Bản án số 118/2026/DS-PT ngày 27/03/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 118/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 118/2026/DS-PT ngày 27/03/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Quan hệ pháp luật: Y/c tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 118/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên t: Ông Hà Văn Nâu.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và bà Ngọ Thị Thanh Hảo.
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Bích - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Thân Mạnh Thắng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27/01/2026 và 27/3/2026, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 286/2025/TLPT-
DS ngày 27/10/2025, về việc: “Tranh chấp về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất”
do Bản án dân sự thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 01/8/2025 của Toà án nhân
dân khu vực 5 – Bắc Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 158/2025/QĐ-PT ngày
20/12/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Lại Thị Hồng Minh, sinh năm 1980; nơi đăng hộ
khẩu thường trú: Tổ 13, phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố
Nội;
Nơi tạm trú: Số 9 Nguyễn Duy Trinh, bán đảo Linh Đàm, phường Hoàng
Liệt, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Chu Thanh Nhân, sinh
năm 1969; địa chỉ: Thôn Văn Minh, Kim Anh, huyện Kim Thành, tỉnh Hải
Dương (nay là: Thôn Văn Minh, Phú Thái, thành phố Hải Phòng); vắng mặt
phiên toà ngày 27/01/2026, có mặt phiên toà ngày 27/3/2026.
2. Bị đơn: Ông Trần Minh Triển, sinh năm 1958; nơi đăng hộ khẩu
thường trú: Số 42, đường Thị Sáu, phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền, thành
phố Hải Phòng. Địa chỉ nơi thiện nay: Thôn Thanh Văn 1, Lục Ngạn,
tỉnh Bắc Ninh, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn Linh
Luật Văn phòng luật sư Bảo An thuộc Đoàn luật tỉnh Bắc Ninh; mặt
khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số 118/2026/DS-PT
Ngày 27-3-2026
V/v: Tranh chấp về hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất
2
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Tất Thắng, sinh
năm 1967; địa chỉ: Tổ 3, khu Vĩnh Lâm, phường Mạo Khê, tỉnh Quảng Ninh, có
đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Minh Triển.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án dân sự thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 01/8/2025 của Toà
án nhân dân khu vực 5 – Bắc Ninh, thì nội dung vụ án như sau:
Tại đơn khởi kiện ngày 21/10/2022, bản tự khai, lời khai trong quá trình
giải quyết vụ án, nguyên đơn đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình
bày:
Lại Thị Hồng Minh người thuê của ông Trần Minh Triển toàn bộ
quyền sử dụng diện tích đất khoảng 5000m
2
các tài sản trên đất, bao gồm: 01
nhà bảo vdiện tích 53m
2
; 01 cổng sắt chạy bằng điện; 01 nhà điều hành 03
tầng, diện tích 110m
2
/sàn; 01 xưởng tôn khung sắt và nhà kho diện tích 2.569m
2
;
01 trạm biến áp 180 KVA; 01 dãy nhà cấp 4 lợp tôn, diện tích 383m
2
, địa chỉ tại
thôn Thanh Văn 1, Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang (nay thôn
Thanh Văn, xã Lục Ngạn, tỉnh Bắc Ninh).
Ngày 01/05/2022, bà Minh và ông Triển kí kết hợp đồng thuê đất, thời gian
thuê 05 năm (tính từ ngày 01/05/2022 đến ngày 01/05/2027). Đơn giá thuê
180.000.000 đồng/năm, đến năm thứ 2 thì giá thuê tăng lên 10%/năm. Mục
đích bà Minh thuê tài sản của ông Triển để sản xuất phân bón.
Khoảng tháng 12/2023, Minh phát hiện bị mất một số tài sản tại nhà
máy gồm: 01 máy sản xuất phân bón, trị giá: 385.000.000 đồng (ba trăm tám
mươi năm triệu đồng); 01 cân điện tử, trị giá: 150.000.000 đồng (một trăm m
mươi triệu đồng); phân bón, trị giá: 300.000.000 đng (ba trăm triệu đồng). Một
khung nhà sắt, trị giá: 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Tổng giá trị tài
sản là 1.035.000.000 đồng (một tỷ, không trăm ba mươi năm triệu đồng).
Khi Minh phát hiện tài sản nhà máy bmất, Minh đã trình báo đến
quan Công an huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Tại quan Công an, ông
Triển đã tự mình thỏa thuận với Minh sẽ chịu trách nhiệm bồi thường cho bà
Minh toàn bộ số tài sản nhà xưởng bị mất để Minh rút đơn trình báo
quan Công an. Đến ngày 24/12/2023, tại Công an huyện Lục Ngạn, Minh
ông Triển đã kết biên bản thỏa thuận về việc thanh toán gtrị của các tài sản
bị mất nêu trên. Theo đó, toàn bộ số tiền 1.035.000.000 đồng được đối trừ vào
tiền thuê tài sản trong hợp đồng thuê đất ngày 01/05/2022 đối với toàn bộ thời
gian thuê, tổng số tiền là 1.080.000.000 đồng (một tỷ, không trăm tám mươi
triệu đồng). Số tiền còn thiếu 45.000.000 đồng (bốn ơi năm triệu đồng)
Minh đã chuyển trả đủ vào tài khoản ngân hàng của ông Triển. Ông Triển xác
nhận bà Minh đã thanh toán đủ số tiền 1.080.000.000 đồng (một tỷ, không trăm
tám mươi triệu đồng).
Tuy nhiên, sau đó bà Minh được biết toàn bộ tài sản ông Triển cho bà Minh
thuê không phải tài sản của ông Triển là tài sản của ông Nguyễn Tất
Thắng. Theo Bản án số 16/2024/DS-PT ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Ninh về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thì ông Triển phải
3
nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Tất Thắng Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất (sau đây viết tắt GCNQSDĐ); trả lại toàn bộ mặt bằng nhà xưởng và các
tài sản trên các thửa đất GCNQSDĐ do UBND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc
Giang cấp ngày 27/06/2007 GCNQSDĐ s AK 022528, do UBND huyện
Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 27/06/2007.
Ngày 01/01/2014, ông Thắng ông Triển kết hợp đồng thuê tài sản
toàn bộ tài sản mà ông Triển cho bà Minh thuê. Theo thỏa thuận về thời hạn của
hợp đồng, thì hợp đồng này hết hiệu lực vào năm 2016, nhưng sau đó các bên
vẫn tự nguyện thực hiện hợp đồng và không có tranh chấp nên hợp đồng có hiệu
lực thi hành đến ngày 24/06/2019. Ngày 24/06/2019, ông Triển ông Thắng
xác lập thỏa thuận công nợ với nội dung khi ông Thắng trả hết nợ tông Triển
phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Thắng, đồng thời ông
Triển không trả tiền thuê nhà xưởng thì ông Triển phải trả lại nhà xưởng cho
ông Thắng. Ông Triển ông Thắng tự nguyện thay thế toàn bộ những thỏa
thuận trước đó bằng Văn bản Thỏa thuận công nợ ngày 24/06/2019. Do đó hợp
đồng thuê nhà xưởng chấm dứt kể từ ngày 24/06/2019.
Do đó, tại thời điểm ngày 01/05/2022 ông Triển kết hợp đồng cho bà
Minh thuê nhà xưởng trái với quy định của pháp luật. Bởi bản thân ông Triển
không phải chủ sử dụng đất và chủ sở hữu hợp pháp của các tài sản mà ông
Triển cho Minh thuê. Chính việc ông Triển cho Minh thuê nhà xưởng mà
không được sự đồng ý của ông Nguyễn Tất Thắng nên hai bên mới phát sinh
tranh chấp, dẫn đến việc ông Triển khởi kiện ông Thắng tại Tòa án nhân dân thị
xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Bà Minh xác định hợp đồng thuê đất ngày 01/05/2022 giữa bà Minh và ông
Triển đối với diện tích đất khoảng 5000m
2
các tài sản trên đất nêu trên
hiệu do đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được đã làm ảnh hưởng
trực tiếp đến các quyền và lợi ích của bà Minh. Cho nên bà Minh yêu cầu Tòa án
nhân dân huyện Lục Ngạn tuyên bố hợp đồng thuê đất giữa bà ông Triển
hiệu buộc ông Triển phải hoàn trả cho Minh số tiền 1.080.000.000
đồng (một tỷ, không trăm tám mươi triệu đồng).
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị đơn ông Trần Minh Triển trình
bày: Ông Minh hợp động thuê đất như trên đúng. Phần diện tích
đất này ông thuê của ông Nguyễn Tất Thắng. Sau khi kết Minh không trả
tiền cho ông. Quá trình diễn biến cụ thể thế nào đến nay ông không nhớ,
Minh khởi kiện ông không nhất trí.
Tại bản tự khai người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tất
Thắng trình bày: Việc ông Trần Minh Triển và Lại Thị Hồng Minh thuê đất
cụ thể như nào thì ông không biết, không liên quan đến ông, nhưng sau này
ông được biết phần đất ông Triển cho bà Minh thuê chính phần đất
ông đã cho ông Triển thuê trước đó, thửa đất này thuộc quyền quản của ông.
Đến nay Minh yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng thuê đất giữa Minh với
ông Triển hiệu buộc ông Triển phải trả Minh số tiền 1.080.000.000
đồng (một tỉ không trăm tám mươi triệu đồng) ông không có ý kiến, đề nghị Tòa
4
án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Ông xác định thửa đất ông
cho ông Triển thuê là của cá nhân ông không liên quan đến bất cứ ai khác.
Vi ni dung trên, Bản án dân sự thẩm số 05/2025/DS-ST ngày
01/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 – Bắc Ninh, đã quyết định:
Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 122, Điều 131; điều 408, 500, 501, 502
Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 167; Điều 188 Luật đất đai năm 2013;
Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân
sự; Điều 12 Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Lại Thị Hồng Minh: Tuyên bố hợp
đồng thuê đất ngày 01/5/2022 giữa Lại Thị Hồng Minh ông Trần Minh
Triển hiệu. Buộc ông Trần Minh Triển phải thanh toán cho Lại Thị
Hồng Minh số tiền 1.080.000.000 đồng (một tỉ không trăm tám mươi triệu
đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền thi hành
án và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 25/8/2025, ông Trần Minh Triển kháng cáo bản án, nội dung: Không
đồng ý với bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử lại bản án thẩm
theo hướng không chấp nhận cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, chỉ đề nghị bị đơn phải trả nguyên đơn số
tiền 1.035.000.000 đồng. Đối với số tiền 45.000.000đ nguyên đơn không yêu
cầu; bị đơn ông Trần Minh Triển vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Các đương sự, người đại diện của đương sự có mặt tại phiên tòa không thỏa
thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp được tài liệu,
chứng cứ gì mới.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháo của bị đơn đề nghị HĐXX chấp
nhận kháng cáo của ông Trần Minh Triển, sửa bản án thẩm không chấp nhận
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải
quyết vụ án từ khi thụ vụ án đến trước khi mphiên toà, Thẩm phán Thư
Toà án tuân theo đúng trình ttố tụng. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử thực
hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự, đề nghị HĐXX phúc
thẩm: Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Minh Triển, sửa bản án
thẩm. Buộc ông Triển trả số tiền 1.035.000.000 đồng cho Lại Th Hồng
Minh.
Về án phí phúc thẩm: Ông Triển được miễn án pdân sự phúc thẩm theo
quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
5
[1]. Xét nội dung kháng cáo của ông Trần Minh Triển. HĐXX thấy:
Về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trần Minh Triển đăng ký hộ
khẩu thường trú tại số 42, đường Thị Sáu, phường Máy Tơ, quận Ngô
Quyền, thành phố Hải Phòng; nơi trú thôn Thanh Văn 1, Lục Ngạn, tỉnh
Bắc Ninh. Nguyên đơn đã lựa chọn Tòa án nơi thực hiện hợp đồng và nơi cư trú
của bị đơn để giải quyết vụ việc.
Do đó, Tòa án nhân dân dân khu vực 5 Bắc Ninh thụ giải quyết vụ
án đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 điểm g khoản 1
Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn Lại Thị Hồng
Minh đơn khởi kiện, đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng thuê đất ngày
01/5/2022 với ông Trần Minh Triển là giao dịch dân sự vô hiệu và xử lý hậu quả
của hợp đồng vô hiệu.
Bản án thẩm xác định quan hệ pháp luật:“Tranh chấp hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất” là đảm bảo theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX thấy: Cả
Lại Thị Hồng Minh ông Trần Minh Triển đều xác nhận giao kết hợp đồng
thuê đất ngày 01/5/2022, các bên thỏa thuận về thời hạn thuê, giá thuê
phương thức thanh toán; quyền và nghĩa vụ của các bên; phạt vi phạm nghĩa vụ;
phương thức giải quyết tranh chấp hiệu lực của hợp đồng được các bên thừa
nhận. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2
Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về hình thức của hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất ngày 01/5/2022
giữa Lại Thị Hồng Minh ông Trần Minh Triển: Hợp đồng được lập thành
văn bản, chữ của các bên. Các bên tham gia giao kết hợp đồng đều
năng lực pháp luật năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, không trái
đạo đức, không vi phạm điều cấm và phù hợp với quy định của pháp luật.
[4]. Về nội dung của hợp đồng: Các bên thỏa thuận về thời hạn thuê 05
năm kể từ ngày 01/5/2022; giá thuê phương thức thanh toán; quyền nghĩa
vụ của các bên; phạt vi phạm nghĩa vụ; phương thức giải quyết tranh chấp
hiệu lực của hợp đồng. Tuy nhiên, sau khi kết hợp đồng Minh mới phát
hiện thửa đất thuê của ông Triển không thuộc quyền của ông Triển mà thuộc
quyền của ông Nguyễn Tất Thắng, nên bà đã đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố
hợp đồng thuê đất này là vô hiệu.
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án, xác định thì thửa đất Minh
thuê của ông Triển thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Nguyễn Tất Thắng, do
đó đối tượng của hợp đồng thuê đất không thể thực hiện được. Khoản 1 Điều
408 Bộ luật dân sự quy định: “Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối
tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu.”. Do vậy, hợp đồng
thuê đất giữa Minh ông Triển bị hiệu. Do đó, Bản án thẩm xử chấp
nhận yêu cầu khởi kiện này của bà Minh là có căn cứ.
[5]. Xét yêu cầu của Minh về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng
hiệu: Bản án thẩm xác định, tại biên bản thỏa thuận ngày 24/12/2023 giữa
Minh ông Triển thỏa thuận: Ông Trần Minh Triển trách nhiệm trả cho
6
Minh số tiền 1.035.000.000 đồng (một tỉ, không trăm ba mươi lăm triệu
đồng) Minh chuyển khoản cho ông Triển 45.000.000đ, tổng số tiền
1.080.000.000 đồng (một tỉ, không trăm tám mươi triệu đồng), Minh được
đối trừ số tiền phải trả tiền thuê nhà xưởng đến ngày 30/4/2027, hai bên
không còn nợ nhau về tiền thuê đất nên xác định Minh đã thanh toán cho ông
Triển số tiền thuê đất đến ngày 30/4/2027 1.080.000.000 đồng (một tỉ, không
trăm tám mươi triệu đồng). đối tượng cho thuê không thuộc quyền quản lý,
sử dụng của ông Triển và hợp đồng này hiệu như nhận định trên nên
Minh yêu cầu ông Triển phải hoàn trả số tiền 1.080.000.000 đồng (một tỉ,
không trăm tám mươi triệu đồng) là có căn cứ.
Tuy nhiên, tại phần tranh tụng của phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, chỉ đề nghị bị
đơn phải trả nguyên đơn số tiền 1.035.000.000 đồng. Đối với số tiền
45.000.000đ nguyên đơn không yêu cầu.
HĐXX phúc thẩm xét thấy: Việc thay đổi nội dung yêu cầu trên hoàn
toàn tnguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ vào khoản 2 Điều
308 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo
của ông Trần Minh Triển, sửa bản án thẩm buộc bị đơn phải trả nguyên đơn
số tiền 1.035.000.000 đồng như ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên VKSND tỉnh
Bắc Ninh đã đề nghị tại phiên tòa phúc thẩm.
[6].Việc sửa Bản án sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 01/8/2025 của Toà án
nhân dân khu vực 5 Bắc Ninh do tình tiết mới tại phiên tòa phúc thẩm
nên cấp sơ thẩm không có lỗi trong việc bản án sơ thẩm bị sửa.
[7]. Về án phí dân sphúc thẩm: Do kháng cáo của Ông Trần Minh Triển
được chấp nhận nên căn cứ vào khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự, ông
Trần Minh Triển không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
[8]. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 313 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Minh Triển. Sửa Bản án
dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 01/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực
5 Bắc Ninh.
Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 122, Điều 131; Điều 408, 500, 501, 502
Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 167; Điều 188 Luật đất đai năm 2013;
khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Lại Thị Hồng Minh: Tuyên bố hợp
đồng thuê đất ngày 01/5/2022 giữa Lại Thị Hồng Minh ông Trần Minh
Triển là giao dịch dân sự vô hiệu.
Buộc ông Trần Minh Triển phải thanh toán trcho bà Lại Thị Hồng Minh
số tiền: 1.035.000.000 đồng (một tỉ, không trăm ba mươi lăm triệu đồng).
7
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
2. V án phí dân s phúc thm: Ông Trần Minh Triển không phải chịu tiền
án phí dân sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tnh Bc Ninh;
- TAND, VKSND khu vực 5 – Bắc Ninh;
- Thi hành án Dân sự tỉnh Bc Ninh;
- Cổng thông tin điện tử Tòa án;
- Các đương sự;
- Lưu: HS, VPHCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN T
Hà Văn Nâu
Tải về
Bản án số 118/2026/DS-PT Bản án số 118/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 118/2026/DS-PT Bản án số 118/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất