau khi được cấp Giấy chứng
7
nhận quyền sử dụng đất, chính ông Q đã trực tiếp quản lý, sử dụng, chuyển
nhượng một phần diện tích đất tự nguyện tặng cho phần đất còn lại cho bà T.
Việc ông Q thực hiện đầy đủ quyền của người sdụng đất đối với tài sản trong
thời gian dài phù hợp với quy định của pháp luật. Nay ông Q cho rằng việc
tặng cho T do bị ép buộc nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
chứng minh. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này là có căn cứ.
[7] Từ những phân tích trên, thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập đầy
đủ chứng cứ, đánh giá khách quan, toàn diện các tài liệu trong hồ vụ án;
việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, áp dụng pháp luật bác toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của ông V là căn cứ. Ông V không cung cấp được chứng
cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án, không chứng minh được bản án sơ thẩm
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc áp dụng pháp luật không đúng. Do
đó, không căn cứ chấp nhận kháng cáo. vậy, giữ nguyên bản án dân sự
thẩm.
[8]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn không
được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn
Hồng V.
2. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 179/2025/DS-ST ngày
28/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ.
3. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Hồng V phải chịu 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số
0009209 ngày 12/5/2026 của Thi hành án dân sthành phố Cần Thơ thành án
phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
14/7/2026).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND TPCT; (Đã ký)
- TAND khu vực 13 – Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 13 – Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Lê Thị Minh Trang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 750/2026/DS-PT Bản án số 750/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 750/2026/DS-PT Bản án số 750/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất