Bản án số 787/2026/DS-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 787/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 787/2026/DS-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 787/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc V - Trần Văn Đ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 787/2026/DS-PT Bản án số 787/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 787/2026/DS-PT Bản án số 787/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 787/2026/DS-PT
Ngày: 11- 9-2026
V/v tranh chấp: “Chia tài sản
chung, chia di sản thừa kế và
yêu cầu công nhận quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- T phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Nhàn
Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Phúc Thẩm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà
Trần Thị Điểu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10, 11 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 394/2026/TLST-DS ngày
01 tháng 06 năm 2026 về tranh chấp “Chia tài sản chung, chia di sản thừa kế và
yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2026/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 1 – Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1154/2026/QĐ-
PHƯỜNG ngày 10 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Anh Trần Quốc V, Sinh năm 1973 (Có mặt);
Căn cước công dân: 082 073 017 087;
Địa chỉ: Số 45/9A Lê Thị Hồng Gấm, Phường T, tỉnh Đồng Tháp;
Đại diện uỷ quyền: Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 2001 (Có mặt);
Địa chỉ: Số 196 Khu phố Bình Tạo, phường T, tỉnh Đồng Tháp.
(Theo Giấy uỷ quyền ngày 31/12/2025).
2. Chị Trần Thị Thanh V, sinh năm 1962;
2
Căn cước công dân: 082 162 014 609;
Địa chỉ: Thôn Lạc Tiến, xã T, tỉnh Khánh Hoà;
3. Chị Trần Lệ T, sinh năm: 1964;
Căn cước công dân: 082 164 003 679;
Địa chỉ: Thôn Thống Nhất, xã Đ, tỉnh Đồng Nai;
4. Anh Trần Văn T, sinh năm: 1965;
Căn cước công dân: 082 065 029 586;
Địa chỉ: Số 45/9A Lê Thị Hồng Gấm, Phường T, tỉnh Đồng Tháp;
Đại diện uỷ quyền của chị V, chị Thu và anh T: Anh Trần Quốc V, sinh năm:
1973; Địa chỉ: Số 45/9A Lê Thị Hồng Gấm, Phường T, tỉnh Đồng Tháp.
(Theo Giấy uỷ quyền ngày 20/6/2023);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh V: Luật sư Trần Hoàng V
– Văn Phòng luật sư Hoàng V (Có mặt).
Địa chỉ: Số 20 Lê Lợi, Phường M, tỉnh Đồng Tháp;
- Bị đơn:
1. Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1944;
Căn cước công dân: 082 044 001 841;
Địa chỉ: ấp Xóm Vông, xã L, tỉnh Đồng Tháp;
2. Bà Trần Thị B, sinh năm 1952;
Căn cước công dân: 082 152 000 950;
Địa chỉ: Số 46/1 Lê Thị Hồng Gấm, Phường T, tỉnh Đồng Tháp;
Đại diện uỷ quyền của Bảy và Đ: Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1981 (Có
mặt);
Địa chỉ: Số 41/414 Lý Thường Kiệt, Phường Đ, tỉnh Đồng Tháp;
(Theo Giấy uỷ quyền ngày 03/3/2025 và ngày 29/9/2025);
- Người có quyền lợi, N vụ liên quan:
1. Chị Trần Thị Mỹ D, sinh năm: 1971;
Căn cước công dân: 082 171 010 090;
2. Anh Trần Văn H, sinh năm: 1976;
Căn cước công dân: 082 076 007 031;
3. Anh Trần Thái B, sinh năm: 1987;
Căn cước công dân: 082 087 009 812;
4. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1952;
Cùng địa chỉ: Tổ 10, ấp Thới Thạnh, Phường T, tỉnh Đồng Tháp;
3
Đại diện uỷ quyền của D, H, B, Q: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1980
(Có mặt);
Căn cước công dân: 082 180 014 381;
Địa chỉ: Tổ 10, ấp Thới Thạnh, Phường T, tỉnh Đồng Tháp;
(Theo Giấy uỷ quyền ngày 14/11/2023).
5. Anh Trần Hoàng N, sinh năm: 1980;
6. Anh Trần Hoàng N, sinh năm: 1984;
7. Bà Trịnh Thị P, sinh năm 1960 (có mặt);
Căn cước công dân: 082 160 012 798;
Cùng ngụ: 522 tổ 9, Lê Thị Hồng Gấm, Phường T, tỉnh Đồng Tháp;
Đại diện uỷ quyền của bà P, anh Nguyên: Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm
1981 (Có mặt);
Địa chỉ: Số 41/414 Lý Thường Kiệt, PH Đ, tỉnh Đồng Tháp;
8. Chị Trần Thị Thùy L, sinh năm 1974 (Có mặt);
Địa chỉ: Số 45/9 Lê Thị Hồng Gấm, Phường T, tỉnh Đồng Tháp.
9. Bà Trần Thị H, sinh năm 1966 (có mặt).
10. Chị Đoàn Trần Minh Nguyệt, sinh năm 2001 (Vắng mặt);
Cùng ngụ: Số 46/2B Lê Thị Hồng Gấm, Phường T, tỉnh Đồng Tháp.
11. Ông Trần Văn B, sinh năm 1955 (Vắng mặt);
12. Chị Trần Bích T, sinh năm 1979 (Vắng mặt);
13. Chị Trần Thị Bích L, sinh năm 1983(Vắng mặt);
14. Chị Trần Thị Bích N, sinh năm 1986 (Vắng mặt);
Cùng ngụ: Số 46/1 Lê Thị Hồng Gấm, Phường T, tỉnh Đồng Tháp.
Những người thừa kế của cụ Lê Thị K gồm:
15. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1944;
Căn cước công dân: 083 144 007 327;
Địa chỉ: Số 39A1 ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
16. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1947 đã chết năm 2021;
Các con của bà Nguyễn Thị Thu gồm:
16.1 Ông Đặng Văn L, sinh năm 1964 (có mặt);
Căn cước công dân: 083 064 019 788;
Địa chỉ: Số 80A ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
16.2 Bà Đặng Thị L, sinh năm 1966;
Căn cước công dân: 083 166 012 372;
4
Địa chỉ: số 36/7/14 Bùi Tư Toàn, phường A, T phố Hồ Chí Minh.
16.3. Ông Đặng Ngọc H, sinh năm 1968 (có mặt);
Căn cước công dân: 083 068 003 142;
Địa chỉ: Số 263 đường số 7, Phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.
16.4 Bà Đặng Thị Trúc Th, sinh năm 1970;
Căn cước công dân: 083 170 003 338;
Địa chỉ: Số 42 đường số 7, Phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.
16.5 Ông Đặng Ngọc P, sinh năm 1974 (có mặt);
Căn cước công dân: 083 074 002 778;
Địa chỉ: Số 182 Ấp P Thạnh, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
16.6 Bà Đặng Thị P, sinh năm 1967;
Căn cước công dân : 083 167 000 202 ;
Địa chỉ: Số 32 đường số 32, Phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.
16.7. Ông Đặng Phú C, sinh năm 1975;
Căn cước công dân: 083 075 002 781;
Địa chỉ: Số 182 Ấp P Thạnh, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
16.8. Bà Đặng Thị Kim T, sinh năm 1979;
Căn cước công dân: 083 075 002 781;
Địa chỉ: Số 26 đường số 4A, Phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.
17. Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, sinh năm 1966;
Căn cước công dân: 083 166 002 407;
Địa chỉ: Ấp A xã P, tỉnh Vĩnh Long.
18. Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1967;
Căn cước công dân: 083 067 010 848;
Địa chỉ: ấp P Thạnh, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
19. Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1969;
Căn cước công dân: 083 069 000 036;
Địa chỉ: ấp P Thạnh, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
20. Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1971;
Căn cước công dân: 083 171 001 755;
Địa chỉ: Ấp P Thạnh, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện ủy quyền của G, Long, L, H, T, P, P, C, T, H, T, L, T: Anh Đặng
Văn P, sinh năm 1970 (Có mặt);
5
Căn cước công dân: 083 070 000 215;
Địa chỉ số 62 Đường số 30, Phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 09/9/2024)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho của Giao, Long, L, Hòa, T, P,
P, C, T, Hoa, T, , T1 : Luật sư Mai Thị Vân A, thuộc văn Phòng luật sư Vinh
Phú, đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
21. Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng 4 tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: 47 Hùng Vương, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Trần Quốc V; Bị đơn Trần Văn Đ; đại diện của
người có quyền lợi, N vụ liên quan D, Q, B, H là Nguyễn Thị Kim L; người có quyền
lợi, N vụ liên quan Trần Hoàng N; anh Đặng Văn P là đại diện của G, L, L H, T, P,
P, C, T, H, T, L, T; Bà Trần Thị H.
NỘI D VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm;
Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện ủy quyền của các đồng nguyên
đơn trình bày:
Cụ Trần Văn P (1916-2006) và cụ Huỳnh Thị H (chết năm 1964) là ông bà
ngoại của các đồng nguyên đơn. Cụ P và cụ H chung sống từ trước năm 1937.
Trước khi chết, cụ P và cụ Hộ không có để lại di chúc. Hai cụ có tất cả năm người
con gồm:
1/ Bà Trần Thị B, sinh năm: 1942 đã chết ngày 10/10/2016 (mẹ của 04
nguyên đơn). Bà B có 5 người con gồm Trần Quốc V, Trần Thị Thanh V, Trần
Lệ T, Trần Văn T (04 nguyên đơn) và Trần Thị Thùy L. Bà B và chồng bà B đã
ly hôn theo Quyết định số 80 ngày 11/9/1987 của Toà án nhân dân Thành phố M,
tỉnh Tiền Giang.
2/ Ông Trần Văn Đ.
3/ Ông Trần Văn Sinh (chết năm 1995), vợ ông Sinh là bà Nguyễn Thị Quý.
Ông Sinh và bà Quý có 3 người con gồm Trần Thị Mỹ D, Trần Văn H và Trần
Thái B.
4/ Bà Trần Thị B.
5/ Ông Trần Văn N (chết năm 2005), vợ ông Ng là bà Trịnh Thị P. Ông N và
bà P có 2 người con là Trần Hoàng N và Trần Hoàng N.
Quá trình chung sống, hai cụ có tạo lập phần đất diện tích 2.259m
2
tọa lạc tại
số 42/1 đường Lê Thị Hồng Gầm, Pphường 6, T phố M, tỉnh Tiền Giang theo
bằng khoán điền thổ số 601 ngày 22/5/1967. Trong quá trình sử dụng có chuyển
nhượng một phần diện tích đất nên còn còn lại diện tích khoảng 1800m
2
. Trên
phần đất 1800m
2
có 4 căn nhà gồm:
6
1/ Nhà số 522 Tổ 9 (cũ là số 42/1) Lê Thị Hồng Gấm, Phường 6, Thành phố
M, tỉnh Tiền Giang. Căn nhà này do cụ P xây dựng, hiện do bà P cùng hai người
con quản lý, sử dụng.
2/ Nhà số 45/9A Lê Thị Hồng Gấm, Phường 6, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang
do bà B bỏ tiền xây dựng hiện do chị L là con bà B quản lý, sử dụng.
3/ Nhà không số khu phố 1 Lê Thị Hồng Gấm, Phường 6, Thành phố M, tỉnh
Tiền Giang do ông Trần Văn Đ bỏ tiền ra xây dựng, hiện do con gái ông Đ là bà
Trần Thị H quản lý, sử dụng.
4/ Nhà số 46/1 Lê Thị Hồng Gấm, Phường 6, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang
do bà Trần Thị Bảy bỏ tiền ra xây dựng. Căn nhà này hiện do bà B, ông Báo
(chồng bà B) và các con bà B đang quản lý, sử dụng.
Cụ Hộ chết năm 1964, không để lại di chúc. Năm 1965, cụ P chung sống như
vợ chồng với cụ Lê Thị K (chết năm 2007) tại căn nhà số 45/9 (nay là số 522) Lê
Thị Hồng Gấm, Phường 6 nhưng không có đăng ký kết hôn. Cụ P và cụ K không
có con chung.
Nay các đồng nguyên đơn yêu cầu chia tài sản chung của cụ H và chia thừa
kế theo pháp luật của cụ P chết để lại đối với phần đất diện tích 1800m
2
và căn
nhà số 45/9 (nay là số 522) Lê Thị Hồng Gấm; nhà đất tọa lạc tại khu phố 1, đường
Lê Thị Hồng Gấm, PH 6, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang (nay là Khu phố 1, đường
Lê Thị Hồng Gấm, pH T, tỉnh Đồng Tháp). Cụ thể như sau bà Trần Thị B được
hưởng diện tích 360m
2
đất (trong số 1.800m
2
tức chia 1/5 kỷ phần) phần đất tại số
45/9 khu phố 1, đường Lê Thị Hồng Gấm, PH 6, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang
(nay là Khu phố 1, đường Lê Thị Hồng Gấm, phường T, tỉnh Đồng Tháp). Các
đồng nguyên đơn yêu cầu Tòa án xét xử chia cho 04 nguyên đơn được hưởng
288m
2
đất nêu trên (trong số 360m
2
, tức 4/5 kỷ phần), các đồng nguyên đơn sẽ tự
thỏa thuận phân chia. Yêu cầu được nhận quyền sử dụng đất tại vị trí có căn nhà
số 45/9A khu phố 1, đường Lê Thị Hồng Gấm, Phường 6, Thành phố M, tỉnh Tiền
Giang (nay là Khu phố 1, đường Lê Thị Hồng Gấm, phường T, tỉnh Đồng Tháp)
của bà Trần Thị B chết để lại và yêu cầu được thi hành ngay khi quyết định, bản
án có hiệu lực.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Văn Đ trình bày:
Ông Đ thống nhất với lời trình bày của các đương sự về năm sinh, năm chết
và hàng thừa kế của cụ P, cụ H, cụ K, ông S, bà B và ông N.
Ngày 02/8/2005, cụ Trần Văn P lập di chúc, với nội D giao cho ông Trần
Văn Đ được hưởng phần đất vườn ngang 13m x dài 27m, phần đất toạ lạc tại số
42/1 Lê Thị Hồng Gấm, PH 6, T phố M, tỉnh Tiền Giang (nay là Khu phố 1, đường
Lê Thị Hồng Gấm, pH T, tỉnh Đồng Tháp); giao anh Trần Văn Nguyên (con ông
N) được hưởng phần đất vườn ngang 07m x dài 12m, tọa lạc tại số 42/1 Lê Thị
Hồng Gấm, PH 6, T phố M, tỉnh Tiền Giang; giao anh Trần Hoàng N (con ông N)
được hưởng ngôi nhà thờ bán kiên cố ngang 06m x dài 30m gắn liền quyền sử
dụng đất tọa lạc tại số 42/1 Lê Thị Hồng Gấm, Phường 6, Thành phố M, tỉnh Tiền
Giang. Năm 2006, cụ Trần văn P chết, di chúc ngày 02/8/2005 phát sinh hiệu lực.
7
Di chúc của cụ Trần Văn P lập ngày 02/8/2005 nội bộ trong gia đình đều biết; Di
chúc ngày 02/8/2005 có dấu V tay bị nhòe, không giám định được nhưng trong
nội bộ gia đình, các thừa kế đều biết. Do đó, việc lập di chúc của cụ Trần Văn P
ngày 02/8/2005 là sự kiện không pH chứng minh, theo quy định tại điểm a khoản
1 Diều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Di chúc của cụ P đã phát sinh hiệu
lực. Năm 2006, cụ P chết, di chúc phát sinh hiệu lực nhưng phát sinh tranh chấp
“thừa kế quyền sử dụng đất” nên di chúc ngày 02.8. 2005 chưa thực hiện được.
Nay với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Trần Văn Đ không đồng ý
và có yêu cầu phản tố như sau: Ông Đ yêu cầu thừa kế theo di chúc ngày 02/8/2005
của cụ Trần Văn P, công nhận quyền sử dụng đất của bị đơn Trần Văn Đ đối với
phần đất vườn ngang 13m x dài 27m, tọa lạc tại số 42/1 Lê Thị Hồng Gấm, PH 6,
T phố M, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn bà Trần Thị Bảy trình bày:
Bà Bảy thống nhất với lời trình bày của các đương sự về năm sinh, năm chết
và hàng thừa kế của cụ P, cụ H, cụ K, ông S, bà B và ông N. Năm 1982, cụ P có
cho bà Bảy phần đất và bà Bảy đã cất căn nhà số 46/1 Lê Thị Hồng Gấm với diện
tích đất là 90m
2
(ngang 06m dài 15m) thuộc một phần của thửa đất số 47 do cụ P
đứng tên theo bằng khoán điền thổ số 601 ngày 22/5/1967. Cùng thời điểm đó, bà
B được cụ P cho phần đất có diện tích 91m
2
, giáp với mặt tiền đường Lê Thị Hồng
Gấm, còn phần đất bà Bảy được nhận nằm phía sau thửa đất 47. Do có biến động
về đất đai năm 1982 đến nay, bà Bảy là người trực tiếp quản lý phần đất trống còn
lại khoảng 1500m
2
, trong đó có một phần diện tích đất bị thu hồi làm đường đi là
799.9m
2
theo Dự án đường vào Trường trung học cơ sở Nam Định. Phần đất gắn
liền với căn nhà số 46/1 Lê Thị Hồng Gấm và phần đất trống 1500m
2
, bà Bảy đã
sử dụng, đóng thuế cho Nhà nước gần 41 năm, không xảy ra tranh chấp. Do đó
nay bà Bảy yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị Bảy đối
với diện tích đất 90m
2
gắn liền với căn nhà số 46/1 và phần đất trống còn lại
khoảng 1500m
2
; Phần đất tọa lạc Khu phố 1, Phường 6, Thành phố M, tỉnh Tiền
Giang theo quy định tại Điều 236 Bộ luật dân sự và Án lệ số 33/2020/AL.
* Đại diện ủy quyền của chị Trần Thị Mỹ D, anh Trần Văn H, anh Trần Thái
Bình và bà Nguyễn Thị Quý trình bày:
Chị D, anh H, anh Bình và bà Quý thống nhất với lời trình bày của các đương
sự về năm sinh, năm chết và hàng thừa kế của cụ P, cụ Hộ, cụ K, bà B, ông Sinh
và ông N. Cụ P và cụ Hộ chết không để lại di chúc. Ông Sinh chết năm năm 1995,
có vợ là bà Nguyễn Thị Q. Ông Sinh và bà Quý có ba người con là chị D, anh H
và anh Bình. Ông S chết không để lại di chúc. Năm 2005, cụ P có cho các con của
ông S một nền nhà (phần đất ký hiệu S8) trên phần đất đang tranh chấp để cất nhà
ở, thuận tiện cho việc học hành của các con cháu ông S. Việc cho đất chỉ nói
miệng nhưng bà B, ông Đ và bà Bảy đều biết. Sau khi được cho phần đất, các con
của ông S có tiền hành đổ đà, làm móng chuẩn bị xây nhà. Tuy nhiên sau đó, cầu
Rạch Miễu được xây dựng xong, thuận tiện cho việc đi lại nên các con của ông
Sinh không xây dựng nhà mà để trống cho đến khi các bên có tranh chấp. Nay
những người thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn S gồm bà Q,chị D, anh H và anh
8
B yêu cầu chia di sản thừa kế do cụ P chết để lại gồm phần đất khoảng 1800m
2
và
căn nhà thờ do bà Trịnh Thị P quản lý T 06 kỷ phần, hàng thừa kế của ông Nguyễn
Văn S được nhận 1/6 với diện tích là 360m
2
tọa lạc khu phố 1, đường Lê Thị Hồng
Gấm, Phường 6, Thành phố M, Tiền Giang (nay là Khu phố 1, đường Lê Thị Hồng
Gấm, phường T, tỉnh Đồng Tháp).
* Người có quyền lợi, N vụ liên quan chị Trần Thị Thuỳ L trình bày:
Chị L thống nhất với lời trình bày của các đương sự về năm sinh, năm chết
và hàng thừa kế của cụ P, cụ Hộ, cụ K, ông Sinh, bà B và ông N. Cụ P và cụ Hộ
chết không để lại di chúc. Chị L là một trong năm người con của bà B. Năm 2005,
cụ P có cho bà B một nền nhà (ký hiệu S5) trên phần đất đang tranh chấp để cất
nhà ở, tuy nhiên do lúc đó bà B đã lớn tuổi không có tiền nên bà B đã cho chị L
lại nền đất trên để chị L bỏ tiền ra xây dựng ngôi nhà số 45/9A. Việc bà B được
cụ P cho đất và bà B cho đất lại chị L để xây dựng nhà được chính quyền địa
phương xác nhận vào ngày 26/5/2005 và ngày 17/4/2009. Sau khi chị L xây dựng
ngôi nhà số 45/9A chị là người chăm sóc, nuôi dưỡng bà B đến khi mất. Hiện tại,
chị L là người thờ cúng bà B và quản lý căn nhà số 45/9A Lê Thị Hồng Gấm,
phường 6, Thành phố M. Nay chị L yêu cầu Tòa án công nhận cho chị L được
quyền sở hữu căn nhà số 45/9A khu phố 1 Lê Thị Hồng Gấm, Phường 6, Thành
phố M, tỉnh Tiền Giang và được quyền sử dụng phần đất gắn liền với căn nhà số
45/9A; nhà đất toạ lạc số 45/9A khu phố 1 Lê Thị Hồng Gấm, Phường 6, Thành
phố M, tỉnh Tiền Giang (nay là Khu phố 1, đường Lê Thị Hồng Gấm, phường T,
tỉnh Đồng Tháp).
* Người có quyền lợi, N vụ liên quan gồm ông Trần Văn Báo, chị Trần Bích
Thuỷ, chị Trần Thị Bích Liên và chị Trần Thị Bích Ngân cùng trình bày:
Ông Báo là chồng của bà Bảy; chị Thuỷ, chị Liên và chị Ngân là con của ông
Báo và bà Bảy. Chồng và con bà Bảy đang sinh sống cùng bà Bảy trên phần đất
đang tranh chấp. Bà Trần Thị B là mẹ của ông Trần Quốc V, khi còn sống đã
hưởng phần chia đất của cha mẹ trước. Phần đất còn lại trong nội bộ gia đình đã
có sự thống nhất sắp xếp chia cho nhau. Sau này, ông Trần Quốc V yêu cầu chia
thêm đất, về mặt tình N nên gia đình thống nhất chia thêm cho ông V phần đất có
chiều ngang 5m, chiều dài khoảng 18m tại vị trí đối diện nhà của bà Trần Thị
Thùy L (con bà B) như đã thỏa thuận với ông V nhưng ông V không đồng ý, yêu
cầu pH chia thêm. Phần đất mà ông V yêu cầu được bà Trần Thị Bảy quản lý sử
dụng ổn định và nộp tiền thuế đất từ mấy chục năm nay, trên phần đất này và tài
sản trên đất có nhiều người sinh sống và có công sức đóng góp. Do bận công việc
nên các anh chị đề nghị giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
* Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lê Thị K (các con và
cháu) cùng trình bày:
Các con và cháu của cụ K đều thống nhất với lời trình bày của các đương sự
về năm sinh, năm mất và hàng thừa kế thứ nhất của cụ P, cụ Hộ, ông Sinh, bà B
và ông N. Cụ Lê Thị K về chung sống như vợ chồng với cụ Trần Văn P từ năm
1965 tại số 45/9A khu phố 1, đường Lê Thị Hồng Gấm, phường 6, Thành phố M,
tỉnh Tiền Giang. Cụ P và cụ Hộ không đăng ký kết hôn và không có con chung.
9
Năm 2006, sau khi cụ P chết thì cụ K về sống chung với các con riêng của cụ K
tại tỉnh Bến Tre. Ngày 05/7/2007, cụ K chết, không để lại di chúc. Hàng thừa kế
thứ nhất của cụ K gồm có bà Giao; bà Thu đã chết năm 2021 (chồng bà Thu đã
chết trước bà Thu) có 08 người con gồm Long, L, Hoà, Thanh, Phú Phụng, Cường
và Tuyền; ông Tiết (chết năm 1972) có bốn người con gồm Hoa, Tùng Lâm và
Trúc. Khi cụ K về chung sống với cụ P, phần đất tranh chấp và ngôi nhà thờ đã
có, do cụ P và cụ Hộ tạo lập. Ngôi nhà thờ trên đất hiện tại do bà P cùng hai con
đang quản lý, sử dụng. Trên phần đất tranh chấp còn có căn nhà do chị L, bà H và
bà Bảy xây dựng. Nay những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ K yêu cầu
nhận 1/6 kỷ phần thừa kế theo pháp luật do cụ P chết để lại là phần đất tranh chấp
với diện tích khoảng 1.800m
2
, ngôi nhà thờ do bà P và hai con đang quản lý dùng
vào việc thờ cúng nên các con và cháu cụ K không yêu cầu chia. Đối với căn nhà
của bà Bảy, chị L và bà H các con và cháu của cụ K không có tranh chấp.
* Bà Trịnh Thị P, anh Trần Hoàng N và anh Trần Hoàng N cùng trình bày:
Bà P là vợ của ông Trần Văn N, anh N và anh N là con ông N. Ông N là con
của cụ H và cụ P. Ông N đã chết ngày 01/4/2005. Bà P và các con thống nhất với
lời trình bày của các đương sự về năm sinh, năm chết và hàng thừa kế của cụ P,
cụ Hộ, cụ K, ông Sinh và bà B.
Ông Trần Quốc V yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ P là căn nhà số 42/1
đường Lê Thị Hồng Gấm và phần đất có diện tích 1800m², tọa lạc tại khu phố 1,
PH 6, Thành phố M. Yêu cầu nêu trên của nguyên đơn, là không có cơ sở vì lúc
còn sống, cụ P đã cho đất các con cất nhà ở, riêng bà Trần Thị B (mẹ ông Trần
Quốc V), đã được cụ P cho một nền nhà mặt tiền đường Lê Thị Hồng Gấm có
diện tích 81m² (ngang 4.5m x dài 18m). Năm 2000, cụ P bán 1 phần đất, để sửa
chữa lại căn nhà số 42/1 (nay là 522 – do bà P quản lý), bà Trần Thị B mượn cụ
P 02 lượng vàng 24K. Năm 2001, cụ P cho bà B cất căn nhà phía sau có diện tích
45m² (nhà chị L đang quản lý) để ở. Cụ P đã định đoạt tài sản để lại, dưới hình
thức ủy quyền và di chúc. Cụ thể:
- Giấy ủy quyền ngày 19/01/2005: Cụ P làm ủy quyền cho con là Trần Văn
N thay mặt cụ P lo mọi việc trong gia đình trong đó có quyền quản lý tài sản là
nhà đất. Giấy ủy quyền được Trường Khu phố 1 xác nhận. Sau khi nhận ủy quyền,
ông Trần Văn N chết.
- Di chúc ngày 02/08/2005: Cụ P lập di chúc, với nội D giao Trần Văn Đ
phần đất vườn ngang 13m x dài 27m; giao Trần Văn Nguyên (cháu nội) phần đất
vườn ngang 7m x dài 12m; giao cho Trần Hoàng N (cháu nội) ngôi nhà thờ bán
kiên cố (ngang 6m x dài 30m), gắn liền với quyền sử dụng đất tọa lạc tại số 42/1,
Lê Thị Hồng Gấm, Phường 6, Thành phố M.
Năm 2006, cụ P chết, di chúc nêu trên phát sinh hiệu lực. Mặc dù dấu V tay
bị nhòe, không giám định được, nhưng các thừa kế trong nội bộ gia đình đều biết
cụ P có lập di chúc ngày 02/08/2005. Do đó, đây là sự kiện không pH chứng minh,
theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 92 bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn
nhà số 42/1 (nay là 522), Lê Thị Hồng Gấm, Khu phố 1, Phường 6, Thành phố M
là di sản dùng vào việc thờ cúng nên yêu cầu của nguyên đơn chia thừa kế theo
10
pháp luật đối với căn nhà thờ, là trái với quy định của pháp luật. Bởi lẽ căn cứ
khoản 1 Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2015, di sản dùng vào việc thờ cúng không
được chia thừa kế. Cụ P đã lập di chúc chỉ định Trần Hoàng N quản lý căn nhà
thờ gắn liền với 180m² đất thổ cư, là phù hợp với quy định của pháp luật. Di chúc
ngày 02/08/2005 của cụ P, đã phát sinh hiệu lực, đây là thừa kế theo di chúc,
không phải thừa kế theo pháp luật. Do đó, nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa
kế của cụ P và cụ H theo pháp luật, là không có cơ sở. Do bận công việc nên anh
N và anh N đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt các anh theo quy định pháp luật.
* Trong quá trình giải quyết vụ án bà Trần Thị H và chị Đoàn Trần Minh
Nguyệt không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của các đương sự khác..
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 18/2026/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 1 – Đồng Tháp đã quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều
227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 219, 645, 649, 651, 652, 660 Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 26 Luật đất đai;
Áp dụng khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025;
Áp dụng khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQHK15 ngày
27/6/2025 của Uỷ ban tH vụ Quốc hội.
Áp dụng các điều 12 và 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn về việc
yêu cầu chia tài sản sản chung của cụ Hộ, yêu cầu di sản thừa kế của cụ Trần Văn
P chết để lại.
1.1 Xác định căn nhà gắn liền với phần đất ký hiệu S4 và phần đất ký hiệu
S4 có diện tích 181.3m
2
theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của
Công Ty TNHH Tài nguyên và Môi trường Incom là di sản dùng vào việc thờ
cúng.
Giao cho bà Trịnh Thị P, anh Trần Hoàng Nguyên và anh Trần Hoàng N
được quản lý phần di sản dùng vào việc thờ cúng gồm: Căn nhà cấp 4 diện tích
xây dựng 108.5m
2
, kết cấu: Vách tường xây gạch, nền lát gạch men, không trần,
mái tole, có khu phụ và phần đất có diện tích 181.3m
2
được ký hiệu S4 theo Phiếu
xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công Ty TNHH Tài nguyên và Môi
trường Incom. Phần đất có tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp thửa đất 341;
- Phía Tây giáp phần đất còn lại ký hiệu S2;
- Phía Nam giáp đườngLê Thị Hồng Gấm;
- Phía Bắc giáp phần đất còn lại ký hiệu S5.
Nhà đất toạ lạc đường Lê Thị Hồng Gấm, phường T, tỉnh Đồng Tháp.
(Có sơ đồ đất kèm theo).
1.2. Tạm giao cho bà Trần Thị H được quản lý di sản thừa kế của cụ Huỳnh
11
Thị Hộ do hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế có diện tích 55.1m
2
được ký hiệu S6
theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công Ty TNHH Tài
nguyên và Môi trường Incom. Phần đất có tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp đất thửa đất 341;
- Phía Tây giáp đường vào Trường trung học cơ sở Nam định;
- Phía Nam giáp phần đất còn lại ký hiệu S5;
- Phía Bắc giáp phần đất còn lại ký hiệu S7.
Phần đất toạ lạc đường Lê Thị Hồng Gấm, phường T, tỉnh Đồng Tháp (Có
sơ đồ đất kèm theo).
1.3 Chia cho những người thừa kế của bà Trần Thị B gồm anh Trần Quốc
V, chị Trần Thị Thanh V, chị Trần Lệ T và anh Trần Văn T được quyền sở hữu
số tiền bồi tH theo Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ ban
nhân dân T phố M, tỉnh Tiền Giang là 1.913.170.400 đồng.
1.4 Chia cho chị Trần Thị Thuỳ L được quyền sở hữu số tiền bồi thường
theo Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ ban nhân dân
Thành phố M, tỉnh Tiền Giang là 478.292.600 đồng.
1.5 Chia cho ông Trần Văn Đ được quyền sở hữu số tiền bồi tH theo Quyết
định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ ban nhân dân Thành phố M,
tỉnh Tiền Giang 2.391.463.000 đồng.
1.6 Chia cho những người thừa kế ông Trần Văn Sinh gồm bà Nguyễn Thị
Quý, chị Trần Thị Mỹ D, anh Trần Văn H và anh Trần Thái B được quyền sở hữu
số tiền bồi tH theo Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ ban
nhân dân Thành phố M, tỉnh Tiền Giang là 2.391.463.000 đồng.
1.7 Chia cho những người thừa kế của ông Trần Văn N gồm có bà Trịnh
Thị P, anh Trần Hoàng Nguyên và anh Trần Hoàng N được quyền sở hữu số tiền
bồi tH theo Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ ban nhân
dân Thành phố M, tỉnh Tiền là 2.391.463.000 đồng.
1.8 Chia cho bà Trần Thị B được sử dụng một phần diện tích S8 là 19m
2
,
một phần diện tích S1 là (33.3m
2
+ 7.8m
2
) = 41.1m
2
, với tổng diện tích là 60.1m
2
theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công Ty TNHH Tài
nguyên và Môi trường Incom. Phần đất có tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp thửa đất 341;
- Phía Tây giáp đường vào Trường trung học cơ sở Nam định;
- Phía Nam giáp phần đất còn lại ký hiệu S6;
- Phía Bắc giáp phần đất còn lại ký hiệu S7.
Phần đất toạ lạc đường Lê Thị Hồng Gấm, phường T, tỉnh Đồng Tháp (Có
sơ đồ đất kèm theo).
Bà Trần Thị B được quyền sở hữu số tiền bồi tH theo Quyết định số
10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ ban nhân dân Thành phố M, tỉnh Tiền
Giang là 971.237.000 đồng.
1.9 Chia cho những người thừa kế của cụ Lê Thị K gồm bà Nguyễn Thị G,
những người thuộc hàng thừa kế chuyển tiếp của bà Nguyễn Thị T và những người
12
thuộc hàng thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn Tuyết được quyền sử dụng một
phần diện tích S2 là 88.7m
2
(88.4m
2
+0.3m
2
), một phần diện tích S3 là 44.6m
2
,
với tổng diện tích là 133.3m
2
theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024
của Công Ty TNHH Tài nguyên và Môi trường Incom. Phần đất có tứ cận như
sau:
- Phía Đông giáp phần đất còn lại ký hiệu S4;
- Phía Tây giáp đường vào Trường trung học cơ sở Nam định;
- Phía Nam giáp thửa đất 324 và đường Lê Thị Hồng Gấm;
- Phía Bắc giáp phần ký hiệu S5.
Phần đất toạ lạc đường Lê Thị Hồng Gấm, phường T, tỉnh Đồng Tháp (Có
sơ đồ đất kèm theo).
Những người thừa kế của cụ Lê Thị K gồm bà Nguyễn Thị G, những người
thuộc hàng thừa kế chuyển tiếp của bà Nguyễn Thị T và những người thuộc hàng
thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn T được quyền sở hữu số tiền bồi thường theo
Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ ban nhân dân Thành
phố M, tỉnh Tiền Giang là 590.777.380 đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Thị B
2.1 Công nhận cho bà Trần Thị B được quyền sử dụng phần đất diện tích
398.5m
2
(trong đó có 135.95m
2
đất ở và 262.55m
2
đất vườn) được ký hiệu S7 theo
Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công Ty TNHH Tài nguyên
và Môi trường Incom. Cụ thể như sau:
- Phần đất 88.6m
2
là một phần S7, có tứ cận như sau:
+ Phía Đông giáp đường vào Trường Trung học cơ sở Nam định;
+ Phía Tây giáp thửa đất số 253, 396, 395, 228 và 120;
+ Phía Nam giáp phần còn lại ký hiệu S8;
+ Phía Bắc giáp thửa 117.
- Phần đất 309.9m
2
là một phần S7, có tứ cận như sau:
+ Phía Đông giáp thửa đất 341;
+ Phía Tây giáp đường vào Trường Trung học cơ sở Nam định;
+ Phía Nam giáp phần đất ký hiệu S6.
+ Phía Bắc giáp thửa174.
Phần đất toạ lạc đường Lê Thị Hồng Gấm, phường T, tỉnh Đồng Tháp (Có
sơ đồ đất kèm theo)
2.2 Bà Trần Thị B được nhận giá trị quyền sử dụng phần đất S7 có diện tích
bị thu hồi là 328.5m
2
theo Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của
Uỷ ban nhân dân T phố M, tỉnh Tiền Giang với số tiền là 7.762.803.210 đồng.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Trần Thị Thuỳ L.
3.1 Công nhận cho chị Trần Thị Thuỳ L được quyền sử dụng một phần đất
ký hiệu S5 diện tích 58.8m
2
(đất ở) theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày
17/9/2024 của Công Ty TNHH Tài nguyên và Môi trường Incom. Phần đất có tứ
cận như sau:
13
- Phía Đông giáp thửa đất 341;
- Phía Tây giáp Đường vào Trường Trung học cơ sở Nam Định;
- Phía Nam giáp phần đất còn lại ký hiệu S2 và S4;
- Phía Bắc giáp phần đất còn lại ký hiệu S6.
Phần đất toạ lạc đường Lê Thị Hồng Gấm, phường T, tỉnh Đồng Tháp (Có
sơ đồ đất kèm theo).
3.2 Chị Trần Thị Thuỳ L được nhận giá trị quyền sử dụng phần đất S5 có
diện tích bị thu hồi là 0.5m
2
theo Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày
29/12/2023 của Uỷ ban nhân dân Thành phố M, tỉnh Tiền Giang với số tiền là
11.815.530 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, N vụ chậm thi hành án, chi phí tố tụng
và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 29/01/2026 ông Trần Văn Đ có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của
ông về việc được công nhận phần đất S1 có diện tích đo đạc thực tế 376,5m
2
đã
được ông P chia cho ông sử dụng từ năm 1982 đến nay.
Ngày 03/2/2026 bà Nguyễn Thị Kim L có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà: Việc Tòa án sơ
thẩm chia cho D, H, TB, Q số tiền 2 tỷ 400 triệu đồng.
Ngày 27/01/2026 Người có quyền lợi, N vụ liên quan Trần Hoàng N có đơn
kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng chia cho
Trần Hoàng Nguyên được hưởng phần đất ký hiệu S2 và S3 theo đo đạc thực tế
vì anh đã quản lý sử dụng đất này từ khi ông nội anh mất theo di chúc ngày
02/8/2005.
Ngày 03/02/2026 ông Đặng Văn P có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm,
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông.
Ngày 03/01/2026 nguyên đơn Trần Quốc V kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm chấp nhận kháng cáo của ông V.
Ngày 29/01/2026 Bà Trần Thị H có đơn kháng cáo sửa án sơ thẩm theo
hướng chia cho bà H được hưởng phần đất có nhà ở thuộc S6, diện tích 55,1m
2
do đây là phần đất bà đã được ông P cho khi còn sống có xác nhận của chính
quyền địa phương.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ, anh V, chị L, bà H, anh Nguyên, ông P vẫn
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị xác định di sản của cụ Hộ, cụ P là diện tích
2.559m
2
trừ diện tích khu mộ 59,3m
2
và phần diện tích 194m
2
bà B đang quản lý,
còn lại 2.305m
2
chia thừa kế cho hàng thừa kế của cụ P. Phần di sản của cụ P hết
thời hiệu nên yêu cầu chia tài sản chung.
Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn có nhiều lập luận phân tích bảo vệ
quyền lợi cho nguyên đơn Trần Quốc V: Nguồn gốc phần đất 2.559,26m
2
do cụ P
thuê của địa chủ, đến năm 1967 cụ P mua lại phần đất và được cấp chứng thư điền
khoán năm 1967. Các đương sự thống nhất phần đất diện tích 2.559,26m
2
là tài
14
sản chung của cụ P, cụ Hộ tạo lập trong thời gian chung sống. Cụ Hộ chết năm
1964, cụ P chết 2006, hai cụ chết không để lại di chúc nên di sản của cụ P, cụ Hộ
được chia thừa kế theo pháp luật. Thời hiệu chia di sản của cụ Hộ đã hết nên xác
định là tài sản chung của cụ P và các con. Tòa án cấp sơ thẩm xác định tài sản
chung của cụ P 1/2, cụ Hộ là ½ diện tích và công nhận cho bà Bảy diện tích 727m
2
là chưa phù hợp. Đề nghị xác định tài sản chung của cụ Hộ, cụ P xác định lại là
diện tích 2.559,26m
2
trừ diện tích khu mộ do các đương sự thống nhất không tranh
chấp, trừ diện tích cụ P cho bà Bảy diện tích 194m
2
còn lại 2.305,9m
2
là tài sản
chung của cụ P, cụ Hộ.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho G, Long, L, H, T, P, P, C, T,
H, T, L, T có nhiều lập luận và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của anh P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Về tố tụng
việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán,
Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể
từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo
pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội D: Xét kháng cáo của ông Trần Văn Đ, anh Trần Quốc V, anh Trần
Hoàng N, bà Nguyễn Thị Kim L, ông Đặng Văn P, nhận thấy; Các đương sự thống
nhất nguồn gốc phần đất diện tích 2.559,26m
2
là tài sản chung của cụ P, cụ H tạo
lập trong thời gian chung sống và yêu cầu chia di sản trong vụ án này là di sản
của cụ P, cụ Hộ và tài sản chung của cụ P, cụ K. Cụ P chết năm 2006, cụ Hộ chết
năm 1964, hai cụ chết không để lại di chúc. Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản
của cụ P, cụ Hộ tương đối phù hợp. Đối với tài sản chung của cụ K và cụ P để lại
cấp sơ thẩm xác định đối với di sản, cách chia di sản của các cụ để lại tương đối
phù hợp. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định tài sản chung của cụ Hộ và cụ
P chưa chính xác đề nghị xác định lại là diện tích 2.559,26m
2
trừ diện tích khu mộ
do các đương sự thống nhất không tranh chấp, trừ diện tích cụ P cho bà B diện
tích 194m
2,
còn lại 2.305,9m
2
là tài sản chung của cụ P, cụ H.
Đối với phần diện tích 2.305,9m
2
thì cụ P được ½ diện tích, ½ di sản của cụ
H hết thời hiệu chia thừa kế nên di sản của cụ H sẽ nhập vào di sản của cụ P chia
06 phần gồm 05 người con của cụ P và cụ K. Đối với ½ di sản của cụ P được xác
định là tài sản chung của cụ P và cụ K. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống thì
cụ P, cụ K đã chuyển nhượng 872,26m
2
nên tài sản chung của cụ P, cụ K còn lại
là 280,69m
2
xác định là tài sản chung. Khi cụ K về chung sống với cụ P không có
tài sản, tài sản được hình T từ cụ P nên xác định tài sản chung của cụ P 6 phần, cụ
K 4 phần phù hợp với nguồn gốc hình T tài sản. Căn nhà xác định là tài sản chung
của cụ K và cụ P nên giá trị căn nhà chia làm 06 phần cho hàng thừa kế của cụ P.
Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của các đương sự là có cơ sở.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Đ, anh V, bà
L, chấp nhận một phần kháng cáo của anh Nguyên, chấp nhận kháng cáo của ông
P. Sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Tháp.
15
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội D
yêu cầu kháng cáo của các đương sự, lời trình bày của các đương sự, Luật sư và
kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Thủ tục kháng cáo của các đương sự được thực hiện đúng
quy định tại các Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án được xem
xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp: Tòa án cấp sơ thẩm xác định
quan hệ tranh chấp và thụ lý vụ án tranh chấp “Chia di sản thừa kế, hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất, chia tài sản chung, quyền sử dụng đất” là đúng với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tranh chấp được Bộ luật Dân sự điều chỉnh và
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 2, 3, 5 Điều 26
Bộ luật tố tụng dân sự.
Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng 4 tỉnh Đồng Tháp (trước đây là Ban
Quản lý dự án và phát triển quỹ đất T phố M tỉnh Tiền Giang) là cơ quan quản lý
số tiền bồi tH 18.902.485.120 đồng, theo Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày
29/12/2023 của Uỷ ban nhân dân Thành phố M, tỉnh Tiền Giang nhưng Tòa án
cấp sơ thẩm không đưa tham gia tố tụng trong vụ án là có thiếu sót. Do đó, cần
đưa cơ quan này tham gia tố tụng ở giai đoạn xét xử phúc thẩm để đảm bảo thi
hành án. Việc đưa người tham gia tố tụng tại giai đoạn xét xử phúc thẩm không
làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án và
phù hợp với hướng dẫn tại Giải đáp nghiệp vụ năm 2023 của Tòa án nhân dân tối
cao.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của Trần Văn Đ.
Ông Trần Văn Đ kháng cáo cho rằng Di chúc ngày 02/8/2005 của cụ P và cụ
K có hiệu lực pháp luật nên đề nghị chia thừa kế theo di chúc.
Về hình thức: Di chúc ngày 02/8/2005 là di chúc bằng văn bản, được đánh
máy, có dấu lăn tay được cho của cụ Trần Văn P và Nguyễn Thị K, không có
người làm chứng.
Theo Điều 655 Bộ luật Dân sự 2005 quy định, trường hợp di chúc bằng văn
bản không có người làm chứng thì người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di
chúc. Tuy vậy, di chúc ngày 02/8/2005 là di chúc được đánh máy nên pH có ít
nhất là hai người làm chứng; Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di
chúc trước mặt những người làm chứng, những người làm chứng xác nhận chữ
ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc theo quy định tại Điều
656 Bộ luật Dân sự 2005. Bên cạnh đó, theo Kết luận giám định số 1153/C54B
ngày 25/6/2013 của Phân Viện Khoa học hình sự tại T phố Hồ Chí Minh (bút lục
381-382) xác định dấu V tay màu đỏ dưới mục “Đồng lập di chúc; Chồng: Trần
Văn P” trên “Tờ di chúc” đề ngày 02/8/2005 bị mờ nhè, không thể hiện được hình
chung và các đặc điểm riêng nên không đủ yếu tố giám định.
16
Như vậy, di chúc ngày 02/8/2005 không tuân thủ đúng quy định của pháp
luật về mặt hình thức nên không đủ điều kiện được coi là di chúc hợp pháp theo
quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự 2005. Tòa án cấp sơ thẩm xác định Di chúc
ngày 02/8/2005 không có hiệu lực pháp luật là có căn cứ nên yêu cầu kháng cáo
của ông Đ về việc chia thừa kế theo di chúc phần đất ký hiệu S1 theo Phiếu xác
nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công Ty TNHH Tài nguyên và Môi
trường Incom không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần Quốc V, Đặng Văn P.
[3.1] Về thời hiệu khởi kiện:
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự thống nhất, cụ Trần Văn P, sinh
năm 1916, chết năm 2006 có vợ là cụ Huỳnh Thị Hộ, chết năm 1964. Cụ P và cụ
Hộ chung sống từ trước năm 1937. Cụ Hộ chết không để lại di chúc. Năm 1965,
cụ P chung sống như vợ chồng với cụ Lê Thị K, không có đăng ký kết hôn. Cụ K
chết năm 2007.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: đối với
giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực
thì “Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này”. Như vậy kể từ ngày
Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, Tòa án áp dụng quy định tại Điều
623 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định thời hiệu đối với trường hợp mở thừa
kế trước ngày 01-01-2017. Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa
kế ngày 30-8-1990 và Bộ luật Dân sự năm 2015, trong trường hợp này thời hiệu
khởi kiện chia di sản của cụ Hộ là 30 năm tính từ ngày 10/9/1990 nên Tòa án cấp
sơ thẩm xác định thời hiệu khởi kiện của cụ Hộ không còn là chính xác. Riêng
thời hiệu chia di sản thừa kế của cụ K và cụ P còn theo quy định của pháp luật.
[3.2] Về hàng thừa kế:
Các đương sự thống nhất về hàng thừa kế của hai cụ Huỳnh Thị Hộ, Trần
Văn P, Lê Thị K và hàng thừa kế thế vị, thừa kế chuyển tiếp nên Hội đồng xét xử
ghi nhận.
[3.3] Về di sản dùng vào việc thờ cúng:
Tất cả các đương sự đều thừa nhận, trước khi xây dựng căn nhà tại số 42/1
Lê Thị Hồng Gấm hiện do bà P quản lý, cụ K và cụ P sinh sống tại căn nhà có
nguồn gốc của cụ P và cụ Hộ. Do nhà xuống cấp nên do cụ P và cụ K xây dựng
lại vào khoảng năm 2003, nguồn tiền xây dựng là do cụ P chuyển nhượng một
phần đất như đã nêu trên. Căn nhà là nơi hai cụ sinh sống cùng vợ chồng ông N
và thờ cúng ông bà. Sau khi cụ P mất, căn nhà do vợ và các con ông N sinh sống
và thờ cúng cụ P, cụ Hộ.
Quá trình giải quyết vụ án, các con và cháu cụ K thừa nhận, nhà đất số 42/1
Lê Thị Hồng Gấm là nhà thờ, dùng vào việc thờ cúng do bà P và hai con đang
quản lý nên không yêu cầu chia thừa kế. Tuy vậy, tại phiên toà phúc thẩm các con
của bà B, ông Sinh và những người thuộc hàng thừa kế của cụ K yêu cầu chia di
sản thừa kế của cụ P chết để lại bao gồm phần đất và căn nhà số 42/1; Các đương
sự còn lại thống nhất để căn nhà số 42/1 làm di sản dùng vào việc thờ cúng cụ Hộ
17
và cụ P.
Xét thấy, nhà đất số 42/1 Lê Thị Hồng Gấm, có diện tích 181.3m
2
là tài sản
đang được sử dụng vào mục đích thờ cúng cụ P, cụ Hộ và cha mẹ của cụ P. Điều
này cũng được các đương sự thừa nhận. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xác định nhà
và đất nêu trên là di sản dùng vào việc thờ cúng theo quy định tại Điều 645 Bộ
luật Dân sự là có căn cứ. Bởi lẽ, ông Trần Văn N là con út trong gia đình nên theo
P tục tập quán, con út được giao ở nhà thờ và có trách nhiệm thờ cúng ông bà.
Sau khi ông N chết, vợ con ông là bà P, anh Nguyên và anh N là người trực tiếp
quản lý, thực hiện việc thờ cúng ổn định từ trước đến nay, nên Tòa án cấp sơ thẩm
giao nhà và đất nêu trên cho bà P, anh Nguyên và anh N quản lý dùng việc thờ
cúng là phù hợp với quy định của pháp luật, P tục tập quán cũng như đạo đức xã
hội.
Theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công Ty TNHH
Tài nguyên và Môi trường Incom căn nhà và diện tích đất dùng vào việc thờ cúng
là Phần đất ký hiệu S4 có 181,3m
2
, loại đất ODT.
[3.4] Xác định giá trị phần đất tranh chấp:
Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá trị phần đất tranh chấp căn cứ vào đơn giá
đền bù theo Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ ban nhân
dân T phố M, tỉnh Tiền Giang khi thực hiện dự án Đường vào Trường Trung học
cơ sở Nam Định, Phường 6, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang (nay là pH T, tỉnh
Đồng Tháp) với mức giá trung bình là 18.902.485.120 đồng : 799.9m
2
=
23.631.060 đồng/m
2
,
là phù hợp với thực tế.
[3.5] Xác định tài sản chung của cụ Huỳnh Thị Hộ và Trần Văn P.
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/3/2024 , kèm theo Phiếu
xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công ty TNHH Tài nguyên và Môi
trường Incom (bút lục 535-539): Phần đất tranh chấp có diện tích đo đạc thực tế
là 1.687m
2
,
thuộc thửa đất số 54, tờ bản đồ số 35, diện tích, loại đất ở đô thị và
CLN, tại khu phố 1, PH 6, T phố M, tỉnh Tiền Giang (Nay là phường T, tỉnh Đồng
Tháp).
Về nguồn gốc đất: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, các
đương sự thống nhất phần đất thửa số 54 có nguồn gốc do cụ Trần Văn P và
Huỳnh Thị Hộ tạo lập. Hai cụ cất nhà sinh sống tại thửa đất trên. Theo sổ mục kê
được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang (nay là Sở Nông nghiệp và
Môi trường tỉnh Đồng Tháp) phê duyệt ngày 09/4/2004, thì thửa đất này thể hiện
“tranh chấp”. Tại mục Tên chủ sử dụng đất diện tích thửa đất là 2609.9m
2
, trong
đó có 405m
2
đất ở và 2204.9m
2
đất vườn.
Sau khi cụ Hộ mất, cụ P sống chung với cụ K, hai cụ đã chuyển nhượng tổng
cộng 872,26m
2
đất, cụ thể như sau:
Thửa đất số 189, tờ bản đồ số 35, diện tích 100.8m
2
, theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CH00432 ngày 08/10/2010 cấp cho ông Nguyễn Văn Ở (từ
bút lục 1111-1123);
18
Thửa đất số 230, tờ bản đồ số 35, diện tích 91.6m
2
,
theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CH03409 cấp ngày 05/02/2015 cho bà Nguyễn Thị Nhớ (từ
bút lục 1081-1107);
Thửa đất 227, tờ bản đồ số 35, diện tích 478.8m
2
, theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CH03380, cấp ngày 28/01/2015 cho bà Lữ Thị Thanh Tuyền
(từ bút lục 1056-1080).
Căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất
ở số 2750, do Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang (nay là Ủy ban nhân dân tỉnh
Đồng Tháp) cấp ngày 07/8/2001 cho ông Nguyễn Văn Áng và bà Trần Thị
Phượng (từ bút lục 1006-1021) thể hiện thửa đất diện tích 120,06m
2
tọa lạc tại số
46/2A Lê Thị Hồng Gấm, PH 6, T phố M, Tiền Giang có nguồn gốc do cụ P
chuyển nhượng lại cho ông Áng, bà Phượng (BL1019).
Căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất
ở số 231 do Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang (nay là Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng
Tháp) cấp ngày 27/01/1997 cho bà B đứng tên (BL 804-816) có nguồn gốc do cụ
P tặng cho bà Trần Thị B vào năm 1978.
Tổng diện tích cụ P và cụ K đã chuyển nhượng cho người thứ ba và tặng cho
bà Trần Thị B là: 100,8m
2
+ 91,6m
2
+ 478,8m
2
+ 120,06m
2
+ 81m
2
= 872,26m
2
.
Như vậy, tổng diện tích đất có nguồn gốc của cụ Hộ và cụ P tạo lập là:
1.687m
2
+ 872,26m
2
= 2.559,26m
2
như Tòa án cấp sơ thẩm xác định là có căn cứ.
Theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công Ty TNHH
Tài nguyên và Môi trường Incom, Căn nhà và diện tích đất dùng vào việc thờ
cúng là Phần đất ký hiệu S4 có 181,3m
2
, loại đất ODT nên phần đất là tài sản
chung của cụ Hộ và cụ P còn lại là: 2.559,26m
2
– 181,3m
2
= 2.377,96m
2
.
Nhận thấy, các đương sự đều thừa nhận, phần đất trên đã được cụ P và cụ
Hộ quản lý sử dụng từ năm 1939 đến 1964. Sau khi cụ Hộ mất, tài sản trên đất là
căn nhà của cụ P và cụ Hộ vẫn còn cho đến năm 2003 mới được tháo dỡ, xây dựng
lại nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định tài sản chung của cụ Hộ và cụ P là quyền sử
dụng thửa đất số 54, tờ bản đồ số 35, loại đất ở đô thị và CLN, tại khu phố 1, PH
6, T phố M, tỉnh Tiền Giang (Nay là pH T, tỉnh Đồng Tháp) là có căn cứ. Trong
đó, phần quyền sử dụng đất của mỗi người được xác định là ½ khối tài sản chung
của vợ chồng, tương đương phần đất diện tích 2.377,96m
2
/2 = 1.188,98m
2
.
[3.6] Xác định tài sản chung của cụ Trần Văn P và Lê Thị K.
Sau khi cụ Hộ chết, năm 1965, cụ P chung sống như vợ chồng với cụ K. Căn
cứ Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật Hôn
nhân và gia đình và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-
BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày
09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình, cụ P và cụ
K được xem là vợ chồng. Căn cứ Điều 15 Luật Hôn nhân gia đình năm 1959, Tòa
án cấp sơ thẩm xác định phần đất có nguồn gốc của cụ P là tài sản chung của vợ
chồng cụ P và cụ K trừ đi phần đất có tổng diện tích 872,26m
2
mà
hai cụ đã chuyển
nhượng trong quá trình chung sống là phù hợp với quy định của pháp luật.
19
Phần đất là tài sản chung của cụ P và cụ K còn lại là:
1.188,98m
2
– 872,26m
2
= 316,72m
2
.
Giá trị di sản của cụ P và cụ K là:
316,72m
2
× 23.631.060 đồng = 7.484.429.323 đồng.
Do phần đất trên có nguồn gốc của cụ P, cụ Hộ tạo lập nên Tòa án cấp sơ
thẩm xác định phần của cụ P nhiều hơn là 3/5, phần của cụ K là 2/5 khối tài sản
chung của vợ chồng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân
và gia đình. Như vậy, di sản của cụ P là quyền sử dụng đất được chia trong khối
tài sản chung với cụ K là:
316,72m
2
× 3/5 = 190,03m
2
× 23.631.060 đồng = 4.490.657.594 đồng.
Di sản của cụ K là quyền sử dụng đất được chia trong khối tài sản chung với
cụ P là:
316,72m
2
× 2/5 = 126,69m
2
× 23.631.060 đồng = 2.993.771.729 đồng.
[3.7] Chia di sản thừa kế của cụ P:
Hàng thừa kế thứ nhất của cụ P gồm: cụ K và 05 người con nên di sản được
chia làm 06 phần nên mỗi suất thừa kế của cụ P được chia:
4.490.657.594 đồng : 6 = 748.422.932 đồng.
Như vậy, bà Trần Thị Bảy, ông Trần Văn Đ được hưởng di sản thừa kế của
cụ P mỗi người là 748.422.932 đồng.
Ông Trần Văn Sinh chết năm năm 1995, chết trước cụ P nên các con ông là
Trần Thị Mỹ D, Trần Văn H và Trần Thái Bình được hưởng thừa kế thế vị mà
ông Sinh được chia thừa kế từ cụ P nếu còn sống, trị giá 748.422.932 đồng.
Ông Trần Văn N chết năm 2005, chết trước cụ P nên các con ông là Trần
Hoàng Nguyên và Trần Hoàng N được hưởng thừa kế thế vị mà ông N được chia
thừa kế từ cụ P nếu còn sống, trị giá 748.422.932 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định các con ông N và ông Sinh được hưởng thừa
kế thế vị nhưng phần quyết định lại tuyên vợ của ông Sinh, vợ của ông N được
hưởng luôn phần thừa kế thế vị của các con là trái với quy định tại Điều 652 Bộ
luật Dân sự. Vợ của hai ông N và Sinh chỉ được hưởng phần tài sản mà hai ông
được chia từ di sản của cụ Hộ cùng với các con.
Bà Trần Thị B chết năm 2016, chết sau cụ P nên các con bà được hưởng thừa
kế chuyển tiếp phần di sản được chia thừa kế từ cụ P, trị giá 748.422.932 đồng.
Cụ Nguyễn Thị K được chia di sản của cụ P là 748.422.932 đồng. Như vậy,
phần tài sản của cụ K được chia từ khối tài sản chung với cụ P và suất thừa kế
được chia từ cụ P có tổng trị giá:
2.993.771.729 đồng + 748.422.932 đồng = 3.742.214.662 đồng.
[4] Xét kháng cáo của bà Trần Thị H, anh Trần Hoàng Nguyên.
Tại phiên tòa, các đương sự đều thừa nhận, bà Trần Thị H đang quản lý phần
20
đất diện tích 55,2m
2
(ký hiệu S6 theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày
17/9/2024 của Công Ty TNHH Tài nguyên và Môi trường Incom), trong đó phần
đất bị thu hồi diện tích là 0,1m
2
do bà H (con của ông Đ) đã quản lý sử dụng từ
khoảng năm 2000.
Nhận thấy, bà H đã cất nhà sử dụng từ đó đến nay, quá trình sử dụng đất
hoàn toàn không có tranh chấp cho đến ngày 26/7/2023 (ngày xảy ra tranh chấp).
Mặc dù bà H không có yêu cầu khởi kiện công nhận cho bà phần đất nêu trên
nhưng quá trình giải quyết vụ án bà đều có ý kiến không đồng ý chia di sản thừa
kế đối với phần đất bà đang trực tiếp sử dụng và đề nghị giữ nguyên hiện trạng.
Xét ý kiến phản đối của bà H nằm trong phạm vi khởi kiện của nguyên đơn nên
bà H không cần làm đơn yêu cầu độc lập thì Tòa án cũng pH xem xét yêu cầu của
bà khi xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện chia thừa kế. Tòa án cấp sơ thẩm chưa
xem xét yêu cầu của bà H, cũng không xác định phần đất bà đang quản lý (ký hiệu
S6) là di sản, chỉ tiếp tục tạm giao cho bà H quản lý là giải quyết chưa triệt để yêu
cầu của đương sự.
Đối với kháng cáo của anh Trần Hoàng Nguyên, theo anh Nguyên đã quản
lý sử dụng phần đất diện tích 87,20m
2
(ký hiệu S3) và phần đất lối đi diện tích (ký
hiệu S2) trong đó phần đất bị thu hồi diện tích là 42,6m
2
(ký
hiệu S3) và 38,6m
2
(ký hiệu S2). Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Trần Hoàng Nguyên cung cấp tài liệu,
chứng cứ mới gồm: Hợp đồng thuê đất ngày 09/01/2010; Biên bản hòa giải ngày
29/6/2009. Nhận thấy, hợp đồng ngày 09/01/2010 về việc thuê đất giữa anh Trần
Hoàng Nguyên và chị Trần Thị Thùy L thể hiện, anh Nguyên cho chị L thuê phần
đất diện tích ngang 7m, dài 12m, mục đích làm lò bánh mì. Theo anh Nguyên,
đây là phần đất anh được ông nội tặng cho khi còn sống. Tại phiên tòa, các đương
sự cùng xác định, phần đất anh Nguyên cho chị L thuê có vị trí tương ứng ký hiệu
S3 theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công Ty TNHH Tài
nguyên và Môi trường Incom. Lời trình bày của anh Nguyên phù hợp với Biên
bản hòa giải ngày 29/6/2009 tại khu phố 1, pH 6, T phố M, Tiền Giang, được Ủy
ban nhân dân pH 6, T phố M, Tiền Giang (nay là pH T, tỉnh Đồng Tháp) thông
qua. Theo nội D Biên bản này, ông Đ, bà B, bà Bảy, con ông Sinh là anh H đều
thống nhất thừa nhận: “Mảnh đất ông nội (P) đã cho hai đứa cháu nội con anh
Tám (N) bề ngang 7m dài 12m và hiện nay vẫn cho chị Trần Thị Thùy L mướn
làm lò bánh mì. Nay thống nhất của gia đình cho anh Trần Hoàng Nguyên và
Trần Hoàng N mỗi người một nền nhà (nay là lò bánh mì) chiều ngang là 4,1m.
Chiều dài giáp với đất nhà anh Liêm. Tổng cộng hai anh em Nguyên và N mảnh
đất ngang 8,2m, dài đụng đất nhà anh Liêm. Ghi chú: Khi cất nhà pH cất giáp
đất nhà ông Áng chạy thẳng theo nhà ông Áng)”. Như vậy, việc anh Nguyên, anh
N được tặng cho phần đất nêu trên là có thật, được những người trong hàng thừa
kế của cụ P thừa nhận và trên thực tế anh đã sử dụng phần đất này từ thời điểm
tặng cho. Cụ thể, đã canh tác, trồng cây và xây dựng công trình trên đất. Căn cứ
Biên bản kiểm đếm đất đai ngày 10/8/2022, xác định tài sản trên đất thuộc quyền
sở hữu của anh Nguyên và Quyết định số 10305/QĐ-UBND ngày 19/12/2023 về
việc bồi tH tài sản trên đất cho anh Nguyên nhưng hoàn toàn không có ai tranh
chấp hay khiếu nại. Ngoài ra, sau khi giải tỏa đền bù, anh Nguyên là người tiếp
21
tục quản lý, sử dụng phần đất ký hiệu S3 còn lại. Đối với phần đất ký hiệu S2, anh
Nguyên xác định do anh trực tiếp sử dụng nhưng quá trình sử dụng đất, các đương
sự đều thống nhất, phần đất này được các con cháu của cụ P sử dụng làm lối đi
vào phần đất phía sau, phần lối đi này nằm cặp với phần đất nhà thờ và phần đất
ký hiệu S3 nên không có cơ sở xác định phần đất này do anh Nguyên trực tiếp sử
dụng.
Như phân tích tại phần [3.1], thời hiệu chia di sản của cụ Hộ không còn.
Đồng thời, phần tài sản để lại của cụ Hộ được các con, cháu cụ quản lý, sử dụng
ổn định nên di sản thuộc về người đang quản lý di sản đó theo quy định tại Điều
623 Bộ luật Dân sự. Điều luật này quy định như sau:
“Điều 623. Thời hiệu thừa kế
1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động
sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di
sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người
thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định
tại Điều 236 của Bộ luật này;
….”
Theo bà H, ông Đ là cha bà được cụ P giao cho phần đất nêu trên khi còn
sống và ông Đ đã cho bà cất nhà sử dụng đến nay, quá trình sử dụng đất hoàn toàn
không có tranh chấp. Ông Đ cũng là người thừa kế của cụ Hộ nên cần chấp nhận
yêu cầu kháng cáo của bà H, công nhận phần đất S6 với diện tích 55,20m
2
thuộc
quyền sử dụng của bà H. Bà H được quyền đăng ký kê khai theo quy định đối với
phần đất diện tích 55,1m
2
, loại đất ODT. Bà H được quyền nhận số tiền đền bù
phần đất bị thu hồi diện tích 0,1m
2
, tương đương với số tiền 2.363.106 đồng.
Theo văn bản ngày 27/8/2026, anh Trần Hoàng N trình bày đồng ý cho anh
Nguyên phần đất được nhận tặng cho nêu trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Do
đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của anh Trần Hoàng Nguyên,
công nhận cho anh Nguyên được quyền sử dụng phần đất diện tích 87,2m
2
(ký
hiệu S3 theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công ty TNHH
Tài nguyên và Môi trường Incom), trị giá 2.060.628.432 đồng. Phần đất trên bị
thu hồi một phần diện tích 42,6m
2
, phần còn lại diện tích 44,6m
2
.
[5] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim L:
Đối với phần đất ký hiệu S8, diện tích 73,2m
2
, trong đó phần đất bị thu hồi
diện tích là 54,2m
2
. Người đại diện hợp pháp của các đồng thừa kế của ông Sinh
kháng cáo cho rằng phần đất S8 thuộc quyền sử dụng của ông Trần Văn Sinh do
cụ P cho ông Sinh khi còn sống nhưng không có chứng cứ chứng minh các đồng
thừa kế của ông Sinh là người trực tiếp sử dụng phần đất nêu trên nên không có
cơ sở chấp nhận.
[6] Chia tài sản của cụ Hộ:
22
Nhận thấy, trong quá trình chung sống, cụ K và cụ P đã chuyển nhượng phần
lớn diện tích đất được xác định là tài sản chung của hai cụ như phân tích tại phần
[3.5] nên các đương sự thừa nhận phần đất con cháu cụ Hộ và cụ P đang trực tiếp
quản lý thuộc phần di sản của cụ Hộ đã hết thời hiệu chia thừa kế. Sự thừa nhận
này phù hợp với thực tế sử dụng đất nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Do đó, Tòa
án cấp sơ thẩm xác định phần đất của cụ Hộ được các con, cháu quản lý gồm:
Chị H quản lý phần đất diện tích 55,20m
2
.
Chị L quản lý phần đất diện tích 59,30m
2
, bà Bảy quản lý phần đất diện tích
727m
2
và các đương sự này được Tòa án cấp sơ thẩm công nhận quyền sử dụng
đất là phù hợp với quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, như phân tích tại phần [4], Hội đồng xét xử công nhận cho anh
Nguyên phần đất diện tích 87,20m
2
nên phần đất còn lại của bà Hộ là:
Do đó, phần đất của cụ Hộ còn lại là: 1.188,98m
2
– (55,20m
2
+ 59,30m
2
+
87,2m
2
+ 727m
2
) = 260,28m
2
, trị giá: 260,28m
2
× 23.631.060 đồng =
6.150.692.297 đồng.
Xét phần đất diện tích 260,28m
2
nói trên được các con cháu của cụ Hộ cùng
quản lý sử dụng, không pH là đất trống như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm vì
các con cháu của cụ Hộ cư ngụ xung quanh phần đất này, cùng trông coi và quản
lý. Ông Trần Văn Đ cho rằng ông là người được cha mẹ chia phần đất diện tích
376,5m
2
(ký hiệu S1), theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của
Công Ty TNHH Tài nguyên và Môi trường Incom nhưng không có chứng cứ
chứng minh là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất nên ông kháng cáo yêu cầu
được công nhận phần đất diện tích 376,5m
2
(ký hiệu S1) nêu trên là không có căn
cứ.
Như vậy, phần đất còn lại của cụ Hộ được các con cháu quản lý sử dụng
chung là 260,28m
2
, trị giá 6.150.692.297 đồng cần được chia đều làm 05 phần
bằng nhau, gồm: ông Đ, bà Bảy, vợ và các con ông Sinh, các con bà B, vợ và các
con ông N là phù hợp với quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự.
6.150.692.297 đồng : 5 = 1.230.138.459 đồng.
Cụ P mất năm 2006 nên không pH là người trực tiếp quản lý phần tài sản của
cụ Hộ tại thời điểm xét xử nên các con cháu của cụ K yêu cầu cụ P được chia một
phần tài sản chung của cụ Hộ là trái với quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự nên
không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Giao tài sản bằng hiện vật:
Do di sản có thể được chia bằng hiện vật và căn cứ và nhu cầu sử dụng đất
của từng đương sự nên Hội đồng xét xử xem xét chia cho các đương sự bằng hiện
vật là quyền sử dụng đất.
Theo nhận định tại mục [3.5], thửa đất có 405m
2
, loại đất ODT. Do phần đất
nhà thờ được xây dựng trên phần đất diện tích 181,3m
2
từ năm 2003 nên xác định
phần đất diện tích 181,3m
2
là loại đất ODT. Phần diện tích đất ODT còn lại là
405m
2
- 181,3m
2
= 223,7m
2
, được chia đều cho những người thừa kế được chia
23
đất và người được công nhận quyền sử dụng đất là chị L, anh Nguyên, bà Bảy.
Trong đó, diện tích đất chị L được công nhận là 58,8m
2
, loại đất ODT, anh Nguyên
là 82,45 m
2
, bà Bảy là 82,45m
2
.
Các con cháu của cụ K không sinh sống tại Đồng Tháp, không có nhu cầu
sử dụng đất nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại chia cho các đương sự này phần đất ký
hiệu S2, S3 còn lại sau khi thu hồi với tổng diện tích 133,3m
2
, trong khi phần đất
ký hiệu S2 có hình thể không thuận tiện cho việc sử dụng đất (cạnh hướng Nam
chỉ có 1,86m). Do đó, các con cháu của cụ K được nhận phần di sản được chia
bằng giá trị tổng cộng là 3.742.214.662 đồng.
Như nhận định trên, anh Nguyên được công nhận phần đất ký hiệu S3, diện
tích còn lại sau khi thu hồi là 44,6m
2
, phần đất này có vị trí giáp với phần đất ký
hiệu S2 còn lại diện tích 88,7m
2
(88,4m
2
+ 0,3m
2
) và phần đất S2 có vị trí giáp
với căn nhà thờ được giao cho anh Nguyên, anh N, bà P sử dụng, sở hữu nên cần
giao cho anh Nguyên được quyền sử dụng phần đất ký hiệu S2, S3 với tổng diện
tích 133,3m
2
, loại đất CLN + ODT (trong đó có 82,45 m
2
loại đất ODT) trị giá
3.150.020.298 đồng, chênh lệch dư so với phần đất ký hiệu S2 anh Nguyên được
công nhận là:
3.150.020.298 đồng – 2.060.628.432 đồng = 1.089.391.866 đồng.
Do đó, cấn trừ với phần giá trị anh Nguyên được chia từ cụ Hộ nên anh
Nguyên, anh N, bà P được chia:
1.230.158.460 đồng - 1.089.391.866 đồng = 140.766.594 đồng.
Tổng giá trị phần di sản bà Bảy được công nhận, chia từ cụ Hộ, chia di sản
thừa kế của cụ P là:
17.179.780.620 đồng + 1.978.561.391 đồng = 19.158.342.011 đồng.
Công nhận cho bà Trần Thị B được quyền sử dụng phần đất diện tích
309,9m
2
thuộc một phần ký hiệu S7 (trong đó có 82,45m
2
loại đất ODT), phần đất
diện tích 148,7m
2
, loại đất CLN (một phần ký hiệu S1, S7, S8, S1), trị giá:
458,60m
2
× 23.631.060 đồng = 10.837.204.116 đồng, chênh lệch thiếu so với
giá trị bà được chia nên bà được chia thêm số tiền là:
19.158.342.011 đồng - 10.837.204.116 đồng = 8.321.137.895 đồng.
Đối với phần đất diện tích 7,8m
2
(một phần diện tích S1), loại đất CLN, tại
khu phố 1, pH T, tỉnh Đồng Tháp không đủ điều kiện để tách thửa hay nhập thửa
nên giao cho bà Bảy được quyền quản lý sử dụng. Khi cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thu hồi phần đất này, bà Bảy được nhận số tiền bồi tH theo quy định.
[8] Từ phân tích tại phần [3.4], trên cơ sở số tiền đền bù là 18.902.485.120
đồng, các đương sự được nhận số tiền đền bù như sau:
Theo công văn số 911/BQLDA4 ngày 05/8/2026 của Ban quản lý dự án 4,
số tiền lãi của số tiền đền bù là 18.902.485.120 đồng đến thời điểm 31/7/2026 là
27.462.655 đồng được xác định là tài sản chung. Tại phiên tòa phúc thẩm, các
đương sự thống nhất chia số tiền lãi T 06 kỷ phần cho các đồng thừa kế của cụ P
24
nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Do đó, mỗi đồng thừa kế của cụ P được chia thêm
4.577.109 đồng.
Chia cho các con cháu bà K gồm bà Nguyễn Thị G; những người thuộc hàng
thừa kế chuyển tiếp của bà Nguyễn Thị Thu gồm: Đặng Văn Long, Đặng Thị L,
Đặng Ngọc Hoà, Đặng Thị Trúc Thanh, Đặng Ngọc Phú, Đặng Thị Phụng, Đặng
Phú Cường và Đặng Thị Kim Tuyền; những người thuộc hàng thừa kế thế vị của
ông Nguyễn Văn Tuyết gồm bốn người con: Nguyễn Thị Thanh Hoa, Nguyễn
Thanh Tùng, Nguyễn Thanh Lâm và Nguyễn Thị Thanh Trúc số tiền
3.742.214.662 đồng + 4.577.109 đồng = 3.746.791.771 đồng.
Chia cho ông Trần Văn Đ số tiền 1.978.581.392 đồng + 4.577.109 đồng =
1.983.158.501 đồng.
Chia cho vợ con của ông Sinh gồm bà Nguyễn Thị Quý, chị Trần Thị Mỹ D,
anh Trần Văn H và anh Trần Thái Bình số tiền là giá trị tài sản được chia của cụ
Hộ là: 1.230.158.460 đồng.
Chia cho các con của ông Sinh gồm chị Trần Thị Mỹ D, anh Trần Văn H và
anh Trần Thái Bình giá trị phần thừa kế thế vị của cụ P là: 748.422.932 đồng +
4.577.109 đồng = 753.000.041 đồng.
Chia cho vợ con của ông N là bà Trịnh Thị P, anh Trần Hoàng Nguyên và
anh Trần Hoàng N số tiền là giá trị tài sản được chia của cụ Hộ (đã cấn trừ giá trị
chênh lệch với phần đất chia cho anh Nguyên) là: 140.766.594 đồng.
Chia cho các con của ông N gồm anh Trần Hoàng Nguyên và anh Trần
Hoàng N giá trị phần thừa kế thế vị của cụ P là: 748.422.932 đồng + 4.577.109
đồng = 753.000.041 đồng.
Chia cho các con của bà B gồm: Trần Quốc V, chị Trần Thị Thanh V, chị
Trần Lệ T, anh Trần Văn T giá trị tài sản được chia của cụ Hộ, phần di sản thừa
kế của cụ P là: 1.978.581.392 đồng + 4.577.109 đồng = 1.983.158.501 đồng/5 ×
4 = 1.586.526.800 đồng.
Chia cho chị Trần Thị Thuỳ L giá trị tài sản được chia của cụ Hộ, phần di
sản thừa kế của cụ P là: 1.983.158.501 đồng/5 = 396.631.700 đồng. Như vậy, chị
L được nhận số tiền đền bù tương đương với giá trị tài sản được chia và phần đất
được công nhận bị giải tỏa là 0,5m
2
= 396.631.700 đồng + 11.815.530 đồng =
408.447.230 đồng.
Chia cho bà Trần Thị Bảy số tiền bồi tH theo Quyết định số 10302/QĐ-
UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ ban nhân dân T phố M, tỉnh Tiền Giang là giá trị
chênh lệch thiếu giữa giá trị tài sản được chia bằng hiện vật (phần đất diện tích
458,60m
2
) so với giá trị bà được chia thừa kế của cụ P, chia tài sản của cụ Hộ và
giá trị phần đất được công nhận, với số tiền 8.321.137.895 đồng + 4.577.109
đồng = 8.325.715.004 đồng.
Chia cho chị H giá trị phần đất bị thu hồi là:
0,1m
2
× 23.631.060 đồng = 2.363.106 đồng.
25
Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng 4 tỉnh Đồng Tháp đang quản lý số tiền
bồi tH là 18.902.485.120 đồng và tiền lãi tính đến 31/7/2026 nên có N vụ chi trả
số tiền trên cho các đương sự theo quyết định của Tòa án.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo
của bà Nguyễn Thị Kim L, anh Trần Quốc V, bị đơn Trần Văn Đ. Chấp nhận một
phần kháng cáo của anh Trần Hoàng N, ông Đặng Văn P, chấp nhận kháng cáo
của bà Trần Thị H. Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 18/2026/DS-ST ngày
22/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Tháp.
Theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019,
N vụ hoàn trả chi phí tố tụng không thuộc trường hợp pH chịu lãi theo quy định
tại Điều 357 Bộ luật dân sự, nên Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về lãi suất chậm
thi hành án đối với N vụ này là không chính xác, cần rút kinh nghiệm.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Trần Thị
Thùy L công nhận quyền sử dụng đất cho chị L đối với phần đất chị đang quản lý
nhưng buộc chịu pH chịu án phí có giá ngạch là chưa chính xác theo quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Về chi phí tố tụng:
Bà Trần Thị Bảy, ông Trần Văn Đ, những người thừa kế của ông Trần Văn
Sinh, những người thừa kế của ông Trần Văn N và những người thừa kế của cụ
Lê Thị K mỗi người có N vụ hoàn lại anh Trần Quốc V chi phí tố tụng là
13.788.000 đồng.
Chị Trần Thị Thuỳ L có N vụ hoàn lại cho anh Trần Quốc V số tiền 2.757.600
đồng.
[10] Về án phí:
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên những người kháng cáo
không pH chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị Bảy, ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị Quý, bà Trịnh Thị P và
Nguyễn Thị Giao được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Trần Quốc V, chị Trần Thị Thanh V, chị Trần Lệ T và anh Trần Văn T
có N vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị di sản thừa kế được
chia là 1.586.526.800 đồng, tương đương số tiền 59.595.000 đồng.
Chị Trần Thị Thùy L chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị di sản thừa
kế được chia là 408.447.230 đồng, tương đương số tiền 20.422.000 đồng.
Bà Trịnh Thị P được miễn án phí sơ thẩm đối với phần tài sản được chia từ
cụ Hộ là 1.230.158.460 đồng nhưng anh Trần Hoàng Nguyên và anh Trần Hoàng
N pH nộp án phí sơ thẩm mà mình phải chịu. Anh Trần Hoàng Nguyên và anh
Trần Hoàng N pH chịu án phí sơ thẩm đối với phần di sản được hưởng thừa kế
26
thế vị là 753.000.041 đồng, nên tổng cộng anh Nguyên và anh N pH nộp
59.193.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Quý được miễn nộp án phí sơ thẩm đối với phần tài sản
được chia từ cụ Hộ là 1.230.158.460 đồng nhưng chị Trần Thị Mỹ D, anh Trần
Văn H và anh Trần Thái Bình pH nộp án phí sơ thẩm mà mình pH chịu. Chị Trần
Thị Mỹ D, anh Trần Văn H và anh Trần Thái Bình pH chịu án phí sơ thẩm đối
với phần di sản được hưởng thừa kế thế vị là 751.000.041 đồng, nên tổng cộng
chị D, anh H, anh Bình pH nộp 62.208.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Giao được miễn án phí dân sự sơ thẩm nhưng các đương sự
gồm: Đặng Văn Long, Đặng Thị L, Đặng Ngọc Hoà, Đặng Thị Trúc Thanh, Đặng
Ngọc Phú, Đặng Thị Phụng, Đặng Phú Cường, Đặng Thị Kim Tuyền, Nguyễn
Thị Thanh Hoa, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Thanh Lâm và Nguyễn Thị Thanh
Trúc pH liên đới chịu 94.446.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của chị Trần Thị Thuỳ L được chấp
nhận nên chị không pH chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Yêu cầu của anh Trần Hoàng Nguyên được chấp nhận một phần nên anh có
N vụ chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[11] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn
không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi cho người có quyền lợi, N vụ liên quan phù
hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một
phần.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phù hợp một
phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị H.
Chấp nhận một phần kháng cáo của các đương sự gồm anh Trần Hoàng
Nguyên, ông Đặng Văn P. Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn Đ, bà
Nguyễn Thị Kim L và anh Trần Quốc V.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2026/DS-ST ngày 22/01/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Tháp.
Căn cứ các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 313, 148, Điều 296 Bộ luật Tố tụng
dân sự;
Căn cứ các Điều 219, 645, 649, 651, 652, 660, 688 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 133 Luật đất đai;
Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025;
27
Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQHK15 ngày
27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH
vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn về việc
yêu cầu chia tài sản sản chung của cụ Hộ, yêu cầu di sản thừa kế của cụ Trần Văn
P chết để lại.
1.1 Xác định căn nhà gắn liền với phần đất ký hiệu S4 và phần đất ký hiệu
S4 có diện tích 181.3m
2
theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của
Công Ty TNHH Tài nguyên và Môi trường Incom là di sản dùng vào việc thờ
cúng.
Giao cho bà Trịnh Thị P, anh Trần Hoàng Nguyên và anh Trần Hoàng N
được quản lý phần di sản dùng vào việc thờ cúng gồm: Căn nhà cấp 4 diện tích
xây dựng 108.5m
2
, kết cấu: Vách tường xây gạch, nền lát gạch men, không trần,
mái tole, có khu phụ và phần đất có diện tích 181,3m
2
, loại đất ODT, được ký hiệu
S4 theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công Ty TNHH Tài
nguyên và Môi trường Incom. Phần đất có tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp thửa đất 341;
- Phía Tây giáp phần đất còn lại ký hiệu S2;
- Phía Nam giáp đường Lê Thị Hồng Gấm;
- Phía Bắc giáp phần đất còn lại ký hiệu S5.
Nhà đất toạ lạc đường Lê Thị Hồng Gấm, phường T, tỉnh Đồng Tháp.
1.2. Giao cho bà Trần Thị H được quyền sử dụng phần đất là di sản thừa kế
của cụ Huỳnh Thị Hộ do hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế có diện tích 55,1m
2
,
được ký hiệu S6 theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công Ty
TNHH Tài nguyên và Môi trường Incom. Phần đất có tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp đất thửa đất 341;
- Phía Tây giáp đường vào Trường trung học cơ sở Nam định;
- Phía Nam giáp phần đất còn lại ký hiệu S5;
- Phía Bắc giáp phần đất còn lại ký hiệu S7.
Phần đất toạ lạc đường Lê Thị Hồng Gấm, phường T, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Trần Thị H được nhận tiền đền bù là giá trị quyền sử dụng phần đất S6 bị
thu hồi là 0,1m
2
,
theo Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ
ban nhân dân Thành phố M, tỉnh Tiền Giang với số tiền là 2.363.106 đồng.
1.3. Chia cho anh Trần Hoàng Nguyên được quyền sử dụng một phần diện
tích S2 là 88,7m
2
(88.4m
2
+ 0.3m
2
), một phần diện tích S3 là 44,6m
2
, tổng diện
tích là 133,3m
2
, loại đất CLN + ODT (trong đó có 82,45 m
2
loại đất ODT), theo
Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công Ty TNHH Tài nguyên
28
và Môi trường Incom. Phần đất có tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp phần đất còn lại ký hiệu S4;
- Phía Tây giáp đường vào Trường trung học cơ sở Nam định;
- Phía Nam giáp thửa đất 324 và đường Lê Thị Hồng Gấm;
- Phía Bắc giáp phần ký hiệu S5.
1.4. Bà Trịnh Thị P, anh Trần Hoàng Nguyên và anh Trần Hoàng N được
nhận số tiền bồi tH theo Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của
Uỷ ban nhân dân Thành phố M, tỉnh Tiền Giang là giá trị tài sản được chia của cụ
Hộ (đã cấn trừ giá trị chênh lệch với phần đất chia cho anh Nguyên) là
140.766.594 đồng.
1.5. Anh Trần Hoàng Nguyên và anh Trần Hoàng N được nhận số tiền bồi
thường theo Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ ban nhân
dân Thành phố M, tỉnh Tiền Giang là giá trị phần thừa kế thế vị của cụ P là
753.000.041 đồng.
1.6. Chia cho ông Trần Văn Đ được quyền sở hữu số tiền bồi thường theo
Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ ban nhân dân Thành
phố M, tỉnh Tiền Giang là 1.983.158.501 đồng.
1.7. Chia cho những người thừa kế ông Trần Văn Sinh gồm bà Nguyễn Thị
Quý, chị Trần Thị Mỹ D, anh Trần Văn H và anh Trần Thái Bình được quyền sở
hữu số tiền bồi tH theo Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ
ban nhân dân Thành phố M, tỉnh Tiền Giang là giá trị phần tài sản của cụ Hộ được
chia với số tiền là 1.230.158.460 đồng.
Chia cho các con của ông Sinh gồm anh chị Trần Thị Mỹ D, anh Trần Văn
H và anh Trần Thái Bình được nhận số tiền bồi thường theo Quyết định số
10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ ban nhân dân Thành phố M, tỉnh Tiền
Giang là giá trị phần thừa kế thế vị của cụ P với số tiền là 753.000.041 đồng.
1.8. Chia cho những người thừa kế của bà Trần Thị B gồm anh Trần Quốc
V, chị Trần Thị Thanh V, chị Trần Lệ T và anh Trần Văn T được quyền sở hữu
số tiền bồi thường theo Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ
ban nhân dân Thành phố M, tỉnh Tiền Giang là 1.586.526.800 đồng.
1.9. Chia cho chị Trần Thị Thuỳ L được quyền sở hữu số tiền bồi thường
theo Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ ban nhân dân T
phố M, tỉnh Tiền Giang là phần thừa kế chị được chia và phần đất được công nhận
bị giải tỏa tương đương số tiền 408.447.230 đồng.
1.10. Chia cho những người thừa kế của cụ Lê Thị K gồm bà Nguyễn Thị
Giao, những người thuộc hàng thừa kế chuyển tiếp của bà Nguyễn Thị Thu là:
Đặng Văn Long, Đặng Thị L, Đặng Ngọc Hoà, Đặng Thị Trúc Thanh, Đặng Ngọc
Phú, Đặng Thị Phụng, Đặng Phú Cường, Đặng Thị Kim Tuyền và những người
thuộc hàng thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn Tuyết là: Nguyễn Thị Thanh Hoa,
Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Thanh Lâm và Nguyễn Thị Thanh Trúc được quyền
sở hữu số tiền bồi tH theo Quyết định số 10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của
29
Uỷ ban nhân dân Thành phố M, tỉnh Tiền Giang là giá trị phần tài sản của cụ K
được chia với số tiền là 3.746.791.771 đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Bảy.
Công nhận cho bà Trần Thị Bảy được quyền sử dụng các phần đất sau:
Phần đất diện tích S7 là 309,9m
2
, loại đất CLN + ODT (trong đó có 82,45m
2
ODT), theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công Ty TNHH
Tài nguyên và Môi trường Incom. Phần đất có tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp thửa đất 341;
- Phía Tây giáp đường vào Trường trung học cơ sở Nam định;
- Phía Nam giáp phần đất còn lại ký hiệu S6;
- Phía Bắc giáp thửa đất 174.
Phần đất diện tích 140,9m
2
, loại đất CLN bao gồm: Phần đất diện tích 19m
2
(một phần ký hiệu S8), phần đất diện tích 41,1m
2
(33,3m
2
- một phần diện tích
S1); Phần đất diện tích 88,6m
2
(một phần diện tích S7), theo Phiếu xác nhận kết
quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công Ty TNHH Tài nguyên và Môi trường Incom.
Phần đất có tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp đường vào Trường trung học cơ sở Nam Định;
- Phía Tây giáp các thửa đất 282, 272, 271, 119, 120, 228, 395, 396, 253,
424;
- Phía Nam giáp phần đất đường Lê Thị Hồng Gấm;
- Phía Bắc giáp phần đất thửa 117, 174.
Bà Trần Thị Bảy được nhận số tiền bồi thường theo Quyết định số
10302/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Uỷ ban nhân dân Thành phố M, tỉnh Tiền
Giang là giá trị chênh lệch thiếu so với giá trị bà được chia và công nhận với số
tiền 8.325.715.004 đồng.
Giao cho bà Bảy được quyền quản lý sử dụng phần đất diện tích 7,8m
2
(một
phần diện tích S1), loại đất CLN, tại khu phố 1, phường T, tỉnh Đồng Tháp. Khi
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi phần đất này, bà Bảy được nhận số tiền
bồi thường theo quy định.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Trần Thị Thuỳ L.
Công nhận cho chị Trần Thị Thuỳ L được quyền sử dụng một phần đất ký
hiệu S5 diện tích 58,8m
2
, loại đất ODT, theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày
17/9/2024 của Công Ty TNHH Tài nguyên và Môi trường Incom. Phần đất có tứ
cận như sau:
- Phía Đông giáp thửa đất 341;
- Phía Tây giáp Đường vào Trường Trung học cơ sở Nam Định;
- Phía Nam giáp phần đất còn lại ký hiệu S2 và S4;
- Phía Bắc giáp phần đất còn lại ký hiệu S6.
30
Các phần đất toạ lạc đường Lê Thị Hồng Gấm, phường T, tỉnh Đồng Tháp.
Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký
đất đai để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu tài sản gắn
liền với đất theo quy định. Vị trí các phần đất được xác định theo Phiếu xác nhận
kết quả đo đạc ngày 17/9/2024 của Công Ty TNHH Tài nguyên và Môi trường
Incom, kèm theo bản án.
4. Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng 4 tỉnh Đồng Tháp đang quản lý số tiền
bồi thường là 18.902.485.120 đồng và lãi tính đến 31/7/2026 nên có N vụ chi trả
số tiền trên cho các đương sự theo quyết định của Tòa án khi bản án có hiệu lực
pháp luật.
5. Về chi phí tố tụng:
Bà Trần Thị Bảy, ông Trần Văn Đ, những người thừa kế của ông Trần Văn
S, những người thừa kế của ông Trần Văn N và những người thừa kế của cụ Lê
Thị K mỗi người có N vụ hoàn lại anh Trần Quốc V chi phí tố tụng là 13.788.000
đồng.
Chị Trần Thị Thuỳ L có N vụ hoàn lại cho anh Trần Quốc V số tiền 2.757.600
đồng.
6. Về án phí:
6.1 Về án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn lại cho anh Trần Hoàng N số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000
đồng theo biên lai thu số 0001996 ngày 03/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh
Đồng Tháp.
Hoàn lại cho anh Trần Quốc V, Trần Thị Thanh V, Trần Lệ T, Trần Văn T
số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002663
ngày 13/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Hoàn lại cho bà Trần Thị H số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000
đồng theo biên lai thu số 0001788 ngày 29/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh
Đồng Tháp.
Hoàn lại cho bà Trần Thị Mỹ D, Trần Văn H, Trần Thái B, Nguyễn Thị Q
số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002306
ngày 06/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị T, Đặng Văn L, Đặng Thị L,
Đặng Ngọc H, Đặng Thị Trúc T, Đặng Ngọc P, Đặng Phú C, Nguyễn Thị Thanh
H, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Thị Thanh T số tiền tạm ứng án
phí phúc thẩm là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002305 ngày 06/02/2026 của
Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
6.2 Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị B, ông Trần Văn Đ, bà Nguyễn Thị Q, bà Trịnh Thị P và Nguyễn
Thị G được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
31
Anh Trần Quốc V, chị Trần Thị Thanh V, chị Trần Lệ T và anh Trần Văn T
có nghĩa vụ liên đới chịu 59.595.000 đồng án phí sơ thẩm.
Chị Trần Thị Thùy L pH chịu 20.422.000 đồng án phí sơ thẩm.
Anh Trần Hoàng N và anh Trần Hoàng N phải chịu 59.193.000 đồng án phí
dân sự sơ thẩm. Anh Trần Hoàng Nguyên phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
Chị Trần Thị Mỹ D, anh Trần Văn H và anh Trần Thái Bình phải chịu
62.208.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Đặng Văn Long, Đặng Thị L, Đặng Ngọc H, Đặng Thị Trúc T, Đặng
Ngọc Phú, Đặng Thị P, Đặng Phú C, Đặng Thị Kim T, Nguyễn Thị Thanh H,
Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thanh L và Nguyễn Thị Thanh Trúc pH liên đới chịu
94.446.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 9 Luật
thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Án tuyên vào lúc 10 giờ 00 phút, ngày 11/9/2026 có mặt nghe tuyên án
chị L, bà P, bà H, chị Bích T, ông P, anh K, anh V, Luật sư V, chị L, ông H,
ông L, ông P; vắng mặt anh Hoàng A, Luật sư Vân A ./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND Khu vực 1 – Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Đăng cổng thông tin điện tử;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Diệp Thúy
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 787/2026/DS-PT Bản án số 787/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 787/2026/DS-PT Bản án số 787/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất