Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT ngày 30/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 15/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT ngày 30/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 15/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/03/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 15/2026/HNGĐ -PT
Ngày: 30/3/2026
V/v “Tranh chấp ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương
Các Thẩm phán: Bà Lê Hồng Hạnh
Bà Bùi Lan Hương
- Thư phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân TTòa án nhân dân tỉnh Đồng
Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Nguyễn Ngọc Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử
phúc thẩm công khai vụ Hôn nhân gia đình thụ lý số 05/2026/TLPT-HNGĐ ngày
27/02/2026 về việc: “Tranh chấp ly hôn”. Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ
thẩm số 03/2026/HNGĐ-ST ngày 12/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 -
Đồng Nai bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2026/QĐ-PT
ngày 03 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1941.
Địa chỉ: Thôn C, ấp T, xã B, tỉnh Đồng Nai
- Bị đơn: Trần Thị B, sinh năm 1963.
Địa chỉ: Số B, thôn C, ấp T, xã B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà B có mặt, ông Đ xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khi kin, li khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
ông Nguyễn Đình Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2020, ông Trần Thị Bích kết H với nhau
và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã B, tỉnh Đồng
Nai) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 102/2020 ngày 30/10/2020. Nguyên nhân
ông xin ly hôn do vợ chồng bất đồng trong quan điểm, cuộc sống hôn nhân không
2
hòa hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, cả hai đã tìm ch hòa giải khắc
phục mâu thuẫn nhưng không kết quả. Do quan hệ tình cảm không còn, mục
đích hôn nhân không đạt được nên nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
cho ông được ly hôn với bà B.
Về con chung: 01 con chung cháu Nguyễn Trần Minh Đ1, sinh ngày
03/5/2007. Cháu Đ1 đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu a án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ngày 19/5/2006 bà và ông Đ đăng ký kết hôn tại Ủy
ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An đến tháng 4 năm 2018 thì ly hôn, tháng
10 năm 2020 bà và ông Đ đăng ký kết hôn lại tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T,
tỉnh Đồng Nai. Thời gian chung sống giữa ông Đ không phát sinh mâu
thuẫn cãi vã, nhưng mâu thuẫn tình cảm cuộc sống hôn nhân không hoà
hợp. Khoảng thời gian từ năm 2017 đến năm 2023 từ tháng 7 năm 2025 đến
nay bà và ông Đ ly thân. Nay ông Đ yêu cầu ly hôn thì bà không đồng ý.
Về con chung: 01 con chung cháu Nguyễn Trần Minh Đ1, sinh ngày
03/5/2007. Cháu Đ1 đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2026/HNGĐ-ST ngày 12-01-2026 Tòa án
nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai đã tuyên xử (tóm tắt).
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình
Đ. Ông Đ được ly hôn với bà Trần Thị Bích .
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Trần Minh Đ1, sinh ngày
03/5/2007. Hiện cháu Đ1 đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Đương sự khai không có.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên, về án phí, thi hành án hiệu lực bản
án theo quy định của pháp luật.
Vào ngày 16/01/2026, bị đơn Trần Thị B đơn kháng cáo yêu cầu sửa
Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2026/HNGĐ-ST ngày 12/01/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 3 - Đồng Nai theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
ông Nguyễn Đình Đ.
Quan điểm của đại din Vin kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa
phúc thẩm.
3
I. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng.
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán.
Từ khi vụ án được thụ theo trình tự phúc thẩm, thẩm phán đã tiến hành
thanh báo thụ lý vụ án theo đúng quy định tại điều 285 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự hợp lệ chuyển hồ cho Viện kiểm
sát cùng cấp nghiên cứu theo điều 171, 174 và 292 Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm
phán tuân thủ thời hạn chuẩn bị xét xử theo điều 286 Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư
ký phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự như:
- Đảm bảo đúng thành phần, Hội đồng xét xử đảm bảo sự vô tư, khách quan
khi giải quyết vụ án, không có trường hợp phải thay đổi thành phần Hội đồng xét
xử theo điều 52,53 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Thủ tục phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến thời điểm này được Hội đồng xét
xử phúc thẩm thực hiện đầy đủ, đúng trình tự về phiên tòa phúc thẩm theo quy
định tại Điều 297 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Thư thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51
không thuộc trường hợp phải thay đổi thư theo quy định tại Điều 54 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
3. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng.
Từ khi thụ vụ án cũng như tại phiên a hôm nay các đương sự đã thực
hiện đầy đủ các quyền nghĩa vụ tố tụng đúng theo quy định tại điều
70,71,72,73,75 Bộ luật tố tụng dân sự.
II. Về việc giải quyết vụ án dân sự
Ngày 16/01/2026, bà B kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án thẩm
theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình Đ với
do ông Đ không mâu thuẫn phát sinh, không ý định ly hôn, Đơn ly
hôn không phải do ông Đ do con gái ông Đề T thực hiện, Tòa án cấp
thẩm không xem xét, đối chiếu đánh giá chứng cứ và tại phiên tòa sơ thẩm ông Đ
vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì kháng
cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị L còn trong thời hạn luật định, Bà B thuộc trường
hợp miễn tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo hợp pháp, được xem xét
theo thủ tục phúc thẩm.
Quan điểm của Kiểm sát viên đối với nội dung kháng cáo:
- Nội dung kháng cáo của B về việc cho rằng đơn yêu cầu của ông Đ
không phải do ông Đề V, chữ của ông Đ giả; Xét thấy Tại tại hồ vụ án
4
thể hiện ông Đ là người trực tiếp đến Tòa án cấp sơ thẩm nộp Đơn xin ly hôn vào
ngày 09/10/2025 Tại Bản tự khai ông Đ xác định: Đơn xin ly hôn do ông ký tên
nguyện vọng của ông không ai ép buộc và ông xin xét xử vắng mặt. Trong
quá trình giải quyết B không yêu cầu Tòa án tiến hành giám định chữ của
ông Đ, đồng thời không cung cấp được chứng cứ nào để chứng minh cho cho
việc đơn xin ly hôn không phải của ông Đ. Do đó, yêu cầu kháng cáo về nội
dung trên của bà là không có cơ sở chấp nhận.
Về quan hệ hôn nhân: Trên sở các tài liệu chứng cứ thể hiện ngày
26/4/2018, ông Đ và bà B ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn
sự thỏa thuận của các đương sự số 188/2018/QDST-HNGĐ của Tòa án nhân dân
huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Ngày 30/10/2020, ông Đ và bà B đăng ký kết
hôn lại, sau khi kết hôn lại có khoảng thời gian từ năm 2017 đến năm 2023 và từ
tháng 7 năm 2025 đến nayB và ông Đ ly thân điều này đã chứng tỏ mâu thuẫn
giữa ông Đ và bà B đã phát sinh từ năm 2018. Điều đó xác định về tình cảm giữa
ông ĐB không còn cuộc sống phát sinh nhiều mâu thuẫn hơn. Vì vậy Tòa
án cấp sơ thẩm giải quyết cho ông Đ được ly hôn với bà B là có cơ sở.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần
Thị Bích . Áp dụng khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên Bản án
thẩm số: 03/2026/HNGĐ-ST ngày 12/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực
3 - Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Trần Thị Bích L1 trong hạn
luật định, được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều
273 Bộ luật Tố tụng dân sự thì kháng cáo nên được xem xét theo thủ tục phúc
thẩm.
Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Đình Đ có đơn xin xét xử vắng
mặt; căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử
vắng mặt đương sự.
[2] Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa B vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình Đ với do bà và ông Đ không mâu thuẫn
phát sinh, không có ý định ly hôn, Đơn ly hôn không phải do ông Đ do con
gái ông Đề T thực hiện, Tòa án cấp thẩm không xem xét, đối chiếu đánh giá
chứng cứ và tại phiên tòa sơ thẩm ông Đ vắng mặt.
Về yêu cầu kháng cáo của bà B, Hội đồng xét xử xét thấy:
5
Thứ nhất: B cho rằng đơn khởi kiện không phải chký, chữ viết họ tên
của nguyên đơn ông Nguyễn Đình Đ; Tại tại hồ sơ vụ án thể hiện ông Đ là người
trực tiếp đến Tòa án cấp thẩm nộp Đơn xin ly hôn vào ngày 09/10/2025 (BL
07). Tại cấp phúc thẩm, ông Đ giao nộp cho Tòa án Bản tự khai có chứng thực
của Văn phòng C, ông Đ xác định: Đơn xin ly hôn là do ông ký tên và là nguyện
vọng của ông không ai ép buộc ông xin xét xử vắng mặt. Hơn nữa trong quá
trình giải quyết tại cấp thẩm phúc thẩm B1 không yêu cầu Tòa án tiến
hành giám định chữ của ông Đ, đồng thời không cung cấp được chứng cứ nào
để minh cho việc đơn xin ly hôn là không phải của ông Đ. Do đó yêu cầu kháng
cáo về nội dung trên của bà B là không có cơ sở chấp nhận.
Thứ hai về quan hhôn nhân: Theo trình bày của ông Đ bà B cùng các tài
liệu, chứng cứ trong hồ vụ án thể hiện ông Đ B kết hôn vào ngày
19/5/2006, được Ủy ban nhân dân T, thị xã T, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng
nhận kết hôn số 26/2006. Đến ngày 26/4/2018, ông Đ và bà B ly hôn theo Quyết
định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số
188/2018/QDST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 30/10/2020, ông Đ B đăng kết hôn lại tại Ủy ban nhân dân B,
huyện T, tỉnh Đồng Nai được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 102/2020; ngày
01/9/20025, ông Đ làm đơn khởi kiện ly hôn.
Trong qtrình giải quyết yêu cầu ly hôn tại cấp sơ thẩm tại tòa phúc
thẩm, B ông Đ đều xác định trong quá trình chung sống, từ tháng 7/2025
đến nay ông Đ đã về nhà con gái để sinh sống ông đã sống ly thân một thời
gian, tuy nhiên, B cho rằng các bên không mâu thuẫn còn ông Đ thì cho
rằng do bất đồng quan điểm sống. Xét thấy, ông Đ B đã từng ly hôn theo
yêu cầu của B sau đó kết hôn lại vào năm 2020, sau khi kết hôn lại khoảng
thời gian từ năm 2017 đến năm 2023 ttháng 7 năm 2025 đến nay B và ông
Đ ly thân điều này đã chứng tỏ mâu thuẫn giữa ông Đ B đã phát sinh tnăm
2018 là thời điểm B làm đơn yêu cầu ly hôn với ông Đ. Đến nay, ông Đ xác
định không còn tình cảm và cuộc sống phát sinh nhiều mâu thuẫn hơn, các bên đã
hòa giải để đoàn tụ nhiều lần nhưng không được. Vì vậy, cấp sơ thẩm chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của bị đơn bà Trần Thị B; Bản án hôn nhân gia đình thẩm số
03/2026/HNGĐ-ST ngày ngày 12/01/2026 Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng
Nai.
[3]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
6
[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà B được miễn án phí phúc thẩm.
[5]. Quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại
phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Trần Thị B; giữ nguyên Bản án
hôn nhân gia đình sơ thẩm số 03/2026/HNGĐ-ST ngày ngày 12/01/2026 Tòa án
nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai.
Căn cứ Điều 28, 35; 39, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều
56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình 2014; Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình
Đ. Ông Đ được ly hôn với bà Trần Thị Bích .
2. Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Trần Minh Đ1, sinh ngày
03/5/2007. Hiện cháu Đ1 đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Đương sự khai không có.
5. Về án phí: Ông Đ, B được miễn án phí thẩm án phí dân sự phúc
thẩm.
6. Hiệu lực của Bản án: Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm hiệu lực
pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- TAND KV3-Đồng Nai;
- Phòng THADS KV3- Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu (HS, TP, VP).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Kiều Lương
Tải về
Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT Bản án số 15/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất