Bản án số 201/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 201/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 201/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 201/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Y L Hmŏk – Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 123/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk thụ lý, giải quyết lại theo thủ tục chung.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 201/2026/DS-PT
Ngày 31/3/2026
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
và hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Danh Đại
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị My My và bà Đinh Thị Tuyết
- Thư phiên tòa: Phan Thị Linh Chi - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Mai Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở TAND tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm
công khai ván dân sự thụ số 589/2025/TLPT-DS ngày 17/12/2025 về việc
“Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do
bản án dân sự sơ thẩm số 123/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 1 Đắk Lắk bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm số 142/2026/QĐ-PT ngày 12 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Y L, sinh năm 1962; địa chỉ: Buôn H, phường E, tỉnh
Đắk Lắk, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Công H, sinh năm
1986; địa chỉ: 17 L, phường B, tỉnh Đắk Lắk, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: H N, sinh năm 1948 (vắng mặt) và bà H N1, sinh năm 1986 (có
mặt); cùng địa chỉ: Buôn H, phường E, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H N: Bà H’N1 Hmŏk.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà H N1: Luật sư Võ Hữu D -
Văn phòng Luật sư Đ; địa chỉ: Khu nhà ADV01 tầng 1, Tòa nhà hội đường
T, phường T, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Sở N
2
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn M; C/v: Giám đốc Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố B; địa chỉ: 358 T, phường T, tỉnh Đắk Lắk, vắng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Y P và bà H Đ bố mẹ ông Y L. Trong quá trình chung sống thì bố mẹ
ông Y L có tạo lập được một thửa đất. Ngày 23/11/1995, Ủy ban nhân dân thành
phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 26/09/1996 H Đ chết,
ngày 21/7/2000 ông Y P chết, cả hai không để lại di chúc. Sau khi ông Y P chết
thì ông Y L là người trực tiếp sử dụng thửa đất tranh chấp đến nay.
Năm 2022, khi gia đình H N làm thủ tục tách thửa thì ông Y L mới phát
hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Hộ bố mẹ ông Y L bị sai vị trí.
Đồng thời phát hiện thửa đất ông Y L đang sử dụng lại nằm trong Giấy chứng
nhận quyền sdụng đất đã cấp cho Hộ gia Y B (chồng H N). Các bên thống
nhất ông Y L sẽ hỗ trợ gia đình tách thửa chuyển nhượng, sang tên lại diện tích
ông Y L đang sử dụng. Tuy nhiên, sau khi tách thửa thì gia đình H N lại
tặng cho thửa đất có một phần của nguyên đơn cho con gái là H N1.
Thửa đất tranh chấp trước đây thuộc quyền sử dụng của Hộ bố mẹ ông Y L.
Sau khi ông Y P và bà H Đ chết không để lại di chúc và ông Y L là con duy nhất
nên đương nhiên được thừa hưởng quyền sử dụng này. Ủy ban nhân dân thành
phố B cấp Giấy chứng nhận cho Hộ gia đình ông Y B trên cả phần đất của bố mẹ
ông Y L không đúng quy định. Đồng thời gia đình bà H N sang tên cho con gái
thửa đất cả phần đất nguyên đơn đang sử dụng không đúng. Từ những nội
dung nêu trên ông Y L đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột (Nay
là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk) giải quyết các yêu cầu sau:
- Thnhất, công nhận ông Y L được quyền sử dụng thửa đất diện tích
1.638,3m
2
(theo kết quả đo vẽ ngày 24/11/2024) tại E, thành phố B (Nay
phường E, tỉnh Đắk Lắk) có vị trí: Phía đông giáp H’M, phía tây giáp H N, phía
bắc giáp Y H, phía nam giáp H’ B.
- Thứ hai, hủy Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số DH 750430 do Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 18/11/2022 cho H N1 tại thửa
đất số 815, tờ bản đồ 9, diện tích 5.028,2m
2
tại E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
(Nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk).
Đối với diện tích đất và tài sản trên đất đang tranh chấp do ông Y L quản lý,
canh tác và sử dụng từ trước cho đến nay.
3
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H N1 và bà H N trình
bày:
Bà H N và Y L có mối quan hệ bà con, ruột thịt (chị em cùng bà ngoại, khác
mẹ), Mẹ đẻ ông Y L (bà H Đ) chết năm 1996, bố nuôi của ông Y L (ông Y P) chết
năm 2000. Khi Bố mẹ ông Y L còn sống (ôngY P, H Đ) cả hai đều được sự
chăm sóc nuôi dưỡng, thuốc thang đchữa trị bệnh tật từ gia đình H N. Khi
Bố, mẹ ông Y L chết (theo phong tục của người Ê Đê) kinh phí (một con bò
500.000 đồng tại thời điểm năm 1995) lo cho các công việc làm đám ma thời điểm
đó lớn hơn rất nhiều so với giá trị tài sản đất đang tranh chấp 1.638,3m
2
hiện
tại. Cả hai gia đình có thỏa thuận quy ước như sau: giá trị tiền bạc, vật chất để lo
việc ăn uống khi còn sống; chữa trị, làm đám ma lúc chết cho bmẹ ông Y L
tương đương giá trị tài sản là diện tích đất 1.638,3m
2
ông Y L đang khởi kiện
là tương đương nhau. Do không có tiền để trả lại cho gia đình bà H N nên ông Y
L đã đồng ý diện tích đất trên sẽ thuộc về tài sản của bà H N. Gia đình bà H N đã
được UBND thành phố Buôn Ma Thuột cấp GCNQSDĐ.
Thửa đất này bà H N đã tặng cho H N1 ngày 18/11/2022 đã được Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp GCNQSDĐ sDH 750430; thửa đất
số 815; tờ bản đồ số 9; diện tích: 5,028,2m
2
tại Ea Kao, thành phố Buôn Ma
Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Đối với diện tích đất và tài sản trên đất đang tranh chấp là do ông Y L quản
lý, canh tác và sử dụng từ trước cho đến nay.
Nay H N1 và H N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
về việc đòi lại diện tích đất 1.638,3 m
2
nằm trong thửa đất số 815; tờ bản đồ số 9;
diện tích 5.028,2m
2
tại xã Ea Kao, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường E,
tỉnh Đắk Lắk). Đề nghị Công nhận GCNQSDĐ số DH 750430; thửa đất số 815;
tờ bản đồ số 9; diện tích 5.028,2m
2
tại E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay
phường E, tỉnh Đắk Lắk) là hợp pháp.
* Người đại diện theo ủy quyền của SNông nghiệpMôi trường tỉnh
Đắk Lắk trình bày:
Về nguồn gốc: Ngày 23/11/1995, hộ ông Y B được Ủy ban nhân dân thành
phố B cấp GCNQSDĐ số G 998991 đối với thửa đất số 25, tờ bản đồ số 24, diện
tích 6.560m
2
(trong đó 400m
2
đất ở, 6.160m
2
phê), thửa đất tại E. Ngày
13/6/2022, Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố B nhận được hồ
thừa kế quyền sử dụng đất của H N, sau khi hoàn tất các thủ tục theo quy định.
4
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố B xác nhận chỉnh biến động
lên trang 4 GCNQSDĐ số G 998991 để thừa kế cho bà H N.
Hồ tặng cho quyền sử dụng đất giữa H N cho HB: GCNQSDĐ
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất s114594 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 09/8/2022 đối với thửa đất số 75
(cũ 25), tờ bản đồ số 9 (cũ 24), thửa đất tại xã E;
Ngày 30/9/2022, Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố B nhận
được hồ tặng cho quyền sử dụng đất của H N cho bà H N1. Ngày
13/10/2022, Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai thành phố B chuyển hồ
tặng cho quyền sử dụng đất của bà H’N1 đối với thửa đất số 815, tờ bản đồ số 9
trình Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đắk Lắk. Ngày 18/11/2022, Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Đăk Lăk cấp GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số DH 750430 cho bà H N1 đối với thửa đất số 815, tờ bản đồ số
9, diện tích 5.028,2m
2
(trong đó 180m
2
đất ở, 4.848,2m
2
đất trồng cây lâu năm),
thửa đất tại xã E.
Căn cứ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất trên; căn cứ Điều 188 Luật đất
đai 2013; Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
khoản 1 Điều 2 Thông 09/2021/TT-BTNMT ngày 30/6/2021 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường thì việc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố
B xử lý hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất cho bà H N1 Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đắk Lắk cấp GCNQSDĐ đúng với quy định của pháp luật hiện
hành.
Do đó, đối với nội dung khởi kiện của ông Y L đề nghị hủy GCNQSDĐ số
DH 750430 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 18/11/2022
cho H N1 tại thửa đất s815, tờ bản đồ số 9, diện tích 5028.2m2 tại E
không có cơ sở.
Bản án dân sự thẩm số 123/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk đã quyết định:
1. Áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều
500, 502, 503, 579, 580 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 12, Điều 27 nghị quyết
số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Bác đơn khởi kiện của ông Y L về việc yêu cầu công nhận quyền
sử dụng thửa đất có diện tích 1638,3 m2 nằm một phần trong thửa đất số 815, tờ
bản đồ 9, diện tích 5028,2 m tại xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường
E, tỉnh Đắk Lắk) mang tên bà H’N1 vị trí: Phía đông giáp H’M, phía tây giáp
5
H’N1, phía bắc giáp H’N1, phía nam giáp H’ B và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số DH 750430 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk
cấp ngày 18/11/2022 cho H’N1 tại thửa đất số 815, tờ bản đồ 9, diện tích 5028,2
m
2
tại xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk).
Ông Y L nghĩa vụ giao lại diện tích đất 1638,3 m
2
nằm một phần trong
thửa đất số 815, tờ bản đồ 9, diện tích 5028,2 m
2
tại xã E, thành phố B, tỉnh Đắk
Lắk (nay phường E, tỉnh Đắk Lắk) vị trí tứ cận như sau: Phía đông giáp
H’M, phía tây giáp H’N1, phía bắc giáp H’N1, phía nam giáp H’ B cho bà H’N1
quản sử dụng. (Theo đồ đo vẽ hiện trạng thửa đất ngày 24/10/2024 của
Công ty TNHH Đo đạc vấn nông lâm nghiệp tỉnh Đắk Lắk) tài sản trên đất bao
gồm: 236 cây cà phê, 04 cây sầu riêng, 02 cây xoài, 03 cây bơ, 03 cây mãng cầu,
01 cây chùm ruột, 02 cây chuối. Tổng trị giá tài sản 460.293.000 đồng (Trong đó
đất là 414.490.000 đồng, tài sản trên đất là 45.803.000 đồng).
H’N1 nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản trên đất cho ông Y L số tiền
là 45.803.000 đồng.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền
kháng cáo.
Ngày 30/9/2025, nguyên đơn ông Y L kháng cáo toàn bộ bản án thẩm.
Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn
Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện
nội dung kháng cáo, các đương skhông thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án.
* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương s
đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự
2015; đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Y L Hủy Bản án
dân sự sơ thẩm số 123/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực
1 Đắk Lắk, chuyển hồ cho Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk thụ lý, giải
quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án, được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên sở xem
xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên các đương
sự. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
6
[1] Xét yêu cầu khởi kiện nội dung kháng cáo của nguyên đơn, thấy rằng:
[1.1] Về nguồn gốc quá trình quản lý, sử dụng đất đang tranh chấp: Quá
trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thừa nhận nguồn gốc đất đang tranh
chấp diện tích 1.638,3m
2
thuộc một phần thửa đất số 815, tờ bản đồ số 9, tại
E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay phường E, tỉnh Đắk Lắk) của bố mẹ
nguyên đơn ông Y P (chết năm 2000) và bà H’Đ (chết năm 1996). Sau khi ông Y
P và H’Đ chết thì diện tích đất trên do nguyên đơn quản lý, sử dụng ổn định
cho đến nay, các tài sản trên đất đều do nguyên đơn tạo lập.
Bị đơn cho rằng giữa nguyên đơn bị đơn thỏa thuận miệng về việc khấu
trừ quyền sử dụng đất đang tranh chấp để đắp chi phí mai táng chăm sóc
bị đơn đã bỏ ra để lo cho bố mẹ nguyên đơn. Trên sở thỏa thuận miệng này,
gia đình bđơn đã tiến hành khai được UBND thành phố B cấp GCNQSDĐ
số G 998991 ngày 23/11/1995 cho hộ ông Y B (chồng của bị đơn H N) đối với
thửa đất số 25, tờ bản đồ số 24, diện tích 6.560m
2
tại xã E, thành phố B, tỉnh Đắk
Lắk (nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk). Xét thấy, GCNQSDĐ của gia đình bị đơn
đưc cp t năm 1995, trước khi b m nguyên đơn qua đời, do đó việc b đơn
cho rng bị đơn lo chi phí ma chay, chôn cất cho bố mẹ nguyên đơn nên nguyên
đơn và gia đình bị đơn thỏa thuận đổi đất không phù hợp về mặt thời gian. Bị
đơn cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh có thỏa thuận này giữa các bên,
không được nguyên đơn thừa nhận.
Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời trình bày của bị đơn
GCNQSDĐ đã cấp cho bị đơn để bác yêu cầu khởi kiện công nhận quyền sử dụng
đất của nguyên đơn không xem xét về nguồn gốc đất; quá trình quản lý, sử
dụng đất và tính hợp pháp của GCNQSDĐ là chưa đủ cơ sở.
[1.2] Về trình tự, thủ tục cấp GCNQSsố DH 750430 do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 18/11/2022 cho bà H N1, thấy rằng:
Ngày 23/11/1995, hộ ông Y B được UBND thành phố B cấp GCNQSDĐ số
G 998991 đối với thửa số 25, tờ bản đồ số 24, diện tích 6.560m
2
tại E, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk).
Sau khi ông Y B chết, thửa đất trên được để lại thừa kế cho bị đơn H N.
Ngày 09/8/2022, H N được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp
GCNQSDĐ số DĐ 114594 đối với thửa đất số 75 (cũ 25), tờ bản đồ số 9 (cũ 24),
diện tích 6.177,7m
2
.
Sau đó, H N tách thửa tặng cho một phần diện tích đất trên cho bà H’B,
bà H N1; chuyển nhượng một phần cho ông Ngô Thành N, bà Trần Thị Thùy T.
Ngày 18/10/2022, S Tài nguyên Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp
GCNQSDĐ số DH 798038 cho HB, đối với thửa đất số 817, tờ bản đồ số 9,
7
diện tích 687,1m
2
và GCNQSDĐ số DH 798039 cho ông Ngô Thành N, bà Trần
Thị Thùy T đối với thửa đất số 816, tờ bản đồ số 9, diện tích 462,4m
2
.
Ngày 18/11/2022, S Tài nguyên Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp
GCNQSDĐ số DH 750430 cho bà H’N1, đối với thửa đất số 815, tờ bản đồ số 9,
diện tích 5.028,2m
2
(bao gồm diện tích đất đang tranh chấp).
Xét thấy, diện tích đất 1.638,3m2 đang tranh chấp nằm trong thửa đất số 815,
tờ bản đồ số 9 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp GCNQS
số DH 750430 cho H’N1 nguyên đơn đang yêu cầu hủy GCNQSDĐ. Thửa
đất số 815 được tách ra từ thửa đất số 25, tờ bản đồ số 24, diện tích 6.560m
2
do
UBND thành phố B cấp GCNQSsố G 998991 ngày 23/11/1995 cho hộ ông Y
B. Nhưng cấp sơ thẩm không đưa UBND thành phố B là cơ quan cấp đất lần đầu
vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để làm
rõ quá trình cấp GCNQSDĐ có tiến hành đo đc hin trng, kim tra thực địa
lp biên bn xác nhn ranh gii gia các h lin k hay không; vic cp
GCNQSDĐ bao gồm c diện tích đất b m nguyên đơn qun lý, s dng
đã đúng trình t, th tục hay chưa. Đồng thời, GCNQSDĐ trên đã được đăng ký
biến động tặng cho H’B, H N1 chuyển nhượng cho ông Ngô Thành N,
Trn Th Thùy T. Trong trường hợp căn cứ xác định GCNQSDĐ lần đầu
năm 1995 cho hộ ông Y B cấp sai đối tượng hoc chng ln ranh gii thì các giao
dịch và GCNQSDĐ cấp sau đó sẽ b ảnh hưởng trc tiếp v mt hiu lc pháp lý.
Vic cấp thẩm không đưa những người nhn chuyển nhượng, tng cho nêu trên
vào tham gia t tng với cách người quyn lợi, nghĩa vụ liên quan nh
ởng đến quyn và li ích hp pháp ca h.
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày năm 2022 phát hiện
GCNQSDĐ do UBND thành phố Buôn Ma Thuột cấp ngày 30/01/1996 cho ông
Y P, thửa đất số 24, tờ bản đồ số 24, diện tích 4.040m
2
bị sai vị trí nên đã bị thu
hồi nhưng Tòa án cấp thẩm không thu thập hồ cấp đất do thu hồi
GCNQSDĐ cấp năm 1996 cho ông Y P để xác định hay không việc cấp
nhầm vị trí đất cho hộ ông Y P; sau khi thu hồi thì đã được cấp thẩm quyền
giải quyết như nào; v trí đất thc tếh ông Y P đưc cp là đâu; diện tích
đang tranh chấp liên quan đến GCNQSDĐ bị thu hi ca h ông Y P hay
không, dẫn đến vic gii quyết v án thiếu căn cứ xác đáng.
Đối với việc xem xét thẩm định tại chỗ: Tòa án cấp sơ thẩm ch đo đạc hin
trạng không trưng cầu quan chuyên môn thực hin vic lng ghép ranh gii
cấp GCNQSDĐ và din tích đt thc tế các đương sự đang quản lý, s dng để
xác định diện tích đất tranh chấp thuộc thửa đất nào là thiếu sót.
[1.3] Ngoài ra, nguyên đơn khởi kin yêu cu công nhn quyn s dụng đt
trên cho nguyên đơn dựa trên cách là người tha kế duy nht ca ông Y P
8
H’Đ. Tuy nhiên, Tòa án cấp thẩm chưa tiến hành xác minh, làm hàng
tha kế ca ông Y P và bà H Đ để đưa vào tham gia t tụng; đồng thời chưa giải
thích, hướng dẫn cho nguyên đơn về quyn khi kin chia di sn tha kế nhm
gii quyết triệt để v án.
[1.4] Từ những phân tích nêu trên, HĐXX phúc thẩm nhận thấy cấp sơ thẩm
đã thu thập chứng cứ không đầy đủ, đưa thiếu người tham gia tố tụng, đây những
vi phm thiếu sót nghiêm trng. Ti cp phúc phm không th khc phục được. Do
đó, cần chp nhn kháng cáo ca nguyên đơn ông Y L - Hy bn án dân s thẩm
s 123/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 Đắk Lắk.
Chuyn h sơ v án cho Tòa án nhân dân khu vực 1 Đắk Lắk gii quyết li theo
đúng quy định ca pháp lut.
[2]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên nguyên đơn không phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
[1] Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Y L Hủy Bản án dân sự
thẩm số 123/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 Đắk
Lắk. Giao hồ cho Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk thụ lý, giải quyết lại
theo thủ tục chung.
[2] Về án phí và chi phí tố tụng
- Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Sẽ được xử lý khi vụ án được giải
quyết lại theo quy định của pháp luật.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Y L không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1 - Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 1;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Bùi Danh Đại
Tải về
Bản án số 201/2026/DS-PT Bản án số 201/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 201/2026/DS-PT Bản án số 201/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất