Bản án số 258/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 258/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 258/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 258/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp di sản thừa kế liên quan đến thửa đất ban đầu rộng khoảng 360m2 do cụ Lê Thị S để lại sau khi qua đời vào năm 2022 mà không có sự đồng thuận hoàn toàn giữa các người con về di chúc cuối đời. Nguyên đơn là ông Phan Văn S1 yêu cầu phân chia phần diện tích đất còn lại do bà Lê Thị Đ đang quản lý, đồng thời từ chối giải quyết theo bản di chúc lập năm 2022. Trong khi đó, các thành viên khác trong gia đình gồm bà Đ, bà Đ1 và bà H đều tôn trọng việc phân chia đất đai mà cụ S đã định đoạt từ trước khi mất và phản đối tính hợp pháp của bản di chúc gần nhất. Bên cạnh đó, các hộ gia đình hàng xóm gồm vợ chồng ông H1 bà T đã đưa ra yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực các hợp đồng chuyển nhượng đất từ thời quá khứ để hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Phía chính quyền địa phương xác nhận nguồn gốc đất, đồng thời đề nghị Tòa án giải quyết các tranh chấp theo đúng quy định pháp luật hiện hành
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 258/2026/DS-PT Bản án số 258/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 258/2026/DS-PT Bản án số 258/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 258/2026/DS-PT
Ngày 14 - 9 - 2026
V/v Chia di sản thừa kế và
công nhận Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Sơn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trọng và ông Nguyễn Văn Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú
Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà
Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08, 14 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ cơ sở 2 xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 222/2025/TLPT-
DS ngày 12 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế và yêu
cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2025/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ bị kháng cáo theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 51/2026/QĐ-PT ngày 12 tháng 01 năm 2026 giữa các đương
sự:
- Nguyên đơn: Ông Phan Văn S, sinh năm 1962; CCCD số
************; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc nay là thôn A,
xã V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông S: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm
1992; CCCD số ************; địa chỉ: Số C, L, phường V, tỉnh Phú Thọ, theo
Văn bản ủy quyền ngày 27/01/2026 (có mặt).
- Bị đơn: Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1958; CCCD số ************; địa chỉ:
Thôn A, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc nay là thôn A, xã V, tỉnh Phú Thọ.
2
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Lê Thị Đ: Ông Nguyễn Văn H, sinh
năm 1959; CCCD số ************; địa chỉ: Số C, phố Q, phường Đ, thành phố
V, tỉnh Vĩnh Phúc nay là phường V, tỉnh Phú Thọ và Ông Phan Thành T1, sinh
năm 1959; CCCD số ************; địa chỉ: Số A, ngõ C, đường H, phường Đ,
thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc nay là phường V, tỉnh Phú Thọ, theo văn bản ủy
quyền ngày 13/5/2025 (đều có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phan Thị Minh Đ1, sinh năm 1954; CCCD số ************; địa
chỉ: Khu A, xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ nay là Khu A, xã Đ, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ1: Bà Ngô Thị Thu H1, sinh năm
1975; CCCD số: ************; địa chỉ: phường T, tỉnh Phú Thọ, theo văn bản
ủy quyền ngày 04/9/2026 (có mặt).
2. Bà Phan Thị H2, sinh năm 1960; địa chỉ: Số A Lô A - 588, đường C,
phường A, quận C, thành phố Hồ Chí Minh nay là phường N, thành phố Hồ Chí
Minh (vắng mặt).
3. Ông Giang Văn H3, sinh năm 1969; địa chỉ: TDP L, khu H, phường L,
thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc nay là Khu A, phường V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
4. Ông Bùi Hải N, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1978;
địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc nay là Khu A, xã V, tỉnh Phú
Thọ (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
1. Bà Bùi Thị Phương T2, sinh năm 1973; địa chỉ: TDP L, khu H, phường
L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc nay là TDP L, phường V, tỉnh Phú Thọ (có
mặt).
2. Cụ Bùi Thị H4, sinh năm 1949; địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện V, tỉnh
Vĩnh Phúc nay là khu A, xã V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo uỷ quyền của cụ Bùi Thị H4: Ông Bùi Hải N, sinh
năm 1977; địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc nay là khu A, xã V,
tỉnh Phú Thọ (có mặt).
- Người kháng cáo: Bà Lê Thị Đ - Bị đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 9 năm 2024 và những lời khai tiếp
theo tại phiên tòa nguyên đơn ông Phan Văn S trình bày:
3
Các cụ Lê Thị S1 với cụ Phan Quang L sinh được 02 con chung (1) bà
Phan Thị H2; (2) ông là Phan Văn S (nguyên đơn). Ngoài ra trước khi kết hôn
với cụ L thì cụ S1 có hai con với chồng trước (1) bà Phan Thị Minh Đ1; (2) bà
Lê Thị Đ. Cụ Phan Quang L chết năm 1983, còn cụ Lê Thị S1 chết ngày
14/10/2022.
Về tài sản: Khi cụ S1 và cụ L còn sống có tài sản là 01 thửa đất ở số 145,
tờ bản đồ số 2A, diện tích là 01 sào (360 m
2
), đứng tên cụ Lê Thị S1 (theo Quyết
định ngày 20/11/1982 của UBND xã Đ), thửa đất này chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (GCN), cụ S1 đã chuyển nhượng một phần diện tích đất
cho cụ H4 (hiện nay cụ H4 đã tặng cho cháu là anh Bùi Hải N) và một phần diện
tích đất cho vợ chồng ông H3, bà T2; phần diện tích đất còn lại hiện nay bà Lê
Thị Đ đang quản lý, sử dụng; còn ông S đang sử dụng một phần diện tích đất
nhưng đó là đất lấn chiếm (do UBND xã Đ xác nhận) không phải đất cụ S1 được
giao. Hiện nay trên phần diện tích đất 360m
2
của cụ S1 được giao có các công
trình bao gồm: Nhà ở của vợ chồng ông H3, bà T2; nhà của vợ chồng ông N, bà
B và nhà ở mẹ con bà Đ. Trước khi chết ngày 15/8/2022 cụ S1 có để lại di chúc
cho ông được hưởng thừa kế diện tích đất còn lại. Tuy nhiên ông không đề nghị
Tòa án giải quyết theo di chúc của cụ S1 để lại mà ông yêu cầu Tòa án giải
quyết chia thừa kế theo quy định pháp luật. Cụ thể: Ông yêu cầu phân chia phần
diện tích đất còn lại của cụ S1 hiện nay bà Lê Thị Đ đang quản lý sử dụng. Quá
trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành đo đạc thẩm định tổng diện tích đất
Nhà nước giao cho cụ S1 theo hiện trạng là 363,7m
2
. Trong đó diện tích đất đã
chuyển nhượng cho cụ H4 (nay vợ chồng ông bà Ninh B1 đang quản lý sử dụng)
có diện tích là 104,2m
2
, diện tích bà Đ đang sử dụng là 181,8m
2
, diện tích đất đã
chuyển nhượng cho vợ chồng ông bà Hùng T3 là 77,7m
2
; phần di sản ông được
hưởng thì ông đề nghị được lấy bằng đất để có nơi ở vì lý do diện tích đất ông
đang sử dụng là đất lấn chiếm không thể làm được GCN; đối với phần diện tích
đất khi cụ S1 còn sống đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà T3, ông H3 và cụ H4
là đúng, ông không có ý kiến thắc mắc gì, ông đề nghị Toà án công nhận hiệu
lực của Hợp đồng do cụ sẻ đã chuyển nhượng cho hai gia đình nói trên.
Bị đơn bà Lê Thị Đ trình bày: Bà là chị gái của ông Phan Văn S (nguyên
đơn), mẹ bà là cụ Lê Thị S1 và bố bà là cụ Chu Văn Đ2, bố mẹ bà sinh được 02
người con là bà Phan Thị Minh Đ1 và bà (bị đơn). Lý do bà mang họ Lê là vì bà
theo họ của mẹ; còn bà Đ1 và các em đều mang họ Phan theo họ của bố dượng
4
là Phan Quang L. Ngoài ra cụ S1 (mẹ bà) còn kết hôn với cụ Phan Quang L sinh
được 02 người con là bà Phan Thị H2 và ông Phan Văn S. Cụ Chu Văn Đ2 đã
chết năm 2012, cụ S1 (mẹ bà) chết ngày 14/10/2022.
Tài sản của cụ S1 (mẹ bà) để lại có 01 thửa đất ở diện tích cụ thể diện tích
bao nhiêu thì bà không rõ. Nguồn gốc đất là do bà và mẹ bà tạo lập được đã sử
dụng từ những năm 1982 cho đến nay, lúc đầu đất là hố hủm, mẹ con bà phải
san ủi, đổ đất lấp hố và di chuyển mồ mả trên đất đi nơi khác; còn ông S lúc này
đi bộ đội và làm công nhân ở V cho đến năm 1989 về quê ở trên đất khác, đến
năm 1993 ông S lấy vợ rồi ở trên đất như hiện nay. Khi cụ S1 còn sống đã
chuyển nhượng một phần diện tích đất cho cụ H4, diện tích đất còn lại cụ S1 đã
định đoạt thông qua bản di chúc lập ngày 01/11/1997 với nội dung chia đất làm
ba phần: Bà một phần, mẹ bà (cụ Lê Thị S1) một phần và ông S một phần. Sau
đó cụ S1 đã bán đất của mình cho vợ chồng ông Giang Văn H3 và bà Bùi Thị
T2; phần đất còn lại ông S đang quản lý, sử dụng. Đối với bản di chúc lập ngày
15/8/2022 do ông S đã thuê Luật sư làm bản di chúc, nội dung như thế nào thì bà
không biết do bà không được chứng kiến vì lúc đó cụ S1 đã già yếu không biết
gì. Nay ông S khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế tài sản của cụ Lê Thị
S1 để lại là diện tích đất bà đang quản lý, sử dụng thì quan điểm của bà không
đồng ý vì lý do khi còn sống cụ S1 đã định đoạt đất cho bà đất như hiện nay. Cả
bà và ông S được cho đất đang sử dụng, ai có đất thì người đó sử dụng, không
liên quan gì đến nhau. Nếu phải chia di sản thừa kế là tài sản của cụ S1 để lại thì
bà đề nghị chia theo bản di chúc lập ngày 01/11/1997 có nội dung là cụ S1 đã
định đoạt cho bà sử dụng phần diện tích đất như hiện nay bà đang quản lý, sử
dụng; còn việc ông S cho rằng phần diện tích đất mà ông S đang ở là đất lấn
chiếm thì bà không biết vì lý do khi mẹ bà còn sống vẫn sử dụng toàn bộ diện
tích đất đó, không có tranh chấp với ai. Đối với phần diện tích đất khi còn sống
cụ S1 đã chuyển nhượng cho vợ chồng Thu H5 và cụ H4 là đúng, bà không có ý
kiến thắc mắc gì. Bà đề nghị Toà án công nhận hiệu lực của Hợp đồng do cụ S1
đã chuyển nhượng cho hai gia đình nói trên. Bà đề nghị giữ nguyên hiện trạng
đất đang sử dụng như hiện nay.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
1. Bà Phan Thị Minh Đ1 trình bày: Bà là chị gái ruột của ông Phan Văn S
và bà Lê Thị Đ. Về quan hệ gia đình theo như ông S và bà Đ đã trình bày là
đúng không có ý kiến bổ sung hay phản đối gì. Về tài sản của cụ Lê Thị S1 để
5
lại là thửa đất thổ cư diện tích 360m
2
theo như ông S, bà Đ đã trình bày là đúng,
khi cụ S1 còn sống có chuyển nhượng một phần diện tích đất được giao cho vợ
chồng ông H5, bà T2 và cụ H4 theo như các bên đã trình bày bà không có ý kiến
thắc mắc gì. Hiện nay trên đất còn lại thì bà Đ và ông S đang sử dụng. Lúc cụ S1
còn sống có nói là cho bà Lê Thị Đ sử dụng phần diện tích đất do cụ S1 để lại
theo đúng vị trí như hiện nay; còn ông S cũng được cụ S1 cho phần diện tích đất
như hiện trạng vợ chồng ông S đang sử dụng. Bản thân bà là con gái đã đi lấy
chồng nên không muốn các anh chị em tranh nhau về đất. Đối với bản di chúc
lập ngày 15/8/2022 do ông S thuê Luật sư làm, nội dung như thế nào thì bà
không rõ, bà thừa nhận là có ký vào bản di chúc nhưng khi đó do ông S nói là
nhờ bà ký vào giấy tờ cho ông S làm bìa đỏ giúp con trai vay vốn Ngân hàng
làm ăn, lúc này cụ S1 ốm nặng không biết gì, bà là người đỡ cụ S1 ngồi dậy để
điểm chỉ vào văn bản do Luật sư soạn sẵn, bà không biết ông S làm di chúc đối
với diện tích đất bà Đ đang ở. Bà có quan điểm không đồng ý với nội dung bản
di chúc đó và khẳng định mẹ bà lúc đó không còn minh mẫn để quyết định. Nay
ông S có đơn yêu cầu phân chia di sản thừa kế của mẹ bà để lại thì quan điểm
của bà tôn trọng ý kiến của mẹ bà khi còn sống, đã định đoạt đất như hiện nay
bà Đ và ông S đang sử dụng, ai có đất thì người đó sử dụng, bà không có yêu
cầu đề nghị gì. Nếu phải chia di sản thừa kế của cụ S1 để lại thì bà cũng không
đòi hỏi kỷ phần thừa kế mà bà được hưởng, bà để lại ông S và bà Đ tự quyết
định. Đối với việc mẹ bà bán đất cho hai gia đình hàng xóm thì bà có biết và
không có ý kiến gì.
2. Bà Phan Thị H2: Biên bản lấy lời khai ngày 21/10/2024 thể hiện quan
điểm: Về quan hệ gia đình, tài sản của mẹ bà để lại theo như bà Đ, ông S và bà
Đ1 đã trình bày ở trên không có ý kiến gì. Khi cụ S1 còn sống đã phân chia đất
đai để lại như bà Đ và ông S đang sử dụng như hiện nay; Về bản di chúc lập
ngày 15/8/2022 do ông S đã thuê Luật sư làm, nội dung như thế nào thì bà
không biết vì bà không được chứng kiến. Tuy nhiên bà được biết khi mẹ còn
sống có lập bản di chúc định đoạt phần đất đã bán và phần đất còn lại cho bà Đ
và ông S cụ thể từng vị trí đất. Nay ông S có đơn yêu cầu phân chia di sản thừa
kế của cụ S1 để lại thì quan điểm của bà tôn trọng ý kiến của mẹ khi còn sống đã
định đoạt đất như hiện nay bà Đ và ông S đang sử dụng, ai có đất thì người đó
sử dụng, bà không có yêu cầu đề nghị gì. Nếu phải chia di sản thừa kế của mẹ để
lại thì bà cũng không đòi hỏi kỷ phần thừa kế mà bà được hưởng, bà để lại cho
6
ông S và bà Đ tự quyết định. Khi mẹ bà bán đất cho hai gia đình hàng xóm thì
bà cũng có biết và không có ý kiến gì đối với diện tích đất mà mẹ đã bán cho hai
gia đình đó. Do điều kiện công việc nên bà xin được giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
1. Ông Giang Văn H3 và bà Bùi Thị Phương T2 đều thống nhất trình bày:
Vợ chồng ông bà là hàng xóm với gia đình cụ S1 và có nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất với cụ Lê Thị S1 theo giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất
lập ngày 01/4/1999. Khi mua bán hai bên có lập giấy chuyển nhượng viết tay do
cán bộ UBND xã Đại Đồng viết hộ, ký tại UBND xã Đ, có xác nhận của UBND
xã Đ. Theo thoả thuận thì vợ chồng ông bà mua phần diện tích đất của cụ S1 có
chiều rộng hướng Bắc là 4,5m, chiều dài là 25m kể cả hành lang giao thông, giá
chuyển nhượng là 40 triệu đồng và vợ chồng ông bà đã trả đủ số tiền cho cụ S1.
Sau khi nhận chuyển nhượng thì vợ chồng bà đã đổ đất lấp ao và làm nhà tạm
trên đất từ năm 1999 đến năm 2004 sửa lại thành nhà xây ba tầng như hiện nay.
Về ranh giới đất là do cụ S1 và địa chính UBND xã chỉ ranh giới đất cho gia
đình ông bà sử dụng. Diện tích đất nhận chuyển nhượng đến nay vợ chồng ông
bà vẫn chưa làm được GCN. Nay ông S có đơn yêu cầu phân chia di sản thừa kế
của cụ S1 để lại thì quan điểm của ông bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy
định pháp luật đối với phần diện tích đất còn lại của cụ S1 cho bà Đ và ông S.
Đối với phần diện tích đất cụ S1 đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông bà thì
quan điểm ông bà có yêu cầu đề nghị Toà án xem xét công nhận hiệu lực của
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ S1 với vợ chồng ông bà và
giao cho vợ chồng ông bà sử dụng diện tích đất đúng theo như Hợp đồng chuyển
nhượng (chiều mặt đường hướng Bắc rộng là 4,5m và chiều dài theo hướng
Đông là 25m) để ông bà làm thủ tục cấp GCN đối với diện tích đất đã nhận
chuyển nhượng của cụ Lê Thị S1. Qua kiểm tra hiện trạng quyền sử dụng đất
theo sơ đồ do Công ty cổ phần Đ3 cung cấp ông bà không có ý kiến thắc mắc gì,
tuy nhiên ông bà đề nghị được giao đúng diện tích đất đã nhận chuyển nhượng
của cụ S1 và theo hiện trạng công trình xây dựng của gia đình bà như hiện nay
đang sử dụng.
2. Ông Bùi Hải N và bà Nguyễn Thị B trình bày: Vợ chồng ông bà là
hàng xóm với gia đình cụ S1, vợ chồng ông bà được cô ruột là bà Bùi Thị H4
cho một phần diện tích mà hiện nay vợ chồng ông bà đang sử dụng. Nguồn gốc
đất là do bà H4 nhận chuyển nhượng của cụ Lê Thị S1 từ ngày 23/6/1985. Sau
7
khi nhận chuyển nhượng, ngày 08/01/2009 bà H4 đã làm thủ tục tặng cho vợ
chồng ông bà phần diện tích nói trên. Năm 2009 vợ chồng ông đã làm nhà bốn
tầng trên phần diện tích đất nói trên nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Nay ông S có đơn yêu cầu phân chia di sản thừa kế của cụ
S1 để lại thì quan điểm của ông đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp
luật đối với phần diện tích đất còn lại của S1 để lại cho bà Đ và ông S, không có
liên quan gì đến vợ chồng ông bà. Đối với phần diện tích đất mà cụ S1 đã
chuyển nhượng cho bà H4, sau đó bà H4 đã cho vợ chồng ông bà thì quan điểm
ông bà có yêu cầu đề nghị Toà án xem xét công nhận hiệu lực của Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ S1 với bà H4 và giao cho vợ chồng
ông bà được quyền sử dụng đất theo hiện trạng như hiện nay để ông bà làm thủ
tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất mà bà H4
đã nhận chuyển nhượng của cụ Lê Thị S1. Qua kiểm tra hiện trạng quyền sử
dụng đất theo sơ đồ do Công ty cổ phần Đ3 cung cấp ông không có ý kiến thắc
mắc gì.
3. Bà Bùi Thị H4 vắng mặt tại phiên toà nhưng tại Biên bản lấy lời khai
ngày 13/01/2025 bà H4 trình bày: Bà là hàng xóm với gia đình cụ S1, ngày
23/6/1985 bà có nhận chuyển nhượng một phần diện tích đất của cụ Lê Thị S1.
Khi mua bán hai bên có lập giấy chuyển nhượng viết tay do cụ S1 nhờ người
viết hộ và hai bên ký vào hợp đồng nhưng không có xác nhận của UBND xã Đ,
theo thoả thuận thì bà mua phần diện tích là 120,5m
2
, giá chuyển nhượng là
35.100đồng, bà đã trả đủ số tiền cho cụ S1. Sau khi nhận chuyển nhượng thì bà
đã đổ đất lấp hố và làm nhà tạm ở trên đất từ năm 1990 đến năm 2009 bà đã làm
thủ tục tặng cho lại diện tích đất nói trên cho vợ chồng anh Bùi Hải N và chị
Nguyễn Thị B. Năm 2009 vợ chồng anh N chị B làm nhà xây bốn tầng trên diện
tích đất nói trên, cho đến nay gia đình bà vẫn chưa làm được thủ tục xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay ông S có đơn yêu cầu phân chia di sản thừa
kế của cụ S1 để lại thì quan điểm của bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định
pháp luật đối với phần diện tích đất của cụ S1 để lại cho bà Đ và ông S. Đối với
phần diện tích đất mà cụ S1 đã chuyển nhượng cho bà thì bà có đơn yêu cầu độc
lập, đề nghị Toà án xem xét công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa cụ S1 với bà và bà đã tự nguyện giao lại cho vợ chồng
anh N và chị B sử dụng để anh N và chị B làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với diện tích đất mà bà đã nhận chuyển nhượng của cụ Lê
8
Thị S1. Do điều kiện sức khoẻ, tuổi đã cao nên bà đề nghị Toà án giải quyết
vắng mặt.
Tài liệu xác minh tại UBND xã Đ (nay là xã V) ngày 03/6/2025 thể hiện:
Về quan hệ gia đình và tài sản của cụ S1 để lại theo như các bên đã trình bày ở
trên, diện tích đất cụ S1 được giao là 360 m
2
. Khi còn sống cụ S1 đã chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho các hộ xung quanh. Nay ông Phan Văn S có đơn
khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với đất của cụ S1 để lại và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu độc lập về việc yêu cầu công nhận
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất đã nhận
chuyển nhượng của cụ S1 thì theo quan điểm địa phương đề nghị Tòa án giải
quyết theo quy định pháp luật. Về phần diện tích đất hiện nay hộ ông Phan Văn
S đang sử dụng và một phần do hộ ông Giang Văn H3 sử dụng là đất thuộc
UBND xã Đ quản lý, UBND xã Đ không đề nghị Toà án giải quyết trong vụ án
này mà sẽ giải quyết theo con đường hành chính.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2025/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 10- Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 609, 611, 612, 613, 615, 630, 631, 643, 650, 651 và
660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 166 và 188 của Luật Đất
đai năm 2013; Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227,
Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn S về việc yêu
cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của cụ Lê Thị S1 để lại.
1. Xác nhận di sản thừa kế của cụ Lê Thị S1 để lại là diện tích đất ở là
181,8m
2
tại thửa số 145, tờ bản đồ số 2a, tại thôn A xã V, tỉnh Phú Thọ.
Chia cho ông Phan Văn S được quyền sử dụng diện tích đất 80m
2
của
thửa đất số 145, tờ bản đồ số 2A ở thôn A, xã Đ (nay là xã V, tỉnh Phú Thọ)
được xác định bởi các chỉ giới B,7,6,5,11,12,C1,C2,B (có sơ đồ chi tiết kèm
theo) cùng các tài sản trên đất có các công trình xây dựng bao gồm: 02 bể cá,
công trình phụ và một phần diện tích bếp.
Chia cho bà Lê Thị Đ được quyền sử dụng diện tích đất 101,8m
2
của thửa
đất số 145, tờ bản đồ số 2A ở thôn A, xã Đ (nay là xã V, tỉnh Phú Thọ) được xác
9
định bởi các chỉ giới C2,C,D,24,14,13,C2 (có sơ đồ chi tiết kèm theo);
Buộc ông Phan Văn S phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho bà Lê Thị Đ giá
trị tài sản các công trình trên phần diện tích đất được chia tổng là 23.720.000đ
(Hai mươi ba triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, bà Lê Thị Đ có đơn yêu cầu thi
hành án khoản tiền nói trên, nếu ông S chậm trả tiền cho bà Lê Thị Đ thì còn
phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất
phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng
không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
là bà Bùi Thị H4 và chị Bùi Thị Phương T2:
Công nhận hiệu lực của Giấy nhượng đất lập ngày 23/6/1985 giữa cụ Lê
Thị S1 và bà Bùi Thị H4. Xác nhận sự tự nguyện tặng cho quyền sử dụng đất
của cụ Bùi Thị H4: Giao cho ông Bùi Hải N và bà Nguyễn Thị B được quyền sử
dụng một phần diện tích đất nằm trong thửa đất cụ S1 được Nhà nước giao đất là
104,2m
2
theo chỉ giới các điểm A,2,3,4,5,6,7,B,A (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
Công nhận hiệu lực của Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở lập
ngày 01/4/1999 giữa cụ Lê Thị S1 và vợ chồng ông Giang Văn H3, bà Bùi Thị
Phương T2. Ông Giang Văn H3, bà Bùi Thị Phương T2 được quyền sử dụng
một phần diện tích đất nằm trong thửa đất cụ S1 được Nhà nước giao đất là
77,7m
2
theo chỉ giới các điểm E,D,24,13,F,E (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền
cấp GCN để kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và làm thủ tục xin cấp GCN
theo quy định của Luật Đất đai.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, về án phí
tuyên quyền thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định
của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25 tháng 9 năm 2025, bà Lê Thị Đ có đơn
kháng cáo nội dung không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đề
nghị sửa Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 10-Phú Thọ theo hướng
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn S. Tại phiên tòa phúc
thẩm, ông Phan Văn S là nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bà Lê
10
Thị Đ thay đổi nội dung kháng cáo cho rằng thửa đất 145 không phải là di sản
thừa kế do cụ S1 để lại mà là tài sản chung của hộ gia đình cụ Lê Thị S1 gồm
các thành viên: cụ Lê Thị S1, bà Phan Thị Minh Đ1 và bà Lê Thị Đ vì lúc này
ông S không có tên trong sổ hộ khẩu của gia đình. Khi còn sống cụ S1 đã định
đoạt hết phần của mình, còn bà Đ1 tự nguyện tặng phần của mình cho bà Đ. Vì
vậy đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông S, công nhận diện tích bà Đ
đang quản lý, sử dụng là của bà Đ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Đ; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm
của Tòa án nhân dân khu vực 10-Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Lê Thị Đ trong thời hạn luật
định, đơn hợp lệ được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, giải quyết.
[2]. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các đương
sự đến tham dự phiên tòa và các đương sự đã nhận được văn bản hợp lệ. Tuy
nhiên một số đương sự vắng mặt đã có đơn đề nghị xét xử vắng; ủy quyền cho
người khác tham gia tố tụng. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt
các đương sự là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết và thời hiệu
của vụ án:
- Nguyên đơn Phan Văn S khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa
kế của cụ Lê Thị S1 theo pháp luật đối với bị đơn bà Lê Thị Đ do trước khi chết
cụ S1 không để lại di chúc phân chia định đoạt tài sản; còn người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông H3, bà T2 và ông N, bà B có yêu cầu độc lập là công
nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất do cụ S1 chuyển nhượng đối
với họ. Vì vậy, xác định quan hệ pháp luật phải giải quyết trong vụ án là “Chia
di sản thừa kế và công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo
quy định tại khoản 5; khoản 14 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Hiện nay bị đơn Lê Thị Đ và di sản thừa kế là quyền sử dụng 181,8m
2
11
đất thổ cư tại thửa số 145, tờ bản đồ số 2a địa chỉ thửa đất tại thôn A, xã V, tỉnh
Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân
khu vực 10 - Phú Thọ theo quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 của Bộ luật
Tố tụng Dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Lê Thị Đ kháng cáo nên Tòa án
nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là đúng về thẩm
quyền theo quy định của pháp luật.
[4]. Về nội dung vụ án:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các
đương có đủ cơ sở xác định: Cụ Lê Thị S1 có tài sản là 01 thửa đất ở số 145, tờ
bản đồ số 2A, diện tích là 01 sào được Nhà nước giao theo Quyết định ngày
20/11/1982 của UBND xã Đ), đất chưa được cấp GCN. Quá trình sử dụng cụ Sẻ
đã chuyển nhượng một phần diện tích đất cho cụ H4 (hiện nay cụ H4 đã tặng
cho cháu là anh Bùi Hải N) và một phần diện tích đất cho vợ chồng ông H3, bà
T2; phần diện tích đất còn lại bà Lê Thị Đ đang quản lý, sử dụng; phía nguyên
đơn Phan Văn S yêu cầu phân chia phần diện tích đất còn lại của cụ S1 do bà Lê
Thị Đ đang quản lý sử dụng theo quy định của pháp luật. Cụ thể: Toàn bộ diện
tích đất của cụ S1 theo hiện trạng là 363,7m
2
. Trong đó diện tích đất đã chuyển
nhượng cho cụ H4 (hiện do vợ chồng ông bà Ninh B1 đang quản lý sử dụng) có
diện tích là 104,2m
2
; diện tích đất cụ S1 đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông bà
Hùng T3 là 77,7m
2
; diện tích còn lại do bà Đ đang sử dụng là di sản thừa kế do
cụ S1 để lại 181,8m
2
; phần di sản ông S được hưởng đề nghị được lấy bằng đất
để có nơi ăn ở vì lý do phần diện tích đất ông đang sử dụng nguồn gốc theo địa
phương là đất lấn chiếm; phía bị đơn Lê Thị Đ thừa nhận việc cụ S1 có thửa đất
số 145, tờ bản đồ 2A được Nhà nước giao năm 1982, khi còn sống cụ S1 đã
chuyển nhượng cho cụ H4, chuyển nhượng cho vợ chồng Hùng T3 và phần đất
còn lại hiện bà Đ đang quản lý, sử dụng như nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên,
phía bà Đ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông S về việc chia diện tích
đất bà Đ đang quản lý, sử dụng với lý do khi còn sống cụ S1 đã cho bà diện tích
đất này và cho ông S diện tích đất ông S đang quản lý sử dụng. Tòa án cấp sơ
thẩm đã xác định diện tích đất bà Lê Thị Đ đang quản lý, sử dụng là di sản do cụ
S1 để lại và chia thừa kế theo quy định của pháp luật. Do không đồng ý với
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, bà Lê Thị Đ kháng cáo nội dung đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của ông Phan Văn S.
12
[5]. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn S và nội dung kháng cáo của
bà Lê Thị Đ; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[5.1]. Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Lê Thị S1 chết năm 2002; di sản thừa kế
do ông Phan Văn S đề nghị phân chia là bất động sản do cụ S1 để lại. Ngày 08
tháng 4 năm 2024 Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ thụ lý vụ án do Phan
Văn S khởi kiện đề nghị phân chia di sản thừa kế của cụ Lê Thị S1 nên vụ án
trong thời hiệu thừa kế theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm
2015.
[5.2]. Về hàng thừa kế: Căn cứ vào trình bày của các đương sự và các tài
liệu, chứng cứ được Tòa án cấp sơ thẩm thu thập có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở
xác định: Cụ Lê Thị S1 có 04 con gồm: (1) Bà Phan Thị Minh Đ1, (2) bà Lê Thị
Đ, (3) bà Phan Thị H2 và (4) ông Phan Văn S. Ngoài 04 con trên, cụ Lê Thị S1
không còn người con nào khác. Hiện nay chồng và bố mẹ đẻ của cụ S1 đều đã
chết trước cụ S1. Do vậy hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lê Thị S1 gồm 04 người
nêu trên.
[5.3] Về di sản thừa kế: Khi còn sống, cụ Lê Thị S1 là người quản lý, sử
dụng 02 thửa đất. Cụ thể đó là:
- Thửa đất số 145, tờ bản đồ số 2a, diện tích 360m
2
tại thôn A xã Đ, huyện
V, tỉnh Vĩnh Phúc nay là xã V, tỉnh Phú Thọ được Nhà nước giao theo Quyết
định ngày 20/11/1982 hiện nay chưa được Nhà nước cấp GCN. Quá trình sử
dụng đất ngày 23/6/1985 cụ Lê Thị S1 đã chuyển nhượng một phần thửa đất trên
cho cụ Bùi Thị H4 theo Giấy chuyển nhượng đất lập ngày 23/6/1985, mặc dù
diện tích đất ghi trong giấy chuyển nhượng là 120,5m
2
nhưng diện tích đo đạc
thực tế tại thửa 145 là 104,2m
2
, diện tích đất còn lại cụ H4 quản lý, sử dụng là
hàng lang giao thông; đến ngày 01/4/1999 cụ S1 tiếp tục chuyển nhượng một
phần cho ông Giang Văn H3 và bà Bùi Thị Phương T2 theo Giấy chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ở lập ngày 01/4/1999 thì diện tích ghi trong giấy
chuyển nhượng có chiều rộng là 4,5m; chiều dài là 25m nhưng diện tích đất thực
tế đo đạc tại thửa 145 là 77,7m
2
; diện tích đất còn lại là hàng lang giao thông và
vào thửa đất 144 được địa phương xác định là đất ao do Ủy ban quản lý. Do vậy,
diện tích thửa đất số 145, tờ bản đồ số 2a, tại thôn A xã V, tỉnh Phú Thọ của cụ
S1 được Nhà nước giao là 360m
2
(đo đạc thực tế là 363,7m
2
) sau khi trừ đi diện
tích cụ S1 đã chuyển nhượng cho cụ H4 và chuyển nhượng cho vợ chồng ông
H3, bà T2 thì diện tích đất còn lại là 181,8 m
2
hiện nay do bà Lê Thị Đ đang trực
13
tiếp quản lý, sử dụng.
- Thửa đất số 144 diện tích 600 m
2
cụ S1 sử dụng khi còn sống và sau đó
cụ S1 giao cho ông S (con cụ S1) sử dụng. Tuy nhiên, căn cứ vào bản đồ 299 thể
hiện thửa đất 144 cụ S1 giao cho ông S quản lý, sử dụng là đất ao của UBND xã
không phải đất cụ S1 được Nhà nước giao (điều này thể hiện rõ trong các tài liệu
do Tòa án làm việc với địa phương và hồ sơ quản lý đất đai). Vì vậy, có đủ cơ sở
xác định mặc dù thửa đất 144 hiện nay ông Phan Văn S đang trực tiếp quản lý,
sử dụng có nguồn gốc được cụ S1 giao cho ông S nhưng thửa đất này chưa được
Nhà nước công nhận là của cụ S1. Do đó, diện tích đất hiện nay ông Phan Văn S
đang quản lý, sử dụng không phải di sản của cụ Lê Thị S1 để phân chia trong vụ
án này. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án để không chấp nhận quan điểm của bà Lê Thị Đ cho rằng thửa đất 144
cũng là di sản do cụ S1 để lại là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật. Do
đó, quan điểm của phía bà Lê Thị Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Phan Thị Minh Đ1, Phan Thị H2 trong quá trình giải quyết vụ án là khi còn sống
cụ Lê Thị S1 đã cho ông Phan Văn S diện tích đất ông S đang quản lý, sử dụng
tại thửa 144 là không đúng quy định của pháp luật nên không được Hội đồng xét
xử chấp nhận. Vì: diện tích đất thửa số 144 này Nhà nước chưa công nhận quyền
sử dụng đất cho cụ S1 nên việc giao đất của cụ S1 cho ông S là không hợp pháp;
còn việc xác định quyền sử dụng thửa đất 144 này là đất có nguồn gốc do cụ S1
để lại hay đất của UBND hay đất cụ S1 được giao được cơ quan quản lý Nhà
nước xem xét, giải quyết theo thủ tục hành chính khi có yêu cầu.
- Về các bản di chúc của cụ Lê Thị S1 đối với di sản là thửa đất 145, thấy
rằng: Khi còn sống cụ Lê Thị S1 đã nhiều lần lập văn bản phân chia di sản; cụ
thể: Năm 1997 cụ Lê Thị S1 lập di chúc phân chia thửa đất của cụ thành 03 phần
trong đó một phần cho ông S, một phần cho bà Đ và một phần cụ để lại cho cụ
S1; đến năm 2016, cụ S1 và những người liên quan tiếp tục lập văn bản phân
chia và tặng cho quyền sử dụng đất; theo đó phần đất cụ được Nhà nước giao
diện tích đất là 360m
2
, cụ S1 đã phân chia ông Bùi Hải N 70m
2
, bà Lê Thị Đ
120m
2
, ông Giang Văn H3 50m
2
và ông Phan Văn S 120m
2
. Như vậy, tại thời
điểm lập văn bản phân chia và tặng cho quyền sử dụng đất năm 2016 thì di chúc
của cụ S1 lập năm 1997 đương nhiên hết hiệu lực. Tuy nhiên, khi lập văn bản
phân chia và tặng cho quyền sử dụng đất năm 2016 thì các bên được phân chia,
được tặng cho tài sản không thể xác định được chính xác phần diện tích đất của
14
thửa đất số 145, tờ bản đồ số 2a, tại thôn A xã V, tỉnh Phú Thọ của cụ S1 được
Nhà nước giao phân chia như thế nào, đã có sự nhầm lẫn chồng lấn về vị trí, về
diện tích giữa thửa đất 145 cụ S1 được Nhà nước công nhận với thửa đất 144 cụ
S1 giao cho ông S quản lý, sử dụng nhưng chưa được Nhà nước công nhận
quyền sử dụng cho cụ S1. Cụ thể đó là: phần đất ông S được cụ S1 chia có
120m
2
đất được Nhà nước giao nhưng thực tế thì ông S lại không quản lý, sử
dụng đất tại thửa 145 mà đang quản lý sử dụng toàn bộ thửa đất 144 là đất do
UBND xã quản lý; bà Đ cũng được cụ S1 chia sử dụng 120m
2
đất được Nhà
nước giao nhưng thực tế bà Đ lại đang sử dụng toàn bộ diện tích đất mà cụ S1 để
lại là 181,8m
2
đất được Nhà nước giao; phía ông Bùi Hải N được cụ S1 phân
chia 70m
2
nhưng trong giấy chuyển nhượng cụ S1 chuyển nhượng cho cụ H4
(đã cho ông bà N Bộ) 120,5m
2
còn diện tích đất đo đạc thực tế chỉ là 104,2m
2
;
phía ông Giang Văn H3 được 50m
2
nhưng trong giấy chuyển nhượng cụ S1
chuyển nhượng cho ông bà Hùng Thu 125,5m
2
(4,5mx25m) còn diện tích đo đạc
thực tế ông H3, bà T2 đang quản lý, sử dụng tại thửa 145 là 77,7m
2
và 16,3m
2
tại thửa 144, còn lại là đất hành lang giao thông; Việc di chúc không phù hợp do
có sự nhầm lẫn diện tích đất, về vị trí giữa thửa đất 145 cụ S1 được Nhà nước
công nhận với thửa đất 144 cụ S1 giao cho ông S quản lý, sử dụng nhưng chưa
được Nhà nước công nhận quyền sử dụng cho cụ S1 làm ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Vì vậy, không có cơ sở, căn cứ chấp nhận
di chúc này.
- Đối với di chúc lập ngày 15/8/2022 của cụ Lê Thị S1 do ông S nộp cho
Toà án thì tại thời điểm này cụ S1 đã già yếu, không còn minh mẫn (cụ S1 chết
vào ngày 14/10/2022); nội dung của di chúc cũng không phù hợp khi định đoạt
toàn bộ diện tích đất cho ông S. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án các đương
sự không đề nghị xem xét chia thừa kế theo bản di chúc này nên Hội đồng xét
xử không xem xét giải quyết.
Do vậy di sản của cụ Lê Thị S1 để lại là quyền sử dụng 181,8 m
2
đất hiện
do bà Lê Thị Đ đang quản lý, sử dụng được chia thừa kế theo pháp luật.
[5.4]. Việc phân chia di sản thừa kế: Di sản của cụ Lê Thị S1 để lại là
diện tích đất còn lại (sau khi trừ đi diện tích đất đã chuyển nhượng cho cụ H4 và
ông bà Hùng T3) là 181,8m
2
đất của thửa số 145, tờ bản đồ số 2a, tại thôn A xã
V, tỉnh Phú Thọ được chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lê Thị S1 bao
gồm: (1) bà H2, (2) bà Đ1, (3) bà Đ và (4) ông S. Do bà Phan Thị Minh Đ1 và
15
bà Phan Thị H2 đều không nhận phần thừa kế của mình mà tự nguyện nhường
lại cho bà Lê Thị Đ và ông Phan Văn S. Xét thấy việc từ chối nhận và tặng cho
di sản của bà H2, bà Đ1 là tự nguyện, không trái pháp luật, cần được chấp nhận.
Do vậy phần di sản còn lại của cụ Lê Thị S1 sẽ được chia cho ông Phan Văn S
và bà Lê Thị Đ là phù hợp quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy bà Lê Thị
Đ sống cùng cụ S1 trên thửa đất được Nhà nước giao suốt từ những năm 1982
đến nay, quá trình sinh sống cùng cụ S1 thì bà Đ có công cùng cụ S1 san lấp, tôn
tạo thửa đất nên cần trích một phần diện tích đất để thanh toán công sức cho bà
Đ. Do hiện nay cả bà Đ, ông S đều có nhu cầu về nơi ở và di sản do cụ S1 để lại
là diện tích đất chia được bằng hiện vật nên Tòa án cấp sơ thẩm chia bằng hiện
vật là quyền sử dụng đất cho bà Đ và ông S là đúng pháp luật. Cụ thể như sau:
Chia cho ông Phan Văn S được quyền sử dụng diện tích đất 80m
2
cùng các công
trình xây dựng do bà Đ xây dựng để buộc ông S thanh toán giá trị theo định giá
là phù hợp; chia cho bà Lê Thị Đ được quyền sử dụng diện tích đất còn lại
101,8m
2
là phù hợp.
Về nội dung, tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của bà
Lê Thị Đ cho rằng thửa đất 145 không phải là di sản thừa kế do cụ S1 để lại mà
là tài sản chung của hộ gia đình cụ Lê Thị S1 gồm các thành viên (1) cụ Lê Thị
S1, (2) bà Phan Thị Minh Đ1 và (3) bà Lê Thị Đ thấy rằng: Quyết định giao đất
ngày 20/11/1982 của UBND xã Đ và hồ sơ, tài liệu quản lý đất đai tại địa
phương thể hiện thửa đất 145, tờ bản đồ 2a là của cụ Lê Thị S1 mà không có tài
liệu gì xác định thửa đất 145 được UBND xã giao cho hộ gia đình cụ S1 gồm
các thành viên như phía bà Đ trình bày. Vì vậy, quan điểm của người đại diện
theo ủy quyền cho bà Đ là thửa đất 145 không phải là tài sản của cụ S1 mà được
Nhà nước cấp cho hộ gia đình cụ S1 nhưng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng
minh. Vì vậy, quan điểm của người đại diện cho bà Đ đề nghị cấp phúc thẩm
xác định thửa đất 145 không phải là di sản do cụ S1 để lại để bác yêu cầu khởi
kiện của ông S là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
[6.1]. Đối với yêu cầu độc lập của bà Bùi Thị Phương T2 (đại diện cho
ông Giang Văn H3): Bà T2 và ông H3 xuất trình giấy chuyển nhượng quyền sử
dụng đất lập ngày 01/4/1999 giữa cụ Lê Thị S1 với vợ chồng bà. Giấy tờ có chữ
ký của các bên và xác nhận của UBND xã Đ. Sau khi nhận chuyển nhượng, vợ
chồng bà đã quản lý, sử dụng ổn định, xây dựng nhà cửa kiên cố từ năm 1999
16
đến nay, không có ai tranh chấp, các con của cụ S1 đều đề nghị công nhận giao
dịch này. Xét thấy giao dịch này phù hợp với thực tế sử dụng đất, có xác nhận
của chính quyền địa phương, nên có căn cứ công nhận hiệu lực của hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Lê Thị S1 và vợ chồng bà T2 - ông
H3. Căn cứ vào nội dung của Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở lập ngày
01/4/1999 giữa cụ S1 với vợ chồng ông H3 bà T2 thì phần đất này có chiều rộng
là 4,5m; dài là 25m kể cả hành lang giao thông, tuy nhiên thực tế qua kiểm tra
hiện trạng quyền sử dụng đất theo sơ đồ do Công ty cổ phần Đ3 cung cấp thì
tổng diện tích đất gia đình ông H3, bà T2 đang thực tế quản lý, sử dụng là
100,1m
2
. Trong đó: Diện tích đất trong thửa đất số 145 cụ S1 được Nhà nước
công nhận quyền sử dụng là 77,7m
2
theo chỉ giới các điểm E,D,24,14,13,F,E (có
sơ đồ chi tiết kèm theo) là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận; còn đối
với diện tích đất trong thửa số 144 gia đình ông H3, bà T2 đang quản lý, sử dụng
là 16,3m
2
phía gia đình ông H3, bà T2 đề nghị công nhận thì diện tích đất này
phía địa phương xác định là đất thuộc UBND xã quản lý thì cụ S1 không có
quyền chuyển nhượng nên không có cơ sở để chấp nhận. Tại thời điểm chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ S1 với ông H3, bà T2 mặc dù UBND xã có
xác nhận việc chuyển nhượng này nhưng do các bên tự xác định ranh giới, địa
phương không tiến hành đo đạc cụ thể nên không phát hiện được diện tích đất
hai bên thỏa thuận chuyển nhượng chồng lấn vào thửa đất 144 được xác định là
đất ao thuộc quyền quản lý của ủy ban. Tuy nhiên, sau khi nhận chuyển nhượng
gia đình ông H3, bà T2 sử dụng ổn định, xây nhà ba tầng trên đất, không xảy ra
tranh chấp gì; quá trình sử dụng phía địa phương không có ý kiến gì về việc gia
đình ông H3, bà T2 xây dựng vào thửa đất 144. Tại Biên bản làm việc ngày
19/8/2026 giữa Tòa án với UBND xã V thể hiện nội dung căn cứ vào thực tế sử
dụng đất của gia đình ông H3, bà T2 đề nghị Tòa án công nhận việc chuyển
nhượng đất của các đương sự vào phần diện tích đất gia đình ông H3, bà T2 xây
dựng nhà nhưng phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định. Do vậy, mặc dù
S1 chỉ chuyển nhượng cho ông H3, bà T2 diện tích đất tại thửa 145 là 77,7m
2
nhưng thực tế gia đình ông H3, bà T2 đã nhận chuyển nhượng và sử dụng chồng
lấn vào diện tích của thửa đất 144 như viện dẫn trên, đã xây dựng công trình
kiên cố trên đất. Hiện nay phần chồng lấn này không tranh chấp, được địa
phương đề nghị xem xét nên Tòa án công nhận việc chuyển nhượng giữa cụ S1
với ông H3, bà T2 để ông H3, bà T2 liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm
17
quyền làm thủ tục cấp GCN đối với phần diện tích đã xây dựng công trình như
trên đất là phù hợp. Tuy nhiên, khi gia đình ông H3, bà T2 liên hệ cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền thực hiện việc cấp GCN với phần diện tích đã xây dựng
công trình thì phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định
của pháp luật đất đai.
[6.2]. Đối với yêu cầu độc lập của cụ Bùi Thị H4 (sau này cho ông Bùi
Hải N, bà Nguyễn Thị B): Ngày 23/6/1985, cụ H4 nhận chuyển nhượng của cụ
S1 diện tích 120,5m² thông qua giấy viết tay, không có xác nhận của địa
phương. Tuy nhiên, gia đình cụ H4 đã quản lý, sử dụng đất trên thực tế, sau đó
tặng cho ông Bùi Hải N, bà Nguyễn Thị B năm 2009 và gia đình ông N đã xây
dựng nhà kiên cố, sinh sống ổn định từ đó đến nay. Xét thấy mặc dù giao dịch
chuyển nhượng năm 1985 chưa đúng hình thức theo quy định, nhưng đã được
thực hiện trên thực tế, các bên đều thừa nhận không có tranh chấp và đề nghị
công nhận giao dịch này. Theo Giấy nhượng đất ngày 23/6/1985 giữa cụ S1 và
cụ H4 thì diện tích thoả thuận chuyển nhượng là 120,5m
2
, tuy nhiên thực tế qua
kiểm tra hiện trạng quyền sử dụng đất theo sơ đồ do Công ty cổ phần Đ3 cung
cấp thì diện tích đất nằm trong thửa đất 145 của cụ S1 được Nhà nước công
nhận là 104,2m
2
, còn lại là đất hành lang giao thông. Quá trình giải quyết vụ án
vợ chồng ông N bà B không có ý kiến thắc mắc gì và yêu cầu công nhận hiệu
lực của Hợp đồng đối với phần diện tích đất theo hiện trạng như trên; phía gia
đình cụ Lê Thị S1 (gồm bà Đ, ông S, bà Đ1, bà H2) không có tranh chấp gì về
việc cụ S1 chuyển nhượng và đều đề nghị công nhận việc chuyển nhượng này.
Xét thấy yêu cầu trên của các đương sự là tự nguyện và phù hợp pháp luật nên
cần được chấp nhận. Vì vậy, có căn cứ công nhận hiệu lực của hợp đồng này và
ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của vợ chồng ông Bùi Hải N, bà Nguyễn
Thị B đối với phần đất được tặng cho từ cụ H4.
Từ những phân tích như trên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Tòa
án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu
thập khách quan, đúng pháp luật kết hợp với việc xét hỏi công khai tại phiên tòa
để quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn S đối với bà Lê
Thị Đ là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Do vậy kháng cáo của bà Lê
Thị Đ là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Đ; giữ
18
nguyên Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ là có
căn cứ, được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[8]. Về án phí: Yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bà Lê Thị
Đ phải chịu án phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vì bà Lê Thị
Đ thuộc đối tượng được miễn án phí nên không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Đ; giữ nguyên Bản án dân sự
sơ thẩm số: 43/2025/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 10 – Phú Thọ.
Căn cứ vào các Điều 609, 611, 612, 613, 615, 630, 631, 643, 650, 651 và
660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 166 và 188 của Luật Đất
đai năm 2013; Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227,
Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn S về việc chia di sản
thừa kế của cụ Lê Thị S1 để lại đối với bà Lê Thị Đ về diện tích 181,8m
2
đất ở
tại thửa số 145, tờ bản đồ số 2A, tại thôn A xã V, tỉnh Phú Thọ.
Chia cho ông Phan Văn S được quyền sử dụng diện tích 80m
2
đất ở của
thửa đất số 145, tờ bản đồ số 2A ở thôn A, xã Đ nay là xã V, tỉnh Phú Thọ được
xác định bởi các chỉ giới B-7-6-5-11-12-C1-C2-B (có sơ đồ chi tiết kèm theo)
cùng các tài sản trên đất có các công trình xây dựng bao gồm: 02 bể cá, công
trình phụ và một phần diện tích bếp.
Chia cho bà Lê Thị Đ được quyền sử dụng diện tích 101,8m
2
đất ở của
thửa đất số 145, tờ bản đồ số 2A ở thôn A, xã Đ nay là xã V, tỉnh Phú Thọ được
xác định bởi các chỉ giới C2-C-D-24-14-13-C2 (có sơ đồ chi tiết kèm theo);
Buộc ông Phan Văn S phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho bà Lê Thị Đ giá
trị tài sản các công trình trên phần diện tích đất được chia tổng là 23.720.000đ
(Hai mươi ba triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
19
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, bà Lê Thị Đ có đơn yêu cầu thi
hành án khoản tiền nói trên, nếu ông S chậm trả tiền cho bà Lê Thị Đ thì còn
phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất
phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng
không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
là cụ Bùi Thị H4 và bà Bùi Thị Phương T2:
Công nhận hiệu lực của Giấy nhượng đất ngày 23/6/1985 giữa cụ Lê Thị
S1 và cụ Bùi Thị H4. Xác nhận sự tự nguyện tặng cho quyền sử dụng đất của cụ
Bùi Thị H4 với ông Bùi Hải N và bà Nguyễn Thị B: Ông Bùi Hải N và bà
Nguyễn Thị B được quyền sử dụng diện tích đất nằm trong thửa đất 145 cụ Lê
Thị S1 được Nhà nước giao đất là 104,2m
2
theo chỉ giới các điểm A-2-3-4-5-6-
7-B-A (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
Công nhận hiệu lực của Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở lập
ngày 01/4/1999 giữa cụ Lê Thị S1 và ông Giang Văn H3, bà Bùi Thị Phương
T2. Ông Giang Văn H3, bà Bùi Thị Phương T2 được quyền sử dụng diện tích
đất nằm trong thửa đất 145 cụ S1 được Nhà nước giao đất là 77,7m
2
theo chỉ
giới các điểm E-D-24-13-F-E (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền để
kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.
3. Về án phí: Bà Lê Thị Đ được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 10 - Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 10 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
20
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Văn Nghĩa Nguyễn Xuân Trọng
Nguyễn Duy Sơn
Nguyễn Duy Sơn
21
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 258/2026/DS-PT Bản án số 258/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 258/2026/DS-PT Bản án số 258/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất