Bản án số 280/2026/DS-PT ngày 30/03/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 280/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 280/2026/DS-PT ngày 30/03/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 280/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông yêu cầu ông Lý P tháo dỡ côngtrình là tường rào, nhà ở và đường ống thoát nước để trả lại đất cho ông.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 280/2026/DS-PT
Ngày: 30- 3- 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Phương
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Bà Hoàng Thị Hải
- Thư ký phiên tòa: Ngô Thúy Nguyên, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa:
Trần Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 61/2026/TLPT-DS ngày 11 tháng 02
năm 2026, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 86/2025/DS-ST ngày 03 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 8 Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 220/2026/QĐ-PT ngày 09 tháng 3
năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Thế U, sinh năm 1983; CCCD số 095083000306
cấp ngày 21 tháng 02 năm 2021; Địa chỉ cư trú: Khóm D, phường G, tỉnh Cà Mau.
(có mặt)
2. Bị đơn: Ông Lý P, sinh năm 1950; CCCD số 095050004530 cấp ngày 02
tháng 7 năm 2021; Địa chỉ cư trú: Khóm H, phường G, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông P: Ông Huỳnh Văn V
Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C; Địa chỉ: Số
G, đường H, phường T, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Ngô Thị M, sinh năm 1958. (có mặt)
- Bà Lý Thị Hồng N, sinh năm 1981. (vắng mặt)
- Ông Lý T, sinh năm 1974. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Khóm H, phường G, tỉnh Cà Mau.
- Ủy ban nhân dân phường G.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hoàng K; chức vụ: Phó Trường
phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường G, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
2
4. Người kháng cáo: Ông P (là bị đơn) Ngô Thị M (là người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo lời trình bày của các đương sự kết quả xét xử thẩm vụ án được
tóm tắt như sau:
Trương Thị Hạnh N1 (bà nội của ông Thế U) phần đất diện tích
2345m
2
thửa số 279, tờ bản đồ s3 toạ lạc tại thị trấn H, huyện G, được Ủy ban
nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/10/2001. Ngày
19/10/2001, Trương Thị Hạnh N1 chuyển nhượng cho ông P phần đất
diện tích 1610m
2
(chiều ngang 23m, dài 70m), việc chuyển nhượng đã được các
bên thực hiện xong. Ông P được y ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ngày 08/01/2002, diện tích 1610m
2
, thửa số 282, tờ bản đồ
số 3. Phần diện tích đất còn lại được bà Trương Thị Hạnh N1 tặng cho ông Hà Thế
U vào năm 2018, đã được cơ quan quản lý đất đai cập nhật, chỉnh lý biến động trên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 22 tháng 6 năm 2018.
Ông Thế U cho rằng: Trương Thị Hạnh N1 chuyển nhượng cho ông
P phần đất chiều ngang 23m x chiều dài 70m nhưng ông P đã xây dựng
hàng rào, lấn chiếm qua phần đất của ông chiều ngang mặt tiền (giáp quốc lộ A)
0,2m, chiều ngang mặt hậu 0,58m, dài 73,95m lấn chiếm diện tích phần
hậu đất theo chiều dọc 3,95m, ngang 23m. Ông yêu cầu ông P tháo dỡ công
trình là tường rào, nhà ở và đường ống thoát nước để trả lại đất cho ông.
Ông P xác định: Phần đất ông nhận chuyển nhượng của bà Trương
Thị Hạnh N1 có chiều ngang 23m, dài 70, diện tích 1.610 m
2
. Bà Trương Thị Hạnh
N1 trực tiếp giao đất cho ông đúng với mốc giới giáp với phần đất còn lại của
Trương Thị Hạnh N1, phần đất này ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ngày 08/01/2002. Ngay sau khi nhận chuyển nhượng đất và được giao đất
thì ông đã xây dựng hàng rào kiên cố (bê tông, cốt thép, tường xây gạch) bao
quanh khu đất quản lý, sử dụng ổn định. do ông sử dụng phần đất
chiều ngang mặt tiền là 0,2m và chiều ngang mặt hậu là 0,58m là do thời điểm giao
đất đo đạc bằng dây nên không chính xác và ông có nhận chuyển nhượng một phần
diện tích của hộ giáp ranh là Nguyễn Nguyệt H. Đồng thời, chiều dài phần đất
Trương Thị Hạnh N1 bàn giao chưa đủ theo chiều dài ông đã nhận chuyển
nhượng nên không việc ông lấn chiếm phất đất 23m x 3,95m phía hậu đất. Ông
Lý P không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hà Thế U. Ngoài ra, ông Hà
Thế U lấn chiếm phần đất của ông phía sau hậu đất chiều dài 23m, chiều
ngang 3,5m, tổng diện tích 80,5m
2
nên ông yêu cầu ông Thế U trả lại phần đất
trên cho ông.
Ông T Thị Hồng N xác định phần đất tranh chấp liên
quan đến một phần căn nhà (vách nhà) do vợ chồng ông, đang quản lý sử dụng.
Nhà, đất do ông Phón T1 cho. Việc tặng cho chỉ bằng lời nói, quyền sử dụng
đất vẫn của ông P. Vợ chồng ông, thống nhất với ý kiến của ông P,
không có yêu cầu trong vụ án.
Ngô Thị M thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông Lý P.
3
Tại Bản án dân sự thẩm số: 86/2025/DS-ST ngày 03/12/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hà Thế U, buộc ông
P và bà Ngô Thị M có nghĩa vụ trả cho ông Hà Thế U số tiền 195.200.000 đồng (là
giá trị phần đất diện tích 24.4m
2
).
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Thế U yêu cầu ông Lý P
trả phần đất có diện tích 90,85m
2
.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Thế U yêu cầu ông Lý P
trả phần đất có diện tích 2,7m
2
, thuộc thửa số 188, tở bản đố số 23.
4. Không chấp nhận yêu cầu (phản tố) của ông Lý P yêu cầu ông Hà Thế U
trả lại phần đất có diện tích 80.5 m
2
.
5. Đình chỉ xét xđối với yêu cầu của ông Thế U về việc yêu cầu ông
Lý P tháo dỡ phần đường ống nước.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án, án
phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 18/12/2025, ông P bà Ngô Thị M kháng cáo bản án thẩm;
yêu cầu sửa án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thế U;
chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lý P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa phát biểu
quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ
án; của Hội đồng xét xnhững người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xcăn
cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần
kháng cáo của ông Lý P và bà Ngô Thị M. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số:
86/2025/DS-ST ngày 02/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 Mau theo
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thế U, chấp nhận yêu cầu
phản tố của ông Lý P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của ông P được thực hiện trong hạn luật định hợp lệ
nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét về quan hpháp luật tranh chấp, nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu
cầu trả lại diện tích đất do bị đơn lấn chiếm là 117,95m
2
; bị đơn có yêu cầu phản tố
buộc nguyên đơn giao trả lại diện tích đất thuộc quyền sử dụng của bị đơn đang do
nguyên đơn quản lý, sử dụng diện tích 80,5m
2
. Từ đó, Tòa án cấp thẩm
xác định quan hệ pháp luật về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” áp dụng các qui
định của Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai để giải quyết là có căn cứ.
[3] Xét về nguồn gốc, diện tích và hiện trạng đất tranh chấp:
[3.1] Nguồn gốc đất tranh chấp đều được các bên thừa nhận của
Trương Thị Hạnh N1 (bà nội của ông Thế U). Trong đó, phần đất tranh chấp
do ông P đang quản do Trương Thị Hạnh N1 chuyển nhượng cho ông
Lý P vào năm 2001; còn phần đất tranh chấp theo yêu cầu phản tố của ông Lý P thì
4
được ông Hà Thế U xác định do bà Trương Thị Hạnh N1 tặng cho vào năm 2018.
[3.2] Xét về diện tích và hiện trạng đất tranh chấp: Căn cứ vào yêu cầu khởi
kiện kết quả đo đạc, thẩm định thì ông Thế U kiện ông P đòi lại 02 phần
diện tích đất; phần đất thứ nhất giáp ranh tính từ cạnh tiếp giáp quốc lộ A (tính từ
tim lộ) đến phần hậu đất chiều ngang mặt tiền 0,2m; chiều ngang mặt hậu
0,58m; chiều dài 73,95m, diện tích 27,1m
2
. Trong phần diện tích này 2,7m
2
thuộc phạm vi an toàn công trình Quốc lộ A, diện ch n lại 24,4m
2
. Phần đất
thứ hai phần cuối diện tích đất hiện đang do ông P quản , độ dài của cạnh
tính theo chiều dọc 3,95m và độ dài chiều ngang là 23m, diện tích 90,85m
2
.
Hiện trạng trên phần đất tranh chấp có xây dựng công trình kiên cố là hàng rào dọc
theo phần đất chiều dài 63,3m, độ cao từ 2,7m đến 3,25m, kết cấu bê tông cốt
thép, tường 10cm; 01 hàng rào theo chiều ngang mặt hậu đất dài 23,58m, cao
3,25m, kết cấu cột bê tông cốt thép, tường 10cm; 01 căn nhà 01 trệt, 01 lầu, khung
sườn tông cốt thép; đất do ông P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Riêng đối với thửa đất số 188 thuộc đất trong phạm vi an toàn công trình
đường Q; căn nhà do ông T Thị Hồng N đang quản lý, sử dụng, do
ông P cho vào năm 2019 nhưng chưa chuyển tên quyền sử dụng, nvà đất
hiện vẫn thuộc quyền quyết định của ông P. Còn đối với phần diện tích đất theo
yêu cầu phản tố của ông P diện tích 80,5m
2
phần đất tiếp giáp với phần
hàng rào phía sau hậu đất của ông P, phần đất này chưa được cấp quyền sử
dụng đất, hiện trạng là đất trống, ao đầm đang do ông Hà Thế U quản lý, sử dụng.
[4] Xét về việc chuyển nhượng đất; tặng cho đất hồ địa chính đối với
diện tích đất tranh chấp:
[4.1] Tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất được y ban nhân
dân thị trấn H chứng thực ngày 22/01/2001 thể hiện Trương Thị Hạnh N1
chuyển nhượng cho ông P diện tích đất 1.610m
2
thuộc một phần thửa đất số
279 do Trương Thị Hạnh N1 đứng tên, giá chuyển nhượng 42 lượng vàng 24
kara. Hợp đồng không thể hiện độ dài các cạnh của phần đất nhưng tại tờ “Biên
nhận”; Biên bản xác minh, khảo sát hiện trạng đất sự thừa nhận của các đương
sự xác định phần đất chuyển nhượng có chiều ngang 23 mét và chiều dài 70
mét tính t“giáp quốc lộ A”. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Trương
Thị Hạnh N1 lập tách thửa đất cho ông P; các bên thực hiện xong hợp đồng
và ông Lý P ng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2002.
Tuy nhiên, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng chỉ thể hiện diện tích đất
được cấp cho ông Lý P 1.610m
2
, thửa số 282, tờ bản đồ s3, không thể hiện độ
dài các cạnh.
[4.2] Tại thửa đất 279 do bà Trương Thị Hạnh N1 đứng tên quyền sử dụng
có tổng diện tích 2.345m
2
, bà Trương Thị Hạnh N1 đã chuyển nhượng 1.610m
2
cho
ông P; phần diện tích còn lại được Trương Thị Hạnh N1 tặng cho ông
Thế U vào năm 2018, việc tặng cho không được thể hiện cụ thể diện tích đất trên
thực địa mà chỉ được thể hiện bằng hình thức cập nhật, chỉnh lý biến động tại trang
4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hà Thế U đứng tên.
[5] Xét về quá trình sử dụng đất: Ngay sau khi nhận chuyển nhượng đất
5
vào năm 2001 thì Trương Thị Hạnh N1 đã nhận đủ tiền, giao đất cho ông P
tách thửa, lập hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lý P. Ông
Lý P sử dụng phần đất có thừa độ dài mặt tiền, mặt hậu mà theo ông Lý P cho rằng
tại thời điểm giao đất đo đạc bằng dây nên không chính xác. Đồng thời, ông sử
dụng phần đất của Nguyễn Nguyệt H nên phải trả giá trị đất cho Nguyễn
Nguyệt H theo biên bản lập ngày 20/3/2019, nhưng phần đất của bà Nguyễn
Nguyệt H không nằm cạnh tiếp giáp với đất của ông Thế U chđoạn
giáp hậu đất, không liên quan đến cạnh tiếp giáp quốc lA. Tuy phần đất liên
quan đến đất của Nguyễn Nguyệt H không đủ căn cứ để công nhận nhưng xét
về quá trình sử dụng đất thì ngay sau thời điểm nhận chuyển nhượng đất của
Trương Thị Hạnh N1, ông P đã tiến hành xây dựng công trình kiên cố là tường
rào bằng bê tông, cốt thép bao bọc xung quanh phần đất; cất nhà ở. Trải qua thời
gian dài sử dụng ổn định từ năm 2001 đến năm 2023 (hơn 20 năm) mới phát sinh
tranh chấp với ông Hà Thế U. Từ khi chuyển nhượng đất và giao đất thì bà Trương
Thị Hạnh N1 không ý kiến phản đối với việc sử dụng đất, xây dựng công trình
trên đất của ông P. Mặt khác, theo Biên bản khảo xác, xác định hiện trạng đất
tại thời điểm chuyển nhượng tại thời điểm tranh chấp được quan chức năng
thực hiện thì số đo các cạnh cũng không thống nhất với nhau cũng không đúng
với kết quả thẩm định đất tranh chấp. Đồng thời, theo yêu cầu khởi kiện ý kiến
của ông Thế U cho rằng phần đất Trương Thị Hạnh N1 chuyển nhượng
cho ông Lý P có chiều dài 70 mét, được xác định điểm mốc tại mặt tiền là phần tim
lộ của quốc lộ A, nên phần đất có dư chiều dài 3,95 mét. Việc xác định điểm
mốc mặt tiền để tính chiều dài phần đất theo ý kiến của ông Thế U không
phù hợp với thực tế (do phần diện tích bao gồm cphần lộ của quốc lộ A
phần hành lang an toàn đường bộ) và cũng không phù hợp với ý chí của bà Trương
Thị Hạnh N1. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lý P tại thửa
282 phần đất được tách ra tthửa 279 do Trương Thị Hạnh N1 đứng tên thì
cả hai trường hợp cấp quyền sử dụng này đều được xác định cấp ngoài hành lang
lộ giới của quốc lộ A. Toàn bộ diện tích đất đang do ông P quản lý sử dụng
hiện nay được xác định do Trương Thị Hạnh N1 giao cho ông P. Tại thời
điểm này đất thuộc quyền quản lý, sử dụng và quyền quyết định của bà Trương Thị
Hạnh N1. Phần đất còn lại cũng thuộc quyền quản lý, sử dụng định đoạt của bà
Trương Thị Hạnh N1 chứ không thuộc quyền sử dụng của ông Hà Thế U. Đến năm
2018, Trương Thị Hạnh N1 mới tặng cho phần đất n lại cho ông Thế U,
phần diện tích đất còn lại được tặng cho không bao gồm phần đất hiện đang tranh
chấp với ông P. Ông P đã nhận đất được Trương Thị Hạnh N1 giao từ
năm 2001, đã xây dựng tường o kiên cố từ thời điểm này, sử dụng qua hơn 20
năm mới tranh chấp với ông Thế U nên không có căn cứ xác định ông Lý P lấn
chiếm đất của ông Thế U. Tòa án cấp thẩm chấp nhận một phần yêu cầu
khởi kiện của ông Thế U, buộc ông P trả giá trị phần đất diện tích 24,4m
2
với số tiền 195.200.000 đồng là chưa phù hợp.
Từ những sở trên n cứ để chấp nhận một phần kháng cáo của ông
P Ngô Thị M. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông
Thế U, giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất cho ông Lý P là phù hợp.
6
[6] Đối với yêu cầu phản tố của ông Lý P về việc yêu cầu ông Hà Thế U trả
lại phần diện tích đất 80,5m
2
đang do ông Thế U quản lý, sử dụng. Phần đất
này hiện nay chưa cấp quyền sử dụng đất. Ông P kiện vì ông cho rằng chiều dài
phần đất ông nhận chuyển nhượng từ Trương Thị Hạnh N1 được tính tvị
trí đất hành lang an toàn công trình quốc lộ A nên hiện trạng sử dụng đất của ông
thiếu chiều dài 3,5mét. Theo xác định của Tòa án cấp thẩm là khi nhận
chuyển nhượng đất nhận đất, ông P đã xây dựng tường rào hết phần đất
ông đã nhận chuyển nhượng, không phát sinh tranh chấp khi Trương Thị Hạnh
N1 bàn giao đất. Việc mở rộng quốc lộ A đã làm thiếu đi chiều dài phần đất so với
khi nhận chuyển nhượng, do trên không phải căn cứ để buộc ông Thế U
giao trả đất cho ông P. Từ đó, Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu
phản tố của ông P căn cứ nên Hội đồng t xử phúc thẩm không chấp
nhận kháng cáo đối với yêu cầu phản tố của ông Lý P và bà Ngô Thị M.
[7] Từ những sở trên, chấp nhận một phần kháng cáo của ông P
Ngô Thị M. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 86/2025/DS-ST ngày
03/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau.
[8] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về chi phí tố tụng, do yêu cầu khởi kiện của ông Hà Thế U không được
chấp nhận nên ông Thế U phải chịu chi phí tố tụng đối với việc thẩm định, đo
đạc định giá phần đất liên quan đến yêu cầu khởi kiện của ông Hà Thế U. Yêu
cầu phản tố của ông Lý P không được chấp nhận nên ông P phải chịu chi phí tố
tụng về thẩm định, đo đạc và định giá liên quan đến yêu cầu phản tố của ông Lý P.
[10] Ông Lý P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông P Ngô Thị M. Sửa một
phần Bản án dân sự thẩm số: 86/2025/DS-ST ngày 03/12/2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 8 –Mau.
2. Áp dng các Điều 26; 157; 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 165,
166, 175, 180, 182, 183 của Bộ luật Dân sự; Điều 100, 166; 203 của Luật đất đai
năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Thế U về việc
buộc ông P trả lại hai phần đất do lấn chiếm diện tích 27,1m
2
và 90,85m
2
,
tọa lạc tại khóm B, phường H, tỉnh Cà Mau.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông P về việc yêu cầu ông
Thế U trả lại phần đất diện tích 80,5m
2
tọa lạc tại khóm B, phường H, tỉnh
Mau.
7
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Hà Thế U về việc yêu cầu ông
P tháo dỡ phần đường ống nước.
- Chi phí tố tụng: Ông Thế U phải chịu 9.352.177 đồng (đã nộp xong);
ông Lý P phải chịu 1.708.882 đồng (đã nộp xong).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Thế U phải chịu 300.000 đồng được đối
trừ tiền tạm ứng án phí đã d nộp 600.000 đồng tại các biên lai thu tiền số
0008035 ngày 09/10/2023 và số 0008890 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án
dân sự thị Giá Rai (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 - Mau), ông
Thế U được nhận lại 300.000 đồng. Ông P được miễn án phí dân sự
thẩm.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Lý P, bà Ngô Thị M không phải chịu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi nh án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 8 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thế Phương
Tải về
Bản án số 280/2026/DS-PT Bản án số 280/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 280/2026/DS-PT Bản án số 280/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất