Bản án số 82/2026/DS-PT ngày 30/03/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 82/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 82/2026/DS-PT ngày 30/03/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 82/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hà Anh T - Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Lương P
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGA VIỆT NAM
THÀNH PHĐÀ NẴNG Độc lập - Tdo - Hnh pc
Bản án s: 82/2026/DS-PT
Ny 30/3/2026
V/v Yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp
đồng và buộc cải chính công khai,
xin lỗi, bồi thường thiệt hại.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hi đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Việt Dũng
Các Thẩm phán: Ông Trương Chí Trung
Bà Trần Thị Bé
Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Lương Thị Chung -
Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 206/2025/DSPT ngày 20 tháng 11 năm 2025
về việc: Yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng buộc cải chính công khai, xin lỗi, bồi
thường thiệt hại.
Do bản án dân sự thẩm số 339/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 02 năm
2026 Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 107/2026/QĐ-PT ngày 10 tháng 3
năm 2026 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Thanh Nh - Sinh năm 1978;
- Cháu Hà Đức M - Sinh năm 2007;
- Cháu Hà Minh Q - Sinh năm 2011;
Cùng địa chỉ: 72 Ngõ 39 C, phường H, thị xã T (cũ), thành phố Hà Nội.
2
Người đại diện theo ủy quyền: Thị L1 - Sinh năm 1961 - Trú tại: 49 N
phường H, thành phố Đà Nẵng (Theo văn bn ủy quyền ngày 08/4/2024). (Có mặt).
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L (Tên gọi khác: Nguyễn Thị L) - Sinh năm: 1971
ông Nguyễn Lương Ph - Sinh năm 1974 - Cùng trú tại: Tổ 57 phường H (cũ) nay
tổ 251, phường N, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quang Th - Sinh năm 1997 - Địa chỉ:
B2-2-07 đường H 8, phường H, thành phố Đà Nẵng. (Theo văn bản ủy quyền ngày
16/10/2024). (Có mặt).
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: UBND phường Ngũ Hành Sơn, thành
phố Đà Nẵng - Trụ sở: 486 L phường N, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
* Người giám định:
1. Văn phòng đăng đất đai - Sở Nông nghiệp & Môi trường thành phố Đà Nẵng
- Trụ sở: 331 đường H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
2. Công ty TNHH Thẩm định gĐ - Trụ sở: 39 B 5, phường C, thành phố Đà
Nẵng. (Vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bà Hà Thị L1, là Nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
Ngày 13/9/2023 Nguyễn Thị Kim L (Nguyễn Thị L) và ông Nguyễn Lương Ph
đơn khởi kiện đối với ông Anh T1 đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 18/6/1999 giữa bên chuyển nhượng Nguyễn
Thị L, ông Nguyễn Lương Ph với bên nhận chuyển nhượng ông Anh T1 hiệu
được Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn thụ theo Thông báo thụ vụ án số
122/2023/TB-TLVA ngày 14/11/2023;
Ngày 08/3/2024 người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn Anh T1
đơn phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết buộc nguyên đơn phải thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng, bàn giao đủ diện tích đất theo hợp đồng, xác định đất đất buộc
công khai xin lỗi, bồi thường thiệt hạiđược Tòa án thụ lý theo Thông báo thụ ký yêu
cầu phản tố số 122A/2024/TB-TLVA ngày 26/3/2024.
Ngày 28/5/2025 bà Nguyễn Thị Kim L và ông Nguyễn Lương Ph xin rút toàn bộ
yêu cầu khởi kiện. Do đó Tòa án đã Quyết định số 38/2024/QĐST-DS ngày 28/5/2024
đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết hậu quả của việc đình chỉ.
Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, phía ông Hà Anh
3
T1 trở thành nguyên đơn, ông Ph, bà L thành bị đơn. Vụ án được tiếp tục giải quyết theo
yêu cầu của bị đơn.
* Theo đơn khi kiện (phản tố) đề ngày 08/3/2024, quá trình giải quyết vụ án cũng
như tại phiên tòa, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Hà Anh T1 và người
đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 18/6/1999, ông Nguyễn Lương Ph Nguyễn Thị L (Nguyễn Thị Kim
L) có lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Hà Anh T1 286m
2
loại đất thổ cư, thời hạn
sử dụng lâu dài, mục đích sử dụng xây dựng nhà ở. Phần diện tích chuyển nhượng nằm
trong thửa đất số 661, tờ bản đồ số 14 theo Giấy chứng nhận số E 672XXX do Ủy ban
nhân dân huyện Hòa Vang cấp ngày 06/02/1995. Bên bán đã nhận đủ tiền, bên mua
ông T1 đã nhận đất và xây nhà để ở có diện tích 30m
2
, đã cắm mốc ranh giới, có bản vẽ
được cấp phép xây dựng. Đến năm 2023, khi nhận được thông báo của Toà án về việc
ông Phương bà L khởi kiện thì xảy ra tranh chấp.
Nay gia đình ông T1 xác định Hợp đồng chuyển nhượng ngày 18/6/1999 đảm
bảo tính pháp lý, được cơ quan có thẩm quyền là Ủy ban nhân dân phường Hòa Quý xác
nhận. Theo đó đã ghi diện tích, loại đất, vị trí đất đồng thời được Ủy ban nhân dân
phường Hòa Quý xác nhận nhà được cấp giấy phép xây dựng. Việc khởi kiện
của bà L, ông Ph là không có căn cứ. Gia đình ông T1 yêu cầu Tòa án giải quyết:
1/ Công nhận hợp đồng chuyển nhượng ngày 18/6/1999 giữa bên chuyển nhượng
là ông Nguyễn Lương Ph và bà Nguyễn Thị L (Nguyễn Thị kim L) và bên nhận chuyển
nhượng là ông Hà Anh T1 là hợp pháp. Buộc ông Ph, bà L phải bàn giao cho ông T1 đủ
diện tích 286m
2
đất ở đô thị theo đúng hợp đồng. Diện tích này được xác định dựa trên
ranh giới theo giấy chứng nhận cấp năm 1995 được tả tại Mảnh trích đo chỉnh
138-2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đà Nẵng ngày 12/8/2024.
2/ Buộc bà L, ông Ph phải cải chính công khai, xin lỗi và bồi thường thiệt hại do
tổn thất về tinh thần tương ứng với 10 tháng lương bản 2.340.000đ * 10 tháng =
23.400.000đ (Hai mươi ba triệu bốn trăm ngàn đồng).
3/ L (bà L) ông Ph đã cố ý tố cáo ông T1 3 (ba) lần về hành vi làm giả hợp
đồng, giả chữ ký. Nên L ông Ph phải chịu trách nhiệm trước pháp luật theo quy
định tại Điều 15, khoản 3 Điều 30 Hiến pháp năm 2013; Điều 156 Bộ luật Hình sự về
tội “Vu khống” đối với ông Hà Anh T1.
Ngoài ra đề nghị Tòa án buộc Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đà Nẵng xác
định loại đất theo hợp đồng chuyển nhượng nêu trên là đất ở tại đô thị.
* Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, ông Nguyễn Lương Ph, bà Nguyễn
Thị Kim L và đại diện theo ủy quyền của ông P, bà L trình bày:
4
Về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Nguồn gốc thửa đất số 661, tờ
bản đồ số 14 diện tích 2.392m
2
do Nguyễn Thị Kim L ông Nguyễn Lương Ph
nhận chuyển nhượng tNguyễn Thị M được UBND huyện Hoà Vang cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số E 672XXX ngày 06/02/1995, qtrình sử dụng đất
ông Ph, bà L có chuyển nhượng cho một số người trong gia đình và chuyển nhượng cho
ông Huỳnh Đức Đ, chỉ chuyển nhượng với ông Huỳnh Đức Đ chkhông giao dịch
gì với ông Hà Anh T1. Tuy nhiên quá trình làm hồ sơ cấp lại Giấy chứng nhận thì được
biết ôngAnh T1 đang làm hồđăng ký quyền sử dụng đất đối với 1 phần diện tích
đất của ông, bà. Sau khi kiểm ra Hợp đồng chuyển nhượng và chữ ký cũng như kết quả
giải quyết tại quan Công an thì xác định phần diện tích chuyển nhượng cho ông
Huỳnh Đức Đ1 572m
2
nay tồn tại Hợp đồng chuyển nhượng cho ông Anh T1
286m
2
(Trong phần đất đã chuyển nhượng cho ông Đ1). Trước đây không hợp đồng
nên ông Ph, L khởi kiện, yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng này hiệu.
Nay ông bà xác nhận phần đất này đã chuyển nhượng thực tế, ông bà không còn quản
sử dụng nữa nên không tranh chấp gì với nguyên đơn.
Nay ông Ph, bà L xác nhận có ký hợp đồng chuyển nhượng ngày 18/6/1999 theo
như đại diện của ông Anh T1 trình bày (trước đây chỉ làm việc với ông Huỳnh
Đức Đ, giấy tờ do ông Đ đưa nên không để ý nội dung). Sau khi hợp đồng, ông
Ph, bà L đã nhận đủ tiền tngười nhận chuyển nhượng ông Huỳnh Đức Đ bàn giao
đất thực tế cho ông Đ (đồ kèm theo, hai bên đã cắm mốc xác định ranh giới). Từ
thời điểm nhận tiền bàn giao đất thì ông P, L không còn quản lý sử dụng đất này
nữa. Ông Ph, bà L đã rút yêu cầu khởi kiện tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng.
Đối với yêu cầu phản tố nay là yêu cầu khởi kiện của gia đình ông T1, bị đơn
ý kiến như sau:
Về hợp đồng: Công nhận tính pháp lý của hợp đồng, tuy nhiên về diện tích đất,
loại đất đề nghị của ông T1 về việc xác định ranh giới đất thì ông Ph, L đề nghị
giải quyết theo quy định pháp luật. Bởi từ thời điểm năm 1999, sau khi hai bên bàn giao
đất thực tế, gia đình ông Đ đã quản lý sử dụng. Sau đó ông Đ bán cho ai thì bà L và ông
Ph không biết.
Về yêu cầu buộc bà L, ông Ph phải cải chính công khai, xin lỗi, bồi thường tổn
thất về tinh thần tương ứng với 10 tháng lương bản 23.400.000đ thì bị đơn không
đồng ý. việc khởi kiện, tố cáo trước đây ông Ph, bà L đang thực hiện quyền của
công dân theo đúng quy định pháp luật.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – Ủy ban nhân dân phường Hoà Quý
nay Ủy ban nhân dân phường Ngũ Hành Sơn đã được Toà án thông báo về vụ án
nhưng không có ý kiến, yêu cầu gì và có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.
5
Kết quả xem xét tại chỗ ghi nhận: Phần diện tích đất ông Hà Anh T1 nhận chuyển
nhượng nằm trong thửa đất số 661, tờ bản đồ số 14 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số E 672XXX do Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang cấp ngày 06/02/1995 hiện trạng
phía Đông và phía Bắc giáp đường bê tông, phía Tây giáp đất trống, phía Nam giáp đất
bà Hà Thị L1, trên đất không ghi nhận công trình xây dựng.
Kết quả trưng cầu đo đạc thể hiện diện tích đất ông T1 thực tế đang quản sử
dụng diện tích 256,9m
2
, số thửa đất 182, thửa đất kế tiếp thửa đất Thị L1,
chiều dài 43,90m, không ghi nhận công trình trên đất.
Tại báo cáo số 115/BC-VPĐKĐĐ ngày 16/4/2019 của Văn phòng đăng đất đai
thành phố Đà Nẵng liên quan đến việc xử đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của ông Anh T1. Theo đó ông T1 đề nghị được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng từ ông Ph bà L nói trên và đề nghị
xác định loại đất là đất ở đô thị. Văn phòng đăng ký đất đai thành phố viện dẫn quy định
của Luật đất đai hiện hành, đối chiếu với giao dịch nhận chuyển nhượng, thông tin về
thửa đất và xác định phần đất nhận chuyển nhượng này là đất trồng cây lâu năm.
Ông Anh T1 đã khiếu nại việc xác định mục đích như trên của Văn phòng đăng
đất đai thành phố Đà Nẵng. Sau đó tại văn bản số 1267/STNMT-TTr ngày 06/5/2019
của Sở Tài nguyên & Môi trường thành phố Đà Nẵng đã có nội dung thống nhất với nội
dung báo cáo 115/BC-VPĐKĐĐ ngày 16/4/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai thành
phố Đà Nẵng.
Không đồng ý với văn bản số 1267/STNMT-TTr ngày 06/5/2019 của Sở tài
nguyên & Môi trường thành phố Đà Nẵng, Thị L1 tiếp tục đơn khiếu nại đến
Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng và ngày 04/8/2021 Chủ tịch UBND thành phố Đà
Nẵng kết luận số 4868/KL-UBND kết luật việc giải quyết tại Báo cáo số 115/BC-
VPĐKĐĐ ngày 16/4/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đà Nẵng và trả lời
của Sở tài nguyên & Môi trường tại văn bản số 1267/STNMT-TTr ngày 06/5/2019 là
cơ sở, đúng pháp luật.
* Với nội dung vụ án như trên, tại bản án dân sự thẩm số 339/2025/DS-ST ngày
26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39;
Điều 74; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng
dân sự; Điều 166, Điều 500, Điều 501, Điều 502, Điều 503 Bộ luật dân sự; Điều 167;
Điều 188 Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội;
6
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhân hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/6/1999 là hợp pháp; Không chấp nhận
đối với yêu cầu giao đủ diện tích đất 286m
2
và xác định mục đích đất là đất ở đô thị.
Không chấp nhận đối với yêu cầu cải chính, công khai xin lỗi, bồi thường thiệt
hại.
* Xử:
1/ Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/6/1999 giữa
ông Nguyễn Lương Ph, Nguyễn Thị L (Nguyễn Thị Kim L) với ông Hà Anh T1 được
Ủy ban nhân dân phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xác nhận
ngày 18/6/1999 là hợp pháp.
Ông Anh T1 thông qua người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng gồm v
Nguyễn Thanh Nh, các con là Hà Đức M, Hà Minh Q có quyền quản lý, sở hữu sử dụng
đối với phần diện tích đất 256,9m
2
đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 661, tờ bản đ
số 14 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 672XXX do Ủy ban nhân dân huyện
Hòa Vang cấp ngày 06/02/1995 nay được xác định là thửa đất số 182 tờ bản đồ số 239
tại phường Hoà Quý nay phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng (đồ kèm
theo).
Buộc ông Nguyễn Lương Ph, bà Nguyễn Thị Kim L phải thực hiện nghĩa vụ của
bên chuyển nhượng, hoàn thiện thủ tục pháp lý để ông Anh T1 thông qua người kế
thừa quyền và nghĩa vụ được đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần đất nói trên.
Trường hợp ông Ph, bà L cố tình không thực hiện tông Anh T1 thông qua
người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Phan Thanh Nh và các con là Hà Đức M,
Hà Minh Q có quyền liên hệ với cơ quan quản lý đất đai để đăng ký quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật về đất đai và các luật khác có liên quan.
2/ Về án phí: Buộc ông Nguyễn Lương Ph Nguyễn Thị Kim L phải chịu
300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; Buộc ông Hà Anh T1 thông qua
người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thanh Nh và các con là Hà Đức
M, Hà Minh Q phải chịu 1.170.000đ (Một triệu một trăm bảy mươi ngàn) án phí dân sự
thẩm nhưng được trừ vào số tiền 1.650.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số
0001663 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, nay
Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – Đà Nẵng. Hoàn trả cho ôngAnh T1 thông qua
người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thanh Nh và các con là Hà Đức
M, Hà Minh Q số tiền án phí còn lại là 480.000đ (Bốn trăm tám mươi ngàn đồng).
3/ Về chi pxem xét, thẩm định tại chỗ 3.000.000đ (Ba triệu đồng) buộc
Nguyễn Thị Kim L và ông Nguyễn Lương Ph phải chịu. Chi phí này nguyên đơn đã nộp
7
đã chi xong nên buộc ông Nguyễn Lương Ph Nguyễn Thị Kim L phải trả lại
cho ông Anh T1 thông qua người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng Nguyễn
Thanh Nh và các conHà Đức M, Hà Minh Q 3.000.000đ (Ba triệu đồng) chi phí xem
xét, thẩm định tại chỗ.
4/ Về chi phí thẩm định giá là 33.120.000đ (Ba mươi hai triệu một trăm hai mươi
ngàn đồng) và chi phí đo đạc là 1.375.105đ (Một triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn một
trăm lẻ năm đồng) nguyên đơn Hà Anh T1 thông qua người kế thừa quyền và nghĩa vụ
tố tụng phải chịu. (Đã nộp và đã chi xong).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo nghĩa vụ thi hành án
của các đương sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm, Người đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn - bà Hà
Thị L1 có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm s339/2025/DS-ST ngày 26 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng theo hướng chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của Nguyên đơn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Người đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn -
Thị L1 giữ nguyên nội dung kháng cáo.
* Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng phát
biểu về việc giải quyết vụ án như sau:
+ Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
ở giai đoạn phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về quan điểm giải quyết: Đề nghị HĐXX xác định lại tư cách tham gia tố tụng
của Nguyễn Thanh Nh; cháu Hà Đức M và cháu Hà Minh Q là đồng Nguyên đơn và
căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của
bà Hà Thị L1 Giữ nguyên nội dung bản án dân sự sơ thẩm số 339/2025/DS-ST ngày
26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng.
NHẬN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi Đại diện Viện kiểm sát
phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng:
[1] Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai UBND
phường Ngũ Hành Sơn, Văn phòng đăng đất đai thành phố Đà Nẵng Công ty
8
TNHH Thẩm định giá Đ đến tham gia t tng tại phiên toà nhưng các đương sự nêu trên
vẫn vng mặt không có lý do nên HĐXX căn cứ Điu 296 B lut t tng dân s để xét
x vng mt các đương sự nêu trên.
[2] Về cách tham gia tố tụng: Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ thể
hiện ông Hà Anh T1 có vợ là Nguyễn Thanh Nh và 02 con chung là cháu Hà Đức M và
cháu Minh Q, ngoài ra ông T1 không con riêng hay con nuôi nào khác. Ông T1
chết năm 2018 nhưng đến năm 2023 bà Nguyễn Thanh Nh; cháu Hà Đức M và cháu
Minh Q mới đơn phản tố đối với ông bà Nguyễn Thị Kim L ông Nguyễn Lương
Ph; trong quá trình giải quyết vụ án L ông Ph rút đơn khởi kiện Toà án cấp thẩm
đã thay đổi tư cách đương sự có căn cứ. Lẽ ra Toà án cấp sơ thẩm xác định xác định
bà Nh, cháu M và cháu Q là Nguyên đơn nhưng lại xác định bà Nh, cháu M cháu Q
người thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông T1 chưa chính xác. Tuy nhiên,
việc xác định cách của Toà án cấp thẩm cũng không làm thay đổi bản chất ván
nên Toà án cấp phúc thẩm cần điều chỉnh lại nội dung này cho phù hợp.
* Về nội dung:
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, Người đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn -
Hà Thị L1 ginguyên nội dung kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm số 339/2025/DS-
ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng theo hướng
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Xét kháng cáo của Nguyên đơn thì thấy:
[3.1] Đối với yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng ngày 18/6/1999 giữa
bên chuyển nhượng ông Nguyễn Lương Ph, Nguyễn Thị kim L bên nhận chuyển
nhượng ông Anh T1 là hợp pháp buộc ông Ph L phải bàn giao cho ông
T1 đủ diện tích 286m
2
đất ở đô thị theo đúng hợp đồng.
Ngày 18/6/1999, ông Nguyễn Lương Ph và bà Nguyễn Thị Kim L có lập hợp đồng
chuyển nhượng cho ông Anh T1 286m
2
loại đất thổ cư, thời hạn sdụng lâu dài, mục
đích sdụng xây dựng nhà ở. Phần diện tích chuyển nhượng nằm trong thửa đất số 661,
tờ bản đồ số 14 theo Giấy chứng nhận sE 672XXX do Ủy ban nhân dân huyện Hòa
Vang cấp ngày 06/02/1995. Bên bán đã nhận đủ tiền, bên mua là ông T1 đã nhận đất
xây nhà để ở có diện tích 30m
2
, đã cắm mốc ranh giới, có bản vẽ và được cấp phép xây
dựng sử dụng ổn định cho đến năm 2023 khi ông Ph L khởi kiện đối với ông
T1.
Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ trưng cầu đo đạc bản đồ thể hiện
phần diện tích đất tại Hợp đồng chuyển nhượng có vị trí phù hợp với vị trí miêu tả tại sơ
đồ khu đất xin chuyển nhượng lập ngày 18/6/1999diện tích thực tế là 256,9m
2
và đã
được xây gạch để làm ranh giới. Hiện trạng phía Đông và phía Bắc giáp đường bê tông,
phía Tây giáp đất trống, phía Nam giáp đất của Thị L1. Người đại diện theo uỷ
9
quyền của ông Anh T1 cũng chính là Thị L1 - chủ đất liền kề cũng xác nhận:
“bà chị ruột của ông Anh T1, hai chị em cùng mua lại đất này của ông Ph, L
sau đó xây ranh giới đất cùng với với căn nhà cấp 4 diện tích 30m
2
nhưng do bão
Xangsane vào năm 2006 nên phần nhà đã bị hỏng không còn, trên thực tế ông T1
cũng như bà L1 sử dụng đất ổn định cho tới nay.
Cũng theo Mảnh trích đo chỉnh 138 - 2024 ngày 12/8/2024 thì ranh giới theo
hiện trạng và ranh giới theo Giấy chứng nhận cấp năm 1995 có sự sai lệch về vị trí, mặt
khác theo trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thì khi chuyển
nhượng các bên kéo thước đo đạc và cắm mốc giới phần diện tích chuyển nhượng,
HĐXX thấy sở dĩ có sự thay đổi về diện tích tại thời điểm chuyển nhượng và thời điểm
tranh chấp do cách đo đạc thủ công khi chuyển nhượng cũng như sự biến động
trong quá trình sử dụng đối với thửa đất.
Do vậy, Toà án cấp sơ thẩmng nhận hợp đồng chuyển nhượng một phần diện
tích đất tại thửa đất số 661, tờ bản đồ số 14 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
E 672XXX do Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang cấp ngày 06/02/1995 giữa ông Nguyn
Lương Ph bà Nguyễn Thị Kim L với ông Hà Anh T1 với diện tích thực tế là 256,9m
2
có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[3.2] Đối với yêu cầu của Nguyên đơn về việc xác định mục đích diện tích đất
chuyển nhượng là đất ở đô thị:
Tại báo cáo số 115/BC-VPĐKĐĐ ngày 16/4/2019 Văn phòng đăng đất đai
thành phố Đà Nẵng đã xác định: “phần diện tích đất ông Anh T1 đang quản lý,
sử dụng đất trồng cây lâu năm, đồng thời tại tờ trình số 1267/STNMT-TTr ngày
06/5/2019 của Sở Tài nguyên Môi trường thành phố Đà Nẵng và Kết luận số
4868/KL-UBND 04/8/2021 của Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng cũng khẳng định
nội dung báo cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.
Mặt khác, tại hợp đồng chuyển nhượng ngày 18/6/1999 giữa ông Nguyễn Lương
Ph, Nguyễn Thị Kim L ông Anh T1 xác định: “loại đất thổ cư, thời hạn s
dụng lâu dài, mục đích sử dụng xây dựng nhà ” chứ không phải loại đất đô thị như
người đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn yêu cầu
Do đó T án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn về việc xác
định mc đích diện tích đất chuyển nhượng đất đô thị chcông nhận quyền sử
dụng đất của ông Anh T1 theo Hợp đồng ngày 18/6/1999 256,9m
2
loại đất trồng
cây lâu năm là có cơ sở.
[3.3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc đề nghị buộc bị đơn cải chính công
khai, xin lỗi và bồi thường thiệt hại:
10
Quá trình L ông Ph làm thủ tục đăng cấp giấy chứng nhận đối với thửa
đất tại tổ 57 phường H thì ông Hà Anh T1 đơn khiếu nại cũng liên quan đến thủ tục
cấp Giấy chứng nhận đối với một phần diện tích đất trước đây thuộc sở hữu của ông ,
vậy Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Ngũ Hành Sơn tạm dừng giải quyết
hồ sơ đối với ông Ph, bà L. Ông Ph, bà L đã làm đơn tố cáo cho rằng ông T1 đã làm giả
hợp đồng chuyển nhượng, giả chữ ký, chữ viết gửi Công an quận Ngũ Hành Sơn và Cơ
quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết quả giải quyết của
Cơ quan Công an thì ông Ph và L đã thực hiện việc khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án
nhân dân quận Ngũ Hành Sơn. Do vậy, Toà án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu
của nguyên đơn về việc đề nghị buộc bị đơn cải chính công khai, xin lỗi và bồi thường
thiệt hại là có căn cứ.
[3.4] Đối với đề nghị của nguyên đơn về việc xem xét trách nhiệm của ông Nguyễn
Lương Ph và bà Nguyễn Thị Kim L về tội “Vu khống” theo Điều 156 Bộ luật hình s:
Xét thấy đề nghị của Nguyên đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
thuộc thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát điều tra nên Toà án cấp sơ thẩm không xem
xét là có căn cứ.
Từ những phân tích trên, HĐXX thấy Toà án cấp thẩm chấp nhận một phần
yêu cầu của Nguyên đơn có căn cứ. Do vậy, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của
Nguyên đơn giữ nguyên nội dung Bản án dân s thẩm số 339/2025/DS-ST ngày
26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng như đề nghị của đại
diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa.
[4] Về án phí:
[4.1] Về án phí dân sự thẩm: Do chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện nên
ông Nguyễn Lương Ph Nguyễn Thị Kim L phải chịu án phí dân sthẩm
300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng);
Bà Nguyễn Thanh Nh; cháu Hà Đức Mcháu Hà Minh Q phải chịu án phí dân
sự thẩm 1.170.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 1.650.000 đồng tạm ứng án
phí theo biên lai thu số 0001663 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận
Ngũ Hành Sơn (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – Đà Nẵng). Hoàn trả cho bà
Nguyễn Thanh Nh; cháu Hà Đức M và cháu Hà Minh Q số tiền là 480.000 đồng.
[4.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên người bà
Nguyễn Thanh Nh; cháu Đức M cháu Minh Q phải chịu án phí dân sphúc
thẩm 300.000 đồng, nng đưc trừ vào số tin tạmng án p đã np 300.000 đồng
theo biên lai thu số 0004518 ngày 14/10/2024 tại Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
[5] Về chi phí tố tụng:
11
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ bà Nguyễn Thị Kim L và ông Nguyễn Lương
Ph phải chịu. 3.000.000đ (Ba triệu đồng), nhưng nguyên đơn đã nộp tạm ứng đã
chi xong nên buộc ông Nguyễn Lương Ph Nguyễn Thị Kim L phải trả lại cho bà
Nguyễn Thanh Nh; cháu Đức M cháu Minh Q số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu
đồng).
- Chi phí thẩm định giá tài sản là 33.120.000 đồng và chi phí đo đạc là 1.375.105
đồng bà Nguyễn Thanh N; cháu Đức Mvà cháu Minh Q phải chịu. (Đã nộp đã
chi xong).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 296 khoản 1 Điều 308 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 166, Điều 500, Điều 501, Điều 502, Điều 503 của Bộ luật
Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 167 và Điều 188 của Luật đất đai năm 2013;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Không chấp nhận kháng cáo của Nguyên đơn và giữ nguyên nội dung bản án dân
sự thẩm số 339/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu
vực 2 - Đà Nẵng.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/6/1999 là hợp pháp; Không chấp nhận
đối với yêu cầu giao đủ diện tích đất 286m
2
và xác định mục đích đất là đất ở đô thị.
1. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/6/1999 giữa
ông Nguyễn Lương Ph, Nguyễn Thị L (Nguyễn Thị Kim L) với ông Hà Anh T1 được
Ủy ban nhân dân phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xác nhận
ngày 18/6/1999 là hợp pháp.
Bà Nguyễn Thanh Nh; cháu Hà Đức M và cháu Hà Minh Q có quyền quản lý, sở
hữu sử dụng đối với phần diện tích đất 256,9m
2
đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số
661, tờ bản đồ số 14 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 672XXX do Ủy ban
nhân dân huyện Hòa Vang cấp ngày 06/02/1995 nay được xác định là thửa đất số 182 tờ
bản đồ số 239 tại phường H nay là phường N, thành phố Đ, phần diện tích đất có tứ cận
như sau:
- Phía Đông và phía Bắc giáp đường bê tông;
12
- Phía Tây giáp đất trống;
- Phía Nam giáp đất của bà Hà Thị L1.
(có sơ đồ, bản vẽ kèm theo).
Buộc ông Nguyễn Lương Ph Nguyễn Thị Kim L phải thực hiện nghĩa vụ
của bên chuyển nhượng, hoàn thiện thủ tục pháp lý để bà Nguyễn Thanh Nh; cháu Đ
và cháu Hà Minh Q được đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần đất nói trên.
Trường hợp ông Ph, bà L cố tình không thực hiện thì bà Nguyễn Thanh Nh; cháu
Hà Đức M và cháu Hà Minh Q có quyền liên hệ với cơ quan quản lý đất đai để đăng
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai và các luật khác có liên quan.
2. Không chấp nhận đối với yêu cầu cải chính, công khai xin lỗi, bồi thường thiệt
hại của Nguyên đơn.
3. Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Lương Ph và bà
Nguyễn Thị Kim L phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng);
+ Án phí dân ssơ thẩm bà Nguyễn Thanh Nh; cháu Hà Đức M và cháu Hà Minh
Q phải chịu 1.170.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 1.650.000 đồng tạm ứng án
phí theo biên lai thu số 0001663 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận
Ngũ Hành Sơn (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Đà Nẵng). Hoàn trả cho bà
Nguyễn Thanh Nh; cháu Hà Đức M và cháu Hà Minh Q số tiền là 480.000 đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Án phí dân sphúc thẩm bà Nguyễn Thanh Nh;
cháu Đức M và cháu Minh Qphải chịu là 300.000 đồng, nhưng đưc tr o stiền
tạmng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004518 ngày 14/10/2024 tại
Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
4. Về chi phí tố tụng:
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ bà Nguyễn Thị Kim L và ông Nguyễn Lương
Ph phải chịu. là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), nhưng nguyên đơn đã nộp tạm ứng và
đã chi xong nên buộc ông Nguyễn Lương Ph Nguyễn Thị Kim L phải trả lại cho
bà Nguyễn Thanh Nh; cháu Hà Đức M và cháu Hà Minh Q số tiền 3.000.000 đồng (Ba
triệu đồng).
- Chi phí thẩm định giá tài sản là 33.120.000 đồng và chi phí đo đạc là 1.375.105
đồng bà Nguyễn Thanh N; cháu Đức M cháu Minh Q phải chịu. (Đã nộp
đã chi xong).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân
sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi hành án,
13
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hánh án theo quy
định tại Điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TA-ND Khu vực 2 - Đà Nẵng;
- Phòng THADS Khu vực 2;
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án (1b), Tổ nghiệp vụ -
Văn phòng (1b).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Vũ Việt Dũng
Tải về
Bản án số 82/2026/DS-PT Bản án số 82/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 82/2026/DS-PT Bản án số 82/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất