Bản án số 46/2026/HS-PT ngày 31/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 46/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 46/2026/HS-PT ngày 31/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 46/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/03/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Huỳnh Ngọc S bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "Làm giả, sử dụng tài liệu của cơ quan, tổ chức" và Nguyễn K bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "Giả mạo trong công tác"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN T
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 46/2026/HS-PT.
Ngày: 31/3/2026.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Vũ;
Các Thẩm phán: Ông Võ Thái Sơn;
Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng.
- Thư phiên tòa: Ông Phan Minh Nhựt - Thư viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Ông Hứa Minh Thạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 31/3/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ (số A, đường
N, phường A, thành phố Cần Thơ), xét xử phúc thẩm, công khai vụ án hình sthụ
số 09/2026/TLPT-HS ngày 16/01/2026 đối với bị cáo Huỳnh Ngọc S (tên gọi
khác: S3) do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc S (tên gọi khác: S3) và người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Văn T, Nguyễn Thành Hiếu
T1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực X - Cần Thơ.
- Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Ngọc S; tên gọi khác: S3; sinh ngày:
05/02/1978; nơi sinh: tỉnh Gia Lai (tỉnh Bình Định ); nơi đăng thường trú:
Số A, Khu phố H, phường T, tỉnh Đồng Nai (số A, Khu phố H, phường T, thành
phố B, tỉnh Đồng Nai ); nơi ở hiện nay: Số I, đường số I, Khu phố D, phường
L, Thành phố Hồ Chí Minh (số I, đường số I, khu phố C, phường L, thành phố T,
Thành phố Hồ Chí Minh cũ); nghề nghiệp: mua bán xe; trình đvăn hóa: 8/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quc tịch: Việt Nam; con ông
Huỳnh S1 và bà Thị M; có vợ bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1978 và 02
người con, người con lớn sinh năm 2002, người con nhỏ sinh năm 2004; tiền án:
không; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/5/2023 đến ngày
02/10/2023 được cho bảo lĩnh, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi
khỏi nơi cư trú cho đến nay. (có mặt)
- Bị cáo không kháng cáo: Nguyễn Phú K; sinh ngày: 16/01/1994; nơi
sinh: tỉnh Nghệ An; nơi trú: Tổ dân phố Đ, phường S, tỉnh Tĩnh. (vắng mặt)
2
- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Ngọc S: Ông Huỳnh Chí T2 - luật
của Công ty L8 thuộc Đoàn luật thành phố C; địa chỉ trụ sở ng ty: Số C,
đường N, Khu V, phường T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có kháng cáo:
1. Ông Nguyễn Văn T; sinh ngày: 16/01/1991; nơi trú: Số D, đường L,
phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn T: Phạm
Thị Huỳnh N - luật của Văn phòng luật Như Phạm thuộc Đoàn luật Thành
phố H; Địa chỉ Văn phòng: Số E, đường H, phường M, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có mặt)
2. Ông Nguyễn Thành Hiếu T1; sinh năm: 1993; nơi trú: Số B, ấp X,
phường K, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo:
1. Ông Nguyễn Hữu T3; sinh năm: 1990; nơi cư trú: Số E, đường T, khu vực
Y, phường C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
2. Nguyễn Ngọc Thảo N1; sinh năm: 1994; nơi trú: Số E, đường T,
khu vực Y, phường C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
3. Ông Nguyễn Thanh S2; sinh năm: 1985; nơi trú: Số D, đường H,
phường N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
4. Ông Huỳnh Ngọc P; sinh năm: 1979; nơi cư trú: Số A, Khu V, phường H,
thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
5. Ông Trần Văn C; sinh năm: 1988; nơi cư trú: Số F, Tổ I, Khu V, phường
H, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
6. Nguyễn Thị Kim L1; sinh năm: 1988; nơi trú: Số D, khu tái định
M, đường N, phường T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
7. Ông Phạm Hoàng L2; sinh năm 1995; nơi trú: Số C, Tổ G, Khu V,
phường T, thành phố Cần Thơ; nơi ở hiện nay: Số A, Đường số A, khu dân cư N,
phường C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
8. Ông Lê T4; sinh năm: 1995; nơi cư trú: Số C, đường A, phường T, thành
phố Cần Thơ. (vắng mặt)
9. Ông Võ Hoàng Minh Q; sinh năm: 1992; nơi cư trú: ấp T, xã T, thành phố
Cần Thơ. (vắng mặt)
10. Ông Trần Văn H; sinh năm: 2002; nơi cư trú: ấp P, xã T, thành phố Cần
Thơ. (có mặt)
11. Ông Lương Hiếu T5; sinh năm: 1982; nơi trú: Số B, đường C, khu
dân cư T, phường T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
12. Ông Huỳnh Đ; sinh năm: 1984; nơi trú: Số A, chung cư C, phường C,
thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
13. Ông Tá H1; sinh năm: 1991; nơi trú: Số A, đường N, phường C,
thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
3
14. Ông Dương Thanh T6; sinh năm: 1987; nơi trú: Ấp D, V, thành
phố Cần Thơ; nơi hiện nay: Số B, đường H, phường A, thành phố Cần Thơ.
(vắng mặt)
15. Ông Lưu Thanh C1; sinh năm: 1981; nơi trú: ấp T, xã T, thành phố
Cần Thơ. (vắng mặt)
16. Ông Nguyễn Trung H2; sinh năm: 1985; nơi trú: Số A, đồng Đ,
phường B, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
17. Ông Lữ Triệu V; sinh năm: 1993; nơi cư trú: Số B, đường T, phường T,
thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
18. Ông Âu Thanh V1; sinh năm: 1983; nơi cư trú: Số A, đường B, phường
B, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
19. Ông Hunh Văn T7; sinh năm: 1987; nơi cư trú: Số F, đường P, phường
C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
20. Ông Nguyễn Việt K1; sinh năm: 1983; nơi trú: Số H, đường L, phường
N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
21. Nguyễn Thị Hồng G; sinh năm: 1976; nơi trú: Số A, đường B,
phường H, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
22. Ông T8; sinh năm: 1977; nơi trú: Số C, đường C, phường T,
thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
23. Ông Nguyễn Văn T9; sinh năm: 1977; nơi trú: Số A, đường N, phường
T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
24. Bà Trần Thị Trúc L3; sinh năm: 1966; nơi cư trú: ấp C, xã C, tỉnh Đồng
Nai. (vắng mặt)
25. Ông Huỳnh Anh V2; sinh năm: 1987; nơi trú: Số A, Khóm D, phường
T, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)
26. Ông Nguyễn Trung H2; sinh năm: 1987; nơi trú: Số B, đường Â,
phường C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi hiện nay: Số B, khu dân T (F),
phường H, Thành phố Hà Ni. (vắng mặt)
27. Ông Phùng Ngọc Tiến D; sinh năm: 1991; nơi cư trú: Số C, ấp M, xã R,
tỉnh Tây Ninh; nơi ở hiện nay: ấp Đ, xã R, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
28. Ông Trần Hoàng P1; sinh năm: 1993; nơi trú: ấp C, L, tỉnh Mau;
nơi ở hiện nay: Ấp D, xã R, tnh Tây Ninh. (có mặt)
29. Ông Phạm Nguyễn Song T10; sinh năm: 1996; nơi trú: ấp T, T,
tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
30. Ông Trương Thanh Đ1; sinh năm: 1985; nơi trú: khu phố B, xã B, tỉnh
Đồng Tháp. (có mặt)
31. Ông Đặng Thanh L4; sinh năm: 1980; nơi cư trú: khu phố B, xã B, tỉnh
Đồng Tháp. (vắng mặt)
32. Ông Phan Tuấn V3; sinh năm: 1988; nơi trú: Khu phố A, Đ, tỉnh
Tây Ninh. (vắng mặt)
4
33. Ông Lữ Thành Đ2; sinh năm: 2000; nơi trú: Ấp D, Đ, tỉnh Tây
Ninh. (có mặt)
34. Ông Nguyễn Tấn P2; sinh năm: 1983; nơi trú: Số I, đường T, khu phố
Đ, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
35. Ông Trần Bá L5; sinh năm: 1993; nơi cư trú: Số A, khu phố B, phường
T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của ông Trần Bá L5: Ông Phạm Ngọc T11, bà Lê
Thị Ngọc T12 và bà Trần Thị Thùy D1; cùng nơi cư trú: Số C, đường N, phường
T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
36. Ông Trần Thanh T13; sinh năm: 1990; nơi trú: SE, Khu phố C,
phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
37. Ông Nguyễn Duy P3; sinh năm: 1982; nơi trú: Số I, đường N, phường
L, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
38. Ông Trần Thiên P4; sinh năm: 1995; nơi trú: Tổ G, khu phố T, phường
C, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
39. Ông Viết C2; sinh năm: 1978; nơi trú: Tổ H, ấp T, C, Thành
phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
40. Ông Nguyễn Đình P5; sinh năm: 1991; nơi cư trú: khu phố P, phường B,
tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
41. Bà Võ Thị Tuyết D2; sinh năm: 1961; Nơi cư trú: Khu phố P, phường B,
tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
42. Ông Nguyễn Hoàng P6; sinh năm: 1979; nơi trú: Số I, Đường A,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người đi diện hợp pháp của ông Nguyễn Hoàng P6: Ông Phạm Ngọc T11,
Thị Ngọc T12 và Trần Thị Thùy D1; cùng nơi trú: Số C, đường N,
phường T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
43. Ông Nguyễn Hùng M1; sinh năm: 1984; nơi trú: Số F, Tỉnh lộ 43,
Khu phố G, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người đại diện hp pháp của ông Nguyễn Hùng M1: Ông Phạm Ngọc T11,
Thị Thu T14 Thị Ngọc T12; cùng nơi trú: Số C, đường N,
phường T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
44. Ông Thái M2; sinh năm: 1968; nơi trú: Số B, đường L, phường P,
Thành phố Hồ C Minh. (vắng mặt)
45. Ông Nguyễn Tuấn E; sinh năm: 1979; nơi cư trú: Ấp D, xã M, tỉnh Tây
Ninh. (vắng mặt)
46. Ông Nguyễn Quốc Đ3; sinh năm: 2001; nơi trú: Ấp D, M, tỉnh Tây
Ninh. (có mặt)
47. Ông Phan Thanh T15; sinh năm: 1990; nơitrú: ấp C, xã M, tỉnh Tây
Ninh. (vắng mặt)
5
48. Ông Nguyễn Văn Hoàng P6; sinh năm: 1998; nơi cư trú: ấp T, xã Đ, tỉnh
Tây Ninh. (có mặt)
49. Ông Đặng Anh T16; sinh năm: 1990; nơi trú: Số A, Quốc lộ F, phường
L, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
50. Ông Trà Nguyễn Duy K2; sinh năm: 1983; nơi trú: Số B, C, tỉnh
Tây Ninh. (có mặt)
51. Ông Bùi Công K3; tên gọi khác: T17; sinh năm: 1982; nơi cư trú: Số E,
Ấp C, phường L, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
52. Bà Nguyễn Ngọc N2; sinh năm: 1989; nơi cư trú: Ấp C, xã B, tỉnh Vĩnh
Long. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Ngọc N2: Ông Nguyễn Huy C3;
sinh năm: 1982; nơi cư trú: Ấp C, xã B, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)
53. Ông Nguyễn Minh T18; sinh năm: 1990; nơi cư trú: Số D, ấp B, phường
M, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
54. Ông Võ Nguyễn Hồng D3; sinh năm: 1992; nơi trú: Số I, Khu phố B,
phường P, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)
55. Ông Bùi Minh T19; sinh năm: 1999; nơi trú: ấp L, C, tỉnh Đồng
Tháp. (có mặt)
56. Ông Thành C4; sinh năm: 1981; nơi trú: Số D, ấp S, P, tỉnh
Vĩnh Long. (vắng mặt)
57. Ông Âu Chí L6; sinh năm: 1994; nơi cư trú: Số A, đường H, phường A,
Thành phố Hồ C Minh. (vắng mặt)
58. Ông Dương Thế V4; sinh năm: 1993; nơi cư trú: Số E, đường C, phường
T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
59. Ông Bùi Hoàng S3; nơi trú: Số B KDC I, phường T, thành phố Cần
Thơ. (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của ông Bùi Hoàng S3:Nguyễn Thị Cẩm T20;
nơi cư trú: Số B KDC I, phường T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Bùi Hoàng S3: Ông Trần
Văn Á - luật sư của Văn phòng L9 thuộc Đoàn luật thành phố C; địa chỉ Văn
phòng: Số A, đường T, phường T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Người làm chứng:
1. Ông Tấn P7; sinh năm: 1990; nơi trú: Khu phố B, T, tỉnh Tây
Ninh. (vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Đăng K4; sinh năm: 1991; nơi cư trú: Số C, ấp B, xã T, tỉnh
Tây Ninh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
6
Huỳnh Ngọc S người chuyên kinh doanh mua bán xe mô tô, cửa hàng tên
Phát L7 tại địa chỉ: số C, đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
thường đấu giá mua xe bị các quan chức năng trên cả nước tịch thu
bán đấu giá, về sửa chữa và tân trang lại để bán kiếm lời.
Năm 2018, S đến Công an thị xã K Ủy ban nhân dân thị K, tỉnh
Tĩnh liên hđấu giá mua được một 45 xe các loại theo Quyết định số
2031/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của UBND thị xã K về việc bán tài sản tịch thu
sung công quỹ Nhà nước cùng Hóa đơn số 0086815, ngày 07/8/2018 của Phòng
tài chính kế hoạch, UBND thị xã K, giá 19.130.000 đồng. Sau đó, S đến Công an
thị K gặp Ngọc D4 cán bộ Đội Cảnh sát kinh tế, Công an thị K, tỉnh
Hà Tĩnh để nhận hồ sơ của từng xe và nhận xe. Sơ nhận đủ hsơ 45 xe mô tô, hồ
tài liệu gồm: Quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
biên bản tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo từng xe. Bên cạnh
đó, Quyết định số 2031/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của UBND thị K; Hóa đơn
bán tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước số 0086815, ngày 07/8/2018 của Phòng
T24, Ủy ban nhân dân thị xã K; kết luận giám định của Phòng K6, Công an tỉnh
H; bảng kê chi tiết 45 xe mô tô thì chỉ nhận được một bản chính có dấu mc tròn
đỏ của các đơn vị có liên quan. Khi cần bán xe thì phải phô tô sao y, chứng thực
các tài liệu này kèm theo từng hồ sơ xe, để đăng ký mới. Sau đó, D4 chuyển công
tác về Phòng an ninh kinh tế, Công an tỉnh H nên thông báo lại cho S biết và nếu
yêu cầu về những vấn đề liên quan hồ sơ 45 xe mô trên thì liên hệ Nguyễn
Phú K - Thượng úy, cán bộ Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, Công an th
xã K (cũ), tỉnh Hà Tĩnh (Quyết định số 938/QĐ-CAT-PX01 ngày 18/5/2022 của
Công an tỉnh H về việc phân công nhiệm vụ).
Đầu năm 2019, biết được trên thị trường loại xe mô tô hiệu Yamaha ZR125
đang được bán với giá thành cao, khoảng trên 200.000.000 đồng/xe, nhưng không
được nhập khẩu chính ngạch, chxe hóa gđược phép mua bán. Do đó, S tìm
mua các xe Yamaha ZR125 trên thị trường nội địa Việt Nam không giấy tờ
hợp lệ liên hvới K thỏa thuận làm giả tài liệu hồ sơ để chứng minh các xe này
nguồn gốc xuất xứ từ 45 xe S đã mua qua đấu giá từ Quyết định
số 2031/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị K, nhằm mục
đích bán lại kiếm lời, cả hai thỏa thuận với nhau S sẽ trả công cho K 10.000.000
đồng/xe. Khi mua được xe Yamaha ZR125 tìm được khách hàng mua
lại cần làm thủ tục đăng ký xe thì S gửi thông tin về đặc điểm xe như màu sắc, s
khung, số máy, loại xe những thông tin liên quan khác cho K. Căn cứ vào thông
tin này, K lợi dụng chức vụ nhiệm vụ được giao để làm giả 165 tài liệu các
loại, gồm: Quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; Biên
bản tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính của Công an thị xã K, tỉnh
Tĩnh Công văn trả lời xác minh xe nguồn gốc. K đã soạn thảo văn bản
tại Đội Cảnh sát kinh tế, Công an thị xã K, chèn hình ảnh chữ scan của lãnh
đạo đơn vị vào văn bản, in ra rồi kẹp chung với các tài liệu khác chuyển đến
bộ phận văn thư để đóng dấu. Sau đó, K gửi các văn bản này vào Đồng Nai cho S
bằng đường xe khách chạy tuyến Bắc - N. Tổng số tiền K mới nhận của S
250.000.000 đồng, thì bị phát hiện nên chưa đưa đủ theo thỏa thuận.
7
Thông qua các đối tượng môi giới (chưa nhân thân), S thu mua các xe mô
tô Yamaha ZR125 cũ, với giá dao động từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng
mỗi xe, rồi tiến hành lắp ráp, sửa chữa tân trang lại. Sau đó, S làm giả 74 tài
liệu các loại, gồm: Bảng kê chi tiết 45 xe mô tô 02 bánh đã qua sử dụng; Kết luận
giám định của Phòng K6, Công an tỉnh H. Bằng hình thức thuê người soạn thông
tin về đặc điểm màu sắc, số khung, số máy rồi dán đè lên thông tin của xe khác
trong “Bảng chi tiết 45 xe 02 bánh đã qua sử dụng, kèm theo Hóa đơn
bán tài sản số: 0086815 ngày 07/8/2018” tại thị K thông tin xe trong kết
luận giám định của Phòng K6, Công an tỉnh H, phô tô ra nhiều bản, đến Ủy ban
nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai văn phòng C5 tại thị trấn L,
huyện C, tỉnh Đồng Nai yêu cầu sao y, chứng thực. Sau khi các tài liệu làm giả đã
được sao y, chứng thực, S bán cho Nguyễn Hữu T3 chủ cửa hàng X, địa ch
đường T, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ 17 xe loại Yamaha ZR125,
T3 làm thủ tục đăng tại Phòng C6, Công an thành phố C rồi bán cho khách
hàng. thuê Huỳnh Anh V2 làm dịch vụ đăng xe trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
25 xe loại Yamaha ZR125 01 xe Suzuki Sport 110, chi phí 500.000
đồng/xe. Đối với 14 xe loại Yamaha ZR125, S tự đăng tại Phòng C6,
Công an tỉnh L, Tiền Giang, Bình Dương. Bên cạnh đó, S bán cho Bùi Công K3
01 xe loại Yamaha ZR125, biển số 63B8-710.41 01 xe Honda Dream.
Sau khi nhận xe, Bùi Công K3 sửa chữa, tân trang rồi bán cho Võ Nguyễn Hồng
D3. Sau đó, D3 thuê Lưu Tấn T21 đăng ký tại Công an xã T, huyện T, tỉnh Tiền
Giang. Sau đó, S cùng Nguyễn Trung H2 - chủ cửa hàng xe máy Nông Dân, địa
chỉ tại đường Â, phường C, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh và Bùi Công K3 -
cửa hàng xe máy Thịnh Bình T22, địa chỉ đường S, xa l H, phường T, thành phố
T, Thành phố Hồ Chí Minh tìm khách hàng bán các xe đã đăng ký. Tổng số tiền
S mua 59 xe, mua phụ tùng tân trang lại xe, ng tiền in ấn tài liệu giấy tờ giả, chi
phí đi lại, ăn uống… đưa tiền cho Bùi Công K3 theo thỏa thuận
4.020.000.000 đồng. Sau khi bán những xe trên trừ các khoản chi phí S thu lợi bất
chính được 730.000.000 đồng.
Năm 2021, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Phòng C6, Công an thành
phố C phát hiện dấu hiệu làm giả trong 17 hồ sơ các xe nêu trên nên đơn
vị đã tiến hành rà soát, kiểm tra đối chiếu. Trên cơ sở đó, đơn vị đã ban hành Văn
bản số 132/PC08-ĐK ngày 08/02/2022 về việc kiến nghị và gửi hồ sơ đến Phòng
K6, Công an thành phố C đề nghị phối hợp xác minh làm rõ.
Qua quá trình điều tra mở rộng, Huỳnh Ngọc SNguyễn Phú K khai nhận:
đã câu kết với nhau làm gi59 hồ sơ xe tô, thuộc 45 xe mua theo
Quyết định số 2031/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị K,
tỉnh Hà Tĩnh. Sau đó, S tự đi đăng ký 16 hồ sơ xe, đồng thời liên hệ T3V2 để
làm thủ tục đăng 43 hồ xe tại Phòng Cảnh sát giao thông, Công an thành
phố C, Vĩnh Long, Long An, Mau, Bình Dương, Bến Tre, Tiền Giang, Hưng
Yên. Trong đó:
T3 đăng tại Phòng C6, Công an thành phố C 17 xe loại Yamaha
ZR125 gồm xe có các biển số: 65B2-339.23; 65B2-448.56; 65B2-464.56; 65B2-
470.99; 65B2-473.73; 65B2-489.01; 65B2-319.18; 65B2-293.07; 65B2-333.79;
8
65B2-450.65; 65B2-265.45; 65B2-374.20; 65B2-334.66; 65B2-307.99; 65B2-
303.60; 65B2-299.79; 69B1-640.84.
thuê V2 đăng tại Phòng C6 và Công an xã P, tỉnh Vĩnh Long 25 xe
loại Yamaha ZR125 gồm các biển số: 64B2-513.37; 64B2-504.91; 64B2-
504.44; 64B2-566.33; 64B2-523.10; 64B2-512.35; 64B2-567.08; 64B2-591.54;
64B2-586.04; 64B2-587.07; 64B2-590.08; 64B2-590.66; 64B2-587.44; 64B2-
568.44; 64B2-591.02; 64B2-580.94; 64B2-569.74; 64B2-545.33; 64B2-523.57;
64B2-485.96 và 64B2-623.83; 64B2-624.29; 64B2-623.82; 64B2-623.61; 64B2-
600.75 và 01 xe Suzuki Sport 110 biển số 64B2-623.88.
tự đăng hoặc thuê người khác đăng nhưng không nhớ người được
thuê đăng ký tại Phòng C6, Công an tỉnh L và tỉnh Bình Dương 14 xe mô tô loại
Yamaha ZR125 gồm các biển s: 62B1-694.15; 62B1-636.72; 62B1-631.91;
62B1-642.55; 62B1-675.48; 62B1-650.73; 62B1-589.12; 62B1-657.81; 62B1-
674.89; 62B1-597.65; 62B1-679.72; 62B1-657.60; 61B2-368.20; 65B2-470.18
và 01 xe Honda Dream biển số 62B1-622.77.
Đối với xe loại Yamaha ZR125, biển số 63B8-710.41 do bán cho
Bùi Công K3, Bùi Công K3 sửa chữa, tân trang lại rồi bán cho Võ Nguyễn Hồng
D3. D3 thuê Lưu Tấn T21 đăng ký tại Công an xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
- Kết luận giám định s 13/PC45-KTHS ngày 06/6/2018 của Phòng K6,
Công an tỉnh H kết luận trong các hồ gốc này sự khác nhau trong bảng
về vị trí, thông tin, đặc điểm cho từng xe.
- Kết luận giám định số 15/KL-KTHS(TL) ngày 31/3/2022 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận: Bảng kê chi tiết 45 xe mô tô có chứng thực tại Ủy
ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai được làm giả tại trang 2 vị
trí số thứ tự 15, 22, 23, 26, 32, 36 so với Bảng chi tiết 45 xe kèm theo
Quyết định số 2031/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của UBND thị xã K.
- Kết luận giám định số 16/KL-PC09(TL) ngày 11/3/2022 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận: Hình dấu tròn có nội dungC - CÔNG AN TỈNH
TĨNH” trên các tài liệu cần giám định hiệu A1, A2, A3 so với hình dấu
tròn có cùng nội dung đóng trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M5 do cùng
một con dấu đóng ra.
Kết luận giám định số 18/KL-PC09(TL) ngày 15/3/2022 của Phòng K6,
Công an thành phố C, kết luận: Hình dấu tròn có nội dung “C - CÔNG AN TỈNH
TĨNH” trên các tài liệu cần giám định hiệu tA1 đến A18 so với hình dấu
tròn trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M5 do cùng một con dấu đóng ra.
- Kết luận giám định số 23/KL-KTHS(TL) ngày 15/4/2022 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận về đối tượng giám định:
+ Hình dấu tròn nội dung ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG T.ĐỒNG
NAI” đóng trên các tài liệu cần giám đnh ký hiệu A1, A2 so với hình dấu tròn có
cùng nội dung đóng trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M3 do cùng mt con
dấu đóng ra.
9
+ Hình dấu tròn nội dung ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG T.ĐỒNG
NAI” đóng trên các tài liệu cần giám định ký hiệu từ A3 đến A16 so với hình dấu
tròn có cùng nội dung đóng trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M4 đến M11 do cùng
một con dấu đóng ra.
+ Chữ ký mang tên Nguyễn Phong P8 trên các tài liệu cần giám định ký hiệu
từ A1 đến A6 từ A11 đến A16 so với chữ của Nguyễn Phong P8 trên các
tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M11 do cùng một người ký ra.
- Kết luận giám định số 49/KL-PC09-TL ngày 30/6/2024 của Phòng K6,
Công an thành ph C kết luận về đối tượng giám định: hình dấu tròn có nội dung
C - CÔNG AN TỈNH TĨNH” trên c tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1
đến A6 so với hình dấu tròn trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M5 do cùng
một con dấu đóng ra.
- Kết luận giám định số 50/KL-KTHS-TL ngày 30/6/2022 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận: Kết luận giám định số 13/PC45-KTHS ngày
06/6/2018 của Phòng K6, Công an tỉnh H chứng thực tại Ủy ban nhân dân
phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai được làm giả tại trang 2 vị trí số thứ t14,
17; trang 3 vị trí số thứ tự 25, 29, 35; trang 4 vị trí số thứ tự 38, 40 so với bản
chính Kết luận giám định số 13/PC45-KTHS ngày 06/6/2018 của Phòng K6, Công
an tỉnh H.
- Kết luận giám định số 51/KL-KTHS-TL ngày 05/7/2022 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận: Bảng kê chi tiết 45 xe mô tô có chứng thực tại Ủy
ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai được làm giả tại trang 2 vị
trí số thứ tự 14, 17, 25; trang 3 vị trí số thứ t29, 35, 38, 40 so với bảng chi
tiết 45 xe kèm theo Quyết định số 2031/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của
UBND thị xã K.
- Kết luận giám định số 52/KL-PC09-TL ngày 05/7/2022 của Phòng K6,
Công an thành ph C kết luận về đối tượng giám định: hình dấu tròn có nội dung
C CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1
đến A14 so với hình dấu tròn trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M5 do cùng
một con dấu đóng ra.
- Kết luận giám định số 51/KL-KTHS-TL ngày 17/5/2024 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận về đối tượng giám định: Hình dấu tròn có nội dung
C CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1
đến A42 so với hình dấu tròn trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M5 do cùng
một con dấu đóng ra.
- Kết luận giám định số 52/KL-KTHS-TL ngày 10/5/2024 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận: bảng kê chi tiết 45 xe mô tô có chứng thực tại Ủy
ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai được làm giả tại trang 1 vị
trí số thứ tự 4, 6, 10, 13; trang 2 vị trí số thứ tự 15, 17, 20, 22, 25; trang 3 vị trí số
thứ tự 31, 32, 39, 40, 41 so với bảng kê chi tiết 45 xe mô tô kèm theo Quyết định
số 2031/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của UBND thị xã K.
10
- Kết luận giám định số 63/KL-KTHS-TL ngày 31/5/2024 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận về đối tượng giám định:
+ Hình dấu tròn nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG TAM HIỆP T.P BIÊN
HÒA T.ĐỒNG NAI” đóng trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1 đến A14 so
với hình dấu tròn có cùng nội dung đóng trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến
M11 do cùng một con dấu đóng ra.
+ Chữ ký mang tên Nguyễn Phong P8 trên các tài liệu cần giám định ký hiệu
từ A1 đến A3 so với chữ của Nguyễn Phong P8 trên các tài liệu mẫu ký hiệu
từ M1 đến M6 dong một người ký ra.
+ Chmang tên Duy T23 trên các tài liệu cần giám định hiệu t
A4 đến A14 so với chữ của Duy T23 trên các tài liệu mẫu hiệu tM7
đến M11 do cùng một người ký ra.
- Kết luận giám định số 64/KL-KTHS-TL ngày 10/6/2024 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận về đối tượng giám định:
+ Hình dấu tròn nội dung “VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG TRẦN THỊ
TRÚC LINH H.CẨM MỸ - T. ĐỒNG NAI S.Đ.K.H.Đ:32-C.T.H.D” trên các tài
liệu cần giám định hiệu A1 đến A7 so với hình dấu tròn cùng nội dung đóng
trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M4 do cùng một con dấu đóng ra.
+ Chữ ký mang tên Trần Thị Trúc L3 trên các tài liệu cần giám định ký hiệu
từ A1 đến A7 so với chữ ký của Trần Thị Trúc L3 trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ
M1 đến M4 do cùng một người ký ra.
- Kết luận giám định số 65/KL-KTHS-TL ngày 18/6/2024 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận về đối tượng giám định: Hình dấu tròn có nội dung
C CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1 đến
A20 so với hình dấu tròn có cùng nội dung đóng trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ
M1 đến M10 do cùng một con dấu đóng ra.
- Kết luận giám định số 98/KL-KTHS-TL ngày 26/7/2024 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận: bảng kê chi tiết 45 xe mô tô có chứng thực tại Ủy
ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai được làm giả tại trang 2 vị
trí sthứ tự 17 so với bảng chi tiết 45 xe kèm theo Quyết định số
2031/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của UBND thị xã K.
- Kết luận giám định số 97/KL-KTHS-TL ngày 26/7/2024 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận: Hình dấu tròn có nội dung C, CÔNG AN TỈNH
HÀ TĨNH” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A3 so với hình dấu
tròn cùng nội dung trên các tài liệu mẫu hiệu từ M1 đến M5 do cùng một
con dấu đóng ra.
- Kết luận giám định số 96/KL-KTHS-TL ngày 31/7/2024 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận về đối tượng giám định:
+ Hình dấu tròn nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG TAM HIỆP T.P BIÊN
HÒA T.ĐỒNG NAI” đóng trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với
11
hình dấu tròn có cùng nội dung đóng trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M6
do cùng một con dấu đóng ra.
+ Không đủ sở kết luận chữ mang tên Nguyễn Phong P8 trên tài liệu
cần giám định ký hiệu từ A1, A2 so với chữ ký của Nguyễn Phong P8 trên các tài
liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M6 do cùng một người ký ra.
- Kết luận giám định số 99/KL-KTHS-TL ngày 31/7/2024 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận: Kết luận giám định số 13/PC45-KTHS ngày
06/6/2018 của Phòng K6, Công an tỉnh H chứng thực tại Ủy ban nhân dân
phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai được làm giả tại trang 2 vị trí số thứ tự 17
so với bản chính Kết luận giám định số 13/PC45-KTHS ngày 06/6/2018 của
Phòng K6, Công an tỉnh H.
- Kết luận giám định số 174/KL-KTHS-TL ngày 20/12/2024 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận về đối tượng giám định:
+ Hình dấu tròn nội dung “VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG TRẦN THỊ
TRÚC LINH H.CẨM MỸ - T. ĐỒNG NAI S.Đ.K.H.Đ:32-C.T.H.D” trên các tài
liệu cần giám định hiệu A1 đến A5 so với hình dấu tròn cùng nội dung đóng
trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M4 do cùng một con dấu đóng ra.
+ Chữ ký mang tên Trần Thị Trúc L3 trên các tài liệu cần giám định ký hiệu
từ A1 đến A4 so với chữ ký của Trần Thị Trúc L3 trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ
M1 đến M4 do cùng một người ký ra.
- Kết luận giám định số 172/KL-KTHS-TL ngày 29/11/2024 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận: Bảng kê chi tiết 45 xe mô tô có chứng thực tại Ủy
ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai được làm giả tại trang 1 vị
trí số thứ tự 6, 9; trang 2 vị trí số thứ tự 15, 18, 21, 24, 27; trang 3 vị trí thứ tự 30,
31, 33, 38, 39, 41 so với Bảng chi tiết 45 xe kèm theo Quyết định số
2031/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của UBND thị xã K.
- Kết luận giám định số 173/KL-KTHS-TL ngày 13/12/2024 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận: Hình dấu tròn có nội dungC - CÔNG AN TỈNH
TĨNH” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A40 so với hình dấu
tròn cùng nội dung trên các tài liệu mẫu hiệu từ M1 đến M5 do cùng một
con dấu đóng ra.
- Kết luận giám định số 175/KL-KTHS-TL ngày 20/12/2024 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận về đối tượng giám định:
+ Hình dấu tròn nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG TAM HIỆP T.P BIÊN
HÒA T.ĐỒNG NAI” đóng trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với hình
dấu tròn cùng nội dung đóng trên các tài liệu mẫu hiệu từ M9, M10 do cùng
một con dấu đóng ra.
+ Hình dấu tròn nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG TAM HIỆP T.P BIÊN
HÒA T.ĐỒNG NAI” đóng trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A2 đến A15 so
với hình dấu tròn có cùng nội dung đóng trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến
M8 do cùng mt con dấu đóng ra.
12
- Kết luận giám định số 176/KL-KTHS-TL ngày 29/11/2024 của Phòng K6,
Công an thành phố C kết luận về đối tượng giám định:
+ Hình dấu tròn có nội dung “CÔNG AN TỈNH TĨNH *CÔNG AN THỊ
KỲ ANH” đóng trên các tài liệu cần giám định hiệu A1 so với hình dấu
tròn có cùng nội dung đóng trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M10 do cùng một con
dấu đóng ra.
+ Hình dấu tròn có nội dung “CÔNG AN TỈNH TĨNH *CÔNG AN THỊ
KỲ ANH” đóng trên các tài liệu cần giám định hiệu A2 đến A7 so với
hình dấu tròn có cùng nội dung đóng trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M9
do cùng một con dấu đóng ra.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm s 52/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Toà án
nhân dân khu vực X - Cần Thơ quyết định như sau:
- Căn cứ vào: Điểm a, điểm c khoản 3 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51,
Điều 17, Điều 55 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sa đổi, bổ sung năm
2017) đối với bị cáo Huỳnh Ngọc S; điểm a khoản 4 Điều 359, điểm b, điểm s,
điểm t, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 17 Điều 38 của Bộ
luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Phú
K.
- Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Ngọc S phạm tội “Làm giả tài liệu của quan,
tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của quan, tổ chức”; bị cáo Nguyễn Phú K phạm
tội “Giả mạo trong công tác”.
- Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Ngọc S: 03 năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ
quan, tổ chức”; 03 năm về tội “Sử dụng tài liệu giả của quan, tổ chức”. Tổng
hợp hình phạt đối với bị cáo Hunh Ngọc S: 06 (sáu) năm . Thời hạn chấp hành
hình phạt được khấu trừ vào ngày tạm gitạm giam, từ ngày 08/5/2023, đến
ngày 02/10/2023 là 04 tháng 24 ngày.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phú K 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày 10/5/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Đối với xe biển s62B1-679.72, số khung PMYKE
0600G0174987, số máy E101EK 174987, buộc Huỳnh Ngọc S Nguyễn Thành
H3 Trung liên đới trả lại Nguyễn Văn Hoàng P6 số tiền 320.000.000 đồng; Đối
với xe biển s 65B2-777.77, số máy E101EK302828; S khung
PMYKE0600H0302828, buộc Huỳnh Ngọc S Nguyễn Văn T liên đới trả lại
Bùi Hoàng S3Nguyễn Thị Cẩm T20 số tiền 540.000.000 đồng.
- Ngoài ra, bản án thẩm còn giải quyết về trách nhiệm dân sự liên quan
các trường hợp khác, xử lý tiền thu lợi bất chính, về xử lý vật chứng, về án phí
quyền kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
* Ngày 10/10/2025, bị cáo Huỳnh Ngọc S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án
sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
* Ngày 21/11/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông
Nguyễn Văn T đơn kháng cáo một phần bản án thẩm yêu cầu Tòa án cấp
13
phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng xem xét lại phần trách nhiệm dân sự
của ông Nguyễn Văn T.
* Ngày 27/10/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông
Nguyễn Thành Hiếu T1 có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng xem xét lại phần trách nhiệm
dân sự của ông Nguyễn Thành Hiếu T1.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Huỳnh Ngọc S thay đổi nội dung kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm xem xét giảm hình phạt không buộc bị cáo liên đới với người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bồi thường thiệt hại theo quyết định của
bản án sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn T giữ
nguyên nội dung kháng cáo về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại
phần trách nhiệm dân sự của ông Nguyễn Văn T, không thống nhất liên đới với
bị cáo Huỳnh Ngọc S bồi thường thiệt hại cho ông Bùi Hoàng S3 và Nguyễn Thị
Cẩm T20 số tiền 540.000.000 đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Thành Hiếu
T1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông T1 có văn bản đề nghị Tòa
án cấp phúc thẩm xem xét lại phần trách nhiệm dân sự của ông Nguyễn Thành
Hiếu T1, không thống nhất liên đới với bị cáo Hunh Ngọc S bồi thường thiệt hại
cho ông Nguyễn Văn Hoàng P6.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ về việc
giải quyết vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Ngọc Sơ K5 nhận hành
vi phạm tội đã thực hiện. Trong vụ án này, dấu hiệu gian dối chiếm đoạt tài sản
đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án người mua xe mô tô
từ bị cáo S. Đồng thời, Tòa án cấp thẩm giải quyết phần trách nhiệm dân sự
buộc bị cáo liên đới trả lại tiền mua xe cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án là không đúng quy định của pháp luật. Đối với kháng cáo của T, T1 cần
phải được xem xét lại khi v án được điều tra, truy tố, xét xử lại. Xét thấy, cấp sơ
thẩm còn nhiều thiếu sót, làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo S chưa
được xđầy đủ, thiếu sót này của cấp sơ thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm không
khắc phục được. Từ những cơ sở trên, đề nghị Hội đng xét xử phúc thẩm căn cứ
vào điểm c khoản 1 Điều 355 và Điều 358 ca Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025), hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ
cho Viện kiểm sát nhân dân thành ph Cần Thơ điều tra lại.
- Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Hunh Ngọc S trình bày: Thống
nhất với tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo S. Tại phiên tòa
phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt xem xét
không buộc bị cáo liên đới bồi thường thiệt hại. Thống nhất quan điểm của đại
diện Viện kiểm sát về việc hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, nhằm làm rõ trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của bị cáo và nếu Hội đồng xét xử hủy bản án thì cũng
14
cần lưu ý việc bị cáo S3 và ông T3 đã thống nhất việc hoàn trả tiền mua bán xe
khi điều tra lại cần làm rõ việc bị cáo làm hồ sơ giả để hưởng lợi chứ không trực
tiếp bán một số xe mô tô.
- Quan điểm của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người quyền
lợi, nghĩa v liên quan đến vụ án Nguyễn Văn T trình bày: Thống nhất quan điểm
của đại diện Viện kiểm sát về việc hủy bản án thẩm để điều tra lại, làm
những nội dung liên quan phần trách nhiệm dân sự, để bảo đảm quyền và lợi ích
hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Đồng thời, đề
nghị lưu ý việc Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện không đầy đủ theo quy định của
pháp luật việc tống đạt văn bản ttụng cho người quyền lợi, nghĩa vliên quan
đến vụ án.
- Quan điểm của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Bùi Hoàng S3 trình bày: Không cần thiết hủy
bản án sơ thẩm để điều tra lại, bởi vì vụ án này đã được điều tra, truy tố, xét xử
trong thời gian dài, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các cửa hàng kinh
doanh xe máy của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Trường hợp
bị cáo S có dấu hiệu phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thì có thể kiến nghị,
tách giải quyết bằng vụ án khác. Đối với phần trách nhiệm dân sự thì Tòa án cấp
phúc thẩm hoàn toàn thể giải quyết, trường hợp không đủ điều kiện thì tách
thành vụ án dân sự khác. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng
cáo của bị cáo S, buộc ông T hoàn trả cho cho ông S3, T20 số tiền 540.000.000
đồng.
- Nói lời sau cùng tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Huỳnh Ngọc S xin Hội
đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm hình phạt và không buộc bị cáo liên đới bồi
thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên
tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Phú K vắng mặt do bất khả kháng; người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thành Hiếu T1 vắng mặt và
đơn đề nghị xét xử vắng mặt, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án và người làm chứng vắng mặt không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ. Xét sự vắng mặt của họ không gây cản trở cho việc xét xử vụ án, căn
cứ vào các điều 351 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung các năm 2021, 2024, 2025), Hội đồng xét xphúc thẩm thống nhất quyết
định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét
Đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc S lập và nộp cho Tòa án cấpthẩm vào
ngày 10/10/2025; Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thành H3 Trung lập ngày
24/10/2025 gửi đến Tòa án cấp thẩm vào ngày 27/10/2025 (theo dấu bưu chính
15
nơi gửi) và Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn T lập ngày 21/11/2025 gửi đến
Tòa án cấp thẩm vào ngày 21/11/2025 (theo dấu bưu chính nơi gửi) đúng
quy định của pháp luật vngười kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội
dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 333 của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025). Tại phiên tòa, bị
cáo S thay đổi nội dung kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm
hình phạt không buộc bị cáo liên đới với người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án bồi thường thiệt hại theo quyết định của bản án thẩm. Căn cứ vào
các điều 342 và 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các
năm 2021, 2024, 2025), Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo
của bị cáo Huỳnh Ngọc S, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Nguyễn Thành Hiếu T1, Nguyễn Văn T theo trình tự phúc thẩm.
[3] Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm
bị cáo Huỳnh Ngọc K5 nhận: Từ năm 2019, bị cáo Huỳnh Ngọc S tự mình
thực hiện câu kết với bị cáo Nguyễn Phú K làm giả tài liệu để hợp thức hóa
đăng ký sở hữu đối với xe môkhông có hồ đăng ký sở hữu hợp pháp được
mua trên thị trường với giá mỗi chiếc từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000
đồng. Huỳnh Ngọc S đã làm giả 74 tài liệu các loại câu kết với bị cáo K làm
giả 165 tài liệu các loại. Bị cáo S đã sử dụng các tài liệu giả trên để tự mình hoặc
nhờ người khác thực hiện thủ tục đăng ký sở hu 57 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha
ZR125, 01 xe Honda Dream, 01 xe Suzuki Sport 110 không có hồ sơ đăng ký sở
hữu hợp pháp để bán ra thị trường với giá mỗi chiếc từ 175.000.000 đồng đến
560.000.000 đồng. Bị cáo K thu lợi bất chính từ số tiền bị cáo S chi trả
250.000.000 đồng. Sau khi đối trừ các khoản chi phí, bị cáo S thu lợi bất chính
730.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Huỳnh Ngọc
S phạm các tội “Làm giả tài liệu của quan, tổ chức” “Sử dụng tài liệu giả
của cơ quan, tổ chức” và kết luận bị cáo Nguyễn Phú K phạm ti “Giả mạo trong
công tác” căn cứ. Tuy nhiên, trong vụ án này, ngoài hành vi làm giả, sử dụng
tài liệu giả của quan, tổ chức, bị cáo S còn có hành vi gian dối để chiếm đoạt
tài sản của những người mua xe từ bị cáo, cụ thể là bị cáo S đã làm, sử dụng
tài liệu giả để hợp thức hóa thủ tc đăng quyền shữu các xe không hợp
pháp rồi bán lại cho người mua thu lợi bất chính, hành vi ca bị cáo S đã làm thiệt
hại quyền và lợi ích hợp pháp của người mua xe mô tô từ bị cáo S làm thiệt hại
quyền lợi ích hợp pháp những người quyền lợi, nghĩa vliên quan đến vụ
án. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng việc điều tra, làm hành vi gian dối,
chiếm đoạt tài sản của bị cáo S căn cứ quan trọng để làm sở xem xét toàn
diện trách nhiệm hình sự đối với bị cáo S bcáo K trong vụ án và là căn cứ giải
quyết phần trách nhiệm dân sự, xử vật chứng của vụ án nhưng việc điều tra ở
cấp thẩm không đầy đcấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Do đó, Hội
đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Cần Thơ, chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo S, người
bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn T, không chấp nhận đề
nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Bùi Hoàng S3. Căn cứ
vào điểm c khoản 1 Điều 355 điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng
16
hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024, 2025), Hội đồng xét xử
phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại. Đối với nội
dung kháng cáo của bị cáo S, nội dung kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Văn T và Nguyễn Thành Hiếu T1, về việc yêu cầu
xem xét phần trách nhiệm dân sự sẽ được xem xét khi vụ án được xét xử lại theo
quy định của pháp luật.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2
Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021,
2024, 2025) điểm f khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do Hội đồng xét xử
phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại nên bị cáo người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án có kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025).
Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực X - Cần Thơ đđiều tra lại. Giao hvụ án cho Viện kiểm
sát nhân dân thành phố Cần Thơ để điều tra lại.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm:
- Căn cứ vào: khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025) và điểm f khoản 2 Điều
23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Huỳnh Ngọc S (tên gọi khác: S3) không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn T
ông Nguyễn Thành Hiếu T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ GĐ, KT 1-TANDTC (01);
- VKSND TP. Cần Thơ (01);
- TAND khu vực X - Cần Thơ (02);
- VKSND khu vực X - Cần Thơ (01);
- CQCSĐT - Công an TP. Cần Thơ (02);
- CQTHAHS - Công an TP. Cần Thơ (02);
- Phòng THADS khu vực X - Cần Thơ (01);
- UBND phường Đông Trí, tỉnh Hà Tĩnh (01);
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng du)
17
- CA phường Đông T, tỉnh Hà Tĩnh (01);
- UBND phường Linh Xuân, TP. HCM (01);
- CA phường Linh Xuân, TP. HCM (01);
- Trại giam Cái Tàu, Bộ Công an (01);
- Bị cáo (02);
- Người TGTT khác (63);
- P.GĐ, KT, TTr & THA-TAND TP. CT (01);
- Phòng HSNV-Công an TP. Cần Thơ (01);
- Lưu HSVA, THS (04).
Lê Thanh Vũ
Tải về
Bản án số 46/2026/HS-PT Bản án số 46/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 46/2026/HS-PT Bản án số 46/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất