Bản án số 85/2026/HS-PT ngày 03/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 85/2026/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 85/2026/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 85/2026/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 85/2026/HS-PT ngày 03/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 85/2026/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 03/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Công T và Ngô Thái B, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt;- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đức L, sửa Bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐK LK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 85/2026/HS-PT
Ngày 03 - 04 - 2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐK LK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr
Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Thu Hường
Bà Nguyễn Thị Thu Trang
- Thư ký phiên toà: Bà Lại Thị Minh Hiền, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông
Biện Tấn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 04 năm 2026, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai v án hình sự th lý số: 15/2026/TLPT-HS ngày 27/01/2026
đối với bị cáo Lê Đức L về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công
cộng”, bị cáo Lê Công T và Ngô Thái B về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Do có
kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2025/HS-ST ngày
12, 15/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk.
- Các bị cáo c kháng cáo:
1. Lê Đức L, sinh ngày 08/12/1984, tại tỉnh Phú Yên (Nay là tỉnh Đắk Lắk);
nơi cư trú: Khu phố M, phường H, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học
vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
con ông Lê Minh T1, sinh năm 1945 và con bà Ngô Thị V, sinh năm 1949; có vợ
Lê Thị Đ, sinh năm 1987 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh
năm 2015; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/5/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu
vực 3, Công an tỉnh P (Nay là Phân trại tạm giam khu vực Đ – Trại tạm giam số 02,
Công an tỉnh Đ), hiện đang tạm giam - Có mt tại phiên tòa.
2. Lê Công T, sinh ngày 16/01/1993, tại tỉnh Phú Yên (Nay là tỉnh Đắk
Lắk); nơi cư trú: Thôn H, xã T, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ học
2
vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
con ông Lê Tấn H, sinh năm 1969 và con bà Trần Thị T2, sinh năm 1968; có vợ Lê
Thị Mai C, sinh năm 2003 và 01 con sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
+ Ngày 20/9/2013, bị Chủ tịch UBND tỉnh P ra Quyết định đưa vào Cơ s
giáo dc về hành vi “Cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng”;
+ Ngày 08/9/2017, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền
750.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích” (Đã chấp hành);
+ Ngày 13/8/2024, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền
5.000.000 đồng về hành vi đánh người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm
hình sự (Đã chấp hành ngày 15/8/2024).
Bị cáo tại ngoại - Có mt tại phiên tòa.
3. Ngô Thái B, sinh ngày 10/10/1986, tại tỉnh Phú Yên (Nay là tỉnh Đắk
Lắk); nơi cư trú: Khu phố M, phường H, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông;
trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch:
Việt Nam; con ông Ngô Văn P, sinh năm 1960 và con bà Hà Thị P1 (Đã chết); có
vợ Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 1990 (Đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2017; tiền
án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại - Có mt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Đức L: Ông Nguyễn Thanh L1 – Luật sư
Công ty L2 và cộng sự thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: số D T, phường
B, thành phố Hồ Chí Minh và số F N, phường C, thành phố Hồ Chí Minh, có mt.
- Bị hại: Nguyễn T3, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu phố T, phường H, tỉnh
Đắk Lắk, vắng mt.
Ngoài ra, trong vụ án còn c 05 bị cáo khác gồm Lê Minh H1, Đinh Hoàng
H2, Nguyễn Thanh T4, Trương Văn B1 và bị cáo Trần Phương T5 nhưng không c
kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 10/6/2024, Lê Đức L cùng Ngô Thái B, Nguyễn Thanh
T4, Trương Văn B1, Trần Phương T5 và một số người bạn khác ngồi nhậu tại quán
OK 3 Con Dê, thuộc khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Nay là khu phố
P, phường H, tỉnh Đắk Lắk). Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi chuẩn bị ra
về, Võ Ngọc V1 (chủ quán OK 3 Con Dê) đang ngồi nhậu cùng Lê Minh H1, Đinh
3
Hoàng H2, Lê Công T, Nguyễn Văn T6, gọi Lê Đức L lại bàn để uống bia. L cầm
ly bia đến bàn của V1 và được V1 giới thiệu những người ngồi cùng. L nhắc lại
việc trước đây Lê Minh H1 đã đánh L nên giữa hai bên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã
lớn tiếng, thách thức đánh nhau.
Nguyễn Văn T6 và Lê Công T kéo Lê Minh H1 vào trong quán, còn Đinh
Hoàng H2 và Võ Ngọc V1 đẩy L ra ngoài đường Quốc lộ 29 để can ngăn. Tuy
nhiên, sau khi được mọi người can ngăn, H1 tiếp tc la hét, chạy ra trước quán tìm
L để đánh. L lớn tiếng thách thức H1. Lúc này, Lê Công T dùng tay đánh vào mt
L và ôm vật L ngã xuống đường. Cùng lúc đó, Lê Minh H1 và Đinh Hoàng H2
xông đến dùng tay, chân đánh L. Thấy L bị đánh, Ngô Thái B, Nguyễn Thanh T4,
Trương Văn B1 và Trần Phương T5 lao vào dùng tay, chân đánh nhau với H1, H2
và T làm nhóm của H1 bỏ chạy. L và B đuổi theo H2 để đánh. H1 chạy vào quán
lấy 02 cây kéo, H2 lấy 02 vỏ chai bia rồi cùng chạy ra rượt đuổi nhóm của L nhưng
không đánh trúng ai.
Lúc này, L chạy sang bên kia đường Quốc lộ 29 nht đá ném về phía nhóm
H1; T cũng nht đá ném trả về phía L. Trong lúc hai bên ném đá qua lại, một viên
đá do L ném đã trúng vào đầu Lê Công T gây thương tích. Sau đó, nhóm của L rời
khỏi hiện trường. V việc làm náo động khu vực, gây mất an ninh trật tự.
Sau khi sự việc xảy ra, H1 và T quay vào quán ngồi. H1 gọi điện cho
Nguyễn T3 để báo việc mình bị đánh. Thời điểm này, Nguyễn T3 đang dự tiệc sinh
nhật con của Nguyễn Hữu N1 tại quán P2, thuộc khu phố Đ, phường H, thị xã Đ
(nay là khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk) cùng Trần Kim T7, Nguyễn Văn T8,
Trần Xuân Đ1, Ngô Đức T9, Nguyễn Văn T10, Ngô Văn N2, Nguyễn Hữu T11,
Ngô Văn T12, Trần Minh N3 và một số thanh niên khác.
Khi T3 cùng nhóm này đến quán O Con Dê, H1 tiếp tc lớn tiếng la hét, yêu
cầu kéo đến nhà L để đánh trả. Lúc này, T3 yêu cầu T7 ch mình đến nhà L để hỏi
lý do vì sao đánh H1. Trần Kim T7 điều khiển xe mô tô biển số 78G1-298.11 ch
Nguyễn Văn T8 và Nguyễn T3 đến nhà L. Thấy T7 ch T3 và T8 đi về hướng nhà
L, Trần Xuân Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 78G1-343.98 ch Ngô Đức T9 đi
theo, còn Nguyễn Văn T10 điều khiển xe mô tô 79U1-6060 ch Ngô Văn N2 đi
sau.
Khi đến đoạn đường bê tông trước nhà của L thuộc khu phố M, phường H
(nay là khu phố M, phường H), nhóm của T3 bị nhóm của L xông vào đánh. T3 vừa
xuống xe thì bị Lê Đức L dùng rựa chém liên tiếp trúng vào vùng đầu, cẳng tay
phải, bàn tay phải và khuỷu tay trái gây thương tích. Ngô Thái B nht đá ném
4
nhưng không trúng ai, trong khi T7, T8, Đ1, T9 và T10 chạy vào giải vây đưa T3 đi
cấp cứu.
Ngay sau đó, một nhóm thanh niên chưa rõ lai lịch điều khiển xe mô tô đến
nhà L dùng gạch, đá ném vào nhà, làm hư hỏng 05 (năm) cánh cửa sổ bằng nhôm
kính và 02 (hai) chậu kiểng bằng sứ. Cùng thời điểm này, Lê Văn M, trên đường đi
chơi về, đi đến đoạn đường bê tông gần nhà L thì bị một người chưa rõ danh tính
dùng vật sắc nhọn đâm vào vùng lưng gây thương tích và được người nhà đưa đi
bệnh viện điều trị. Sự việc gây náo loạn, ảnh hưng nghiêm trọng đến an ninh trật
tự tại địa phương.
- Bản kết luận giám định số 235/KLTTCT-PYPY ngày 19/6/2024 của Trung
tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tổn thương cơ thể của Nguyễn T3 tại thời điểm giám
định là 08%. Bản kết luận giám định bổ sung số 306/KLTTCT-PYPY ngày
01/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tổn thương cơ thể của Nguyễn T3
là 13%. Tổng tỷ lệ thương tích cả phần tổn thương và di chứng qua hai lần giám
định là 20%.
- Bản kết luận giám định số 236/KLTTCT-PYPY ngày 19/6/2024 của Trung
tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tổn thương cơ thể của Lê Đức L tại thời điểm giám
định là 09%. Bản kết luận giám định bổ sung số 276/KLTTCT-PYPY ngày
19/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tổn thương cơ thể của Lê Đức L
tại thời điểm giám định là 09%. Tổng tỷ lệ thương tích cả phần tổn thương qua hai
lần giám định là 09%.
- Bản kết luận giám định số 274/KLTTCT-PYPY ngày 20/7/2024 của Trung
tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tổn thương cơ thể của Lê Minh H1 tại thời điểm giám
định là 13%.
- Bản kết luận giám định số 273/KLTTCT-PYPY ngày 20/7/2024 của Trung
tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tổn thương cơ thể của Lê Công T tại thời điểm giám
định là 02%.
- Bản kết luận giám định số 237/KLTTCT-PYPY ngày 19/6/2024 của Trung
tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tổn thương cơ thể của Lê Văn M tại thời điểm giám
định là 07%. Bản kết luận giám bổ sung số 277/KLTTCT-PYPY ngày 19/7/2024
của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tổn thương cơ thể của Lê Văn M tại thời
điểm giám định là 09%. Tổng tỷ lệ thương tích cả phần tổn thương qua hai lần
giám định là 09%.
5
- Bản kết luận định giá tài sản số 78/KL-HĐĐGTS ngày 14/11/2024 của Hội
đồng định giá tài sản thị xã Đ: Thiệt hại tài sản gồm 02 (hai) chậu hoa bằng sứ, 05
(năm) cánh cửa sổ bằng nhôm là 1.700.000 đồng.
- Lê Đức L, Lê Minh H1, Lê Công T và Lê Văn M đã có đơn không yêu cầu
khi tố.
Quá trình điều tra, Lê Đức L đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phc
hậu quả cho bị hại.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2025/HS-ST ngày 12, 15/12/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk, đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức L phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối
trật tự công cộng”. Các bị cáo Lê Công T và Ngô Thái B phạm tội “Gây rối trật tự
công cộng”.
+ Áp dng điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 2 Điều 318; điểm b khoản 1 (đối
với tội Cố ý gây thương tích), khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật Hình
sự, xử phạt bị cáo Lê Đức L 02 (H3) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02
(Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt
buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 04 (Bốn) năm 06 (S)
tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày
08/5/2025.
+ Áp dng khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58;
Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Công T 02 (H3) năm tù về tội “Gây rối
trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Áp dng khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58;
Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Thái B 02 (H3) năm tù về tội “Gây
rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành
án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo
khác gồm Lê Minh H1, Đinh Hoàng H2, Nguyễn Thanh T4, Trương Văn B1 và bị
cáo Trần Phương T5, về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền
kháng cáo theo quy định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 17/12/2025, bị cáo Lê Đức L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt;
- Ngày 23/12/2025, bị cáo Lê Công T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt;
6
- Ngày 29/12/2025, bị cáo Ngô Thái B có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt và xin hưng án treo.
* Tại phiên toà phúc thẩm:
- Các bị cáo Lê Đức L, Lê Công T và Ngô Thái B đã khai nhận hành vi phạm
tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã nhận
định, đồng thời giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phân tích, đánh giá tính
chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và xác định:
+ Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Đức L về tội “Cố ý gây thương
tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều
134; điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và xét xử các bị cáo Lê Công T và
Ngô Thái B về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2
Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp
luật.
+ Về mức hình phạt của các bị cáo Lê Công T và Ngô Thái B: Mức hình
phạt 02 năm tù đối với mỗi bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi
phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, các bị cáo cũng không có thêm tình tiết giảm
nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo
của các bị cáo Lê Công T và Ngô Thái B, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về
hình phạt
+ Đối với bị cáo Lê Đức L: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, bị cáo
L chưa thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị
cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội là thể hiện sự ăn năn hối cải nên đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, giảm cho bị cáo một
phần hình phạt, c thể xử phạt bị cáo 02 năm 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự
công cộng”, đồng thời áp dng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với tội “Cố ý gây
thương tích”, xử phạt bị cáo L 01 năm 06 tháng tù; tổng hợp hình phạt 02 tội buộc
bị cáo L phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 09 tháng tù.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Đức L trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét
xử bị cáo Lê Đức L về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công
cộng” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ
luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, mức hình phạt của bị cáo L là quá nng do bị
cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như nhận thức về pháp luật đối với hành vi gây rối
trật tự công cộng là quá kém, bị cáo cũng bị đánh gây thương tích 09 % và về hành
7
vi gây thương tích cho bị hại ông Nguyễn T3 là do bị kích động về tinh thần bi
hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra, xuất phát từ hành vi của bị hại và một số
người đến nhà bị cáo L để đánh trả thù. Mt khác, bị cáo có nhân thân tốt, hoàn
cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình nuôi 03 người con còn
nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dng điểm b, e, s khoản 1 khoản 2
Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L với mức án
nhẹ nhất.
Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo L tham gia tranh luận đối đáp với
nhau, nhưng đều giữ nguyên quan điểm như đã trình bày nêu trên.
Các bị cáo không tranh luận gì, bị cáo Lê Đức L và Lê Công T xin Hội đồng
xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Ngô Thái B xin giảm nhẹ hình phạt và
xin hưng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ v án đã
được tranh tng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại cơ quan điều tra và phiên toà sơ thẩm bị cáo Lê Đức L không thừa
nhận hành vi phạm tội nhưng tại phiên tòa phúc thẩm thì bị cáo đã khai nhận toàn
bộ hành vi phạm tội là phù hợp với diễn biến sự việc như đã kết luận trong Bản kết
luận điều tra, Bản cáo trạng và nội dung của Bản án hình sự sơ thẩm, đồng thời phù
hợp với lời khai của các bị cáo Lê Công T và Ngô Thái B cũng như các bị cáo
khác, bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ
v án.
Như vậy, đã có đủ cơ s để kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 10/6/2024,
tại phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là phường H, tỉnh Đắk Lắk), Lê Đức L,
Lê Minh H1, Lê Công T, Đinh Hoàng H2, Ngô Thái B, Nguyễn Thanh T4, Trương
Văn B1 và Trần Phương T5 đã t tập thành nhóm, có hành vi la hét, gây gổ và xô
xát đánh nhau. Trong đó, các bị cáo H1, H2, T sử dng kéo, chai bia làm hung khí,
rượt đuổi và tấn công nhau, đồng thời các bị cáo L, H1, T, B ném đá qua lại trên
tuyến Quốc lộ B và trong khu dân cư, làm mất an ninh trật tự, gây hoang mang cho
người dân tại khu vực. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu phố M,
phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là phường H, tỉnh Đắk Lắk), Lê Đức L tiếp
tc có hành vi sử dng rựa chém vào người ông Nguyễn T3, gây thương tích với tỷ
lệ tổn thương cơ thể là 20% và bị cáo Ngô Thái B đã có hành vi ném đá vào nhóm
của ông Nguyễn Thơm .
8
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Đức L về tội “Cố ý gây
thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm đ khoản 2
Điều 134, điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; xét xử các bị cáo Lê Công T,
Ngô Thái B về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2
Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo L, T, B; riêng bị cáo
B còn kháng cáo xin hưng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[2.1] Xét mức hình phạt của các bị cáo Lê Công T và Ngô Thái B: Mức hình
phạt 02 năm tù đối với mỗi bị cáo là thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành
vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, đồng thời mức án 02 năm tù là mức khi
điểm của khung hình phạt, các bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại
khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không thể áp dng dưới khung hình phạt mà
tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự có mức khi điểm là từ 02 năm tù tr lên và
tại cấp phúc thẩm cũng không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên Hội đồng xét
xử phúc thẩm không có cơ s để xem xét chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt của các bị cáo Lê Công T và Ngô Thái B cũng như kháng cáo xin được hưng
án treo của bị cáo B, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với các bị
cáo là phù hợp.
[2.2] Xét mức hình phạt của bị cáo Lê Đức L: Xét thấy tại cấp sơ thẩm, bị
cáo L chưa thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên Tòa án cấp sơ
thẩm không áp dng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điêm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật
Hình sự nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm
tội là thể hiện sự ăn năn hối cải. Mt khác, khi bị cáo đã về nhà thì người bị hại
cùng một số người khác (trong đó có cả bị cáo Ngô Thái B) đã đến nhà bị cáo L để
đánh trả thù nên bị hại cũng có một phần lỗi nhất định.
Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy có cơ s để chấp nhận kháng
cáo xin giảm nhẹ hình phạt cả hai tội cho bị cáo L, sửa Bản án hình sự sơ thẩm về
hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Lê Công
T và Ngô Thái B phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, riêng bị cáo Lê Đức L không
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:

9
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tng hình sự;
không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Công T và Ngô Thái B, giữ nguyên
Bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt;
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tng hình sự; chấp nhận
kháng cáo của bị cáo Lê Đức L, sửa Bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.
Tuyên xử:
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đức L phạm tội“Cố ý gây thương
tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”, các bị cáo Lê Công T, Ngô Thái B phạm
tội “Gây rối trật tự công cộng”.
[2]. Điều luật áp dụng và mức hình phạt:
[2.1] Áp dng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Đức L 01 (một) năm 09 (chín)
tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đức L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối
trật tự công cộng”.
Áp dng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lê Đức L
phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 08/5/2025.
[2.2] Áp dng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51
Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Công T 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công
cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt được tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[2.3] Áp dng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51
Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Thái B 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công
cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm:
- Bị cáo Lê Công T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí
hình sự phúc thẩm.
- Bị cáo Ngô Thái B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí
hình sự phúc thẩm.
10
- Bị cáo Lê Đức L không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đà Nẵng;
- Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc
thẩm tại Đà Nẵng (Viện phúc thẩm 2);
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk (PV06);
- Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 12 – Đắk Lắk; Y Phi Kbuôr
- VKSND khu vực 12 – Đắk Lắk;
- Phòng THADS Khu vực 12 – Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Các bị cáo;
- Người TGTT;
- Lưu hồ sơ v án.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 03/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm