Bản án số 1263/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1263/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1263/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1263/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Đoàn Thị Trang Đài khởi kiện ông Đoàn Duy Linh yêu cầu chia di sản thừa kế.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1263/2026/DS-PT Bản án số 1263/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1263/2026/DS-PT Bản án số 1263/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 1263/2026/DS-PT
Ngày 08 - 9 - 2026
“V/v tranh chấp hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất và chia di sản
thừa kế”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tôn Thị Thanh Thúy.
Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Trung.
Bà Hà Thị Phương Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thư – Thư ký viên của Tòa án
nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên
Trong ngày 08 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần
Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 1359/2026/TLPT-DS ngày 21
tháng 7 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và
chia di sản thừa kế”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 74/2026/DS-ST, ngày 22 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1588/2026/QĐ-PT,
ngày 24 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Trang Đ, sinh năm 1983; Địa chỉ: khu V, phường
V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ) (có mặt).
- Bị đơn: Ông Đoàn Duy L, sinh năm 1981; Địa chỉ: khu V, phường V, thị
xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ) (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Lư Trường T, sinh năm 1989; Địa
chỉ: ấp F, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ)
– Là người đại diện theo ủy quyền, theo Văn bản ủy quyền ngày 14/12/2023 (có
mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Đoàn Thị Cẩm T1, sinh năm 1985; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã
L, tỉnh Hậu Giang (nay là B, phường L, thành phố Cần Thơ) (có mặt).
2
2. Bà Bùi Thị Hồng G, sinh năm 1978; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L,
tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ) (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bà G: Ông Lư Trường T, sinh năm 1989; Địa
chỉ: ấp F, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (nay là xã V, thành phố Cần Thơ) – Là
người đại diện theo ủy quyền, theo Văn bản ủy quyền ngày 02/6/2025 (có mặt).
3. Ông Lê Văn C, sinh năm 1954; Địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L, tỉnh
Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ) (vắng mặt).
4. Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1962; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L,
tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ) (có yêu cầu giải quyết vắng
mặt).
5. Ông Trần Thanh H, sinh năm 1985; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L,
tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ) (có yêu cầu giải quyết vắng
mặt).
6. Ông Huỳnh Thanh V, sinh năm 1959; Số B, đường T, phường A, quận N,
thành phố Cần Thơ (nay là phường N, thành phố Cần Thơ) (có yêu cầu giải quyết
vắng mặt).
7. Anh Đoàn Trung T2, sinh năm 2006; Địa chỉ: khu V, phường L, thành phố
Cần Thơ (có mặt).
8. Anh Đoàn Thanh S, sinh năm 2005; Địa chỉ: khu V, phường L, thành phố
Cần Thơ (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
9. Chị Đoàn Thị Hồng N, sinh ngày 08/10/2010 (có ông Đoàn Duy L và bà
Bùi Thị Hồng G là người đại diện theo pháp luật); Địa chỉ: khu V, phường L, thành
phố Cần Thơ (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
10. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1970; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã
L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ) (có yêu cầu giải quyết
vắng mặt).
11. Ông Hồ Văn N1, sinh năm 1947; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L,
tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ) (có yêu cầu giải quyết vắng
mặt).
12. Ông Danh V1, sinh năm 1958; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L, tỉnh
Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ); Chỗ ở hiện nay: 51, N, phường
T, thành phố Hồ Chí Minh (có yêu cầu giải quyết mặt).
13. Bà Võ Ánh N2, sinh năm 1962; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L, tỉnh
Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ); Chỗ ở hiện nay: 51, N, phường
T, thành phố Hồ Chí Minh (có yêu cầu giải quyết mặt).
- Người làm chứng:
1. Ông Trần Minh H2, sinh năm 1947; Địa chỉ: ấp A, xã V, huyện V, tỉnh
Hậu Giang (nay là xã V, thành phố Cần Thơ) (vắng mặt).
2. Ông Trần Văn T3, sinh năm 1962; Địa chỉ: ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Hậu
Giang (nay là xã V, thành phố Cần Thơ) (vắng mặt).
3
3. Ông Trần Văn B, sinh năm 1966; Địa chỉ: ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Hậu
Giang (nay là xã V, thành phố Cần Thơ) (vắng mặt).
4. Ông Trần Út E, sinh năm 1963; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L, tỉnh
Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ) (vắng mặt).
5. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1955; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L,
tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ) (vắng mặt).
6. Ông Võ Hồng H3, sinh năm: 1962; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L,
tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ) (vắng mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn Đoàn Thị Trang Đ, bị đơn ông Đoàn Duy L
và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Hồng G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt
như sau:
Nguyên đơn bà Đoàn Thị Trang Đ trình bày: Cha mẹ của nguyên đơn là ông
Đoàn Văn Q và bà Trần Thị Thu H4 có tạo lập tài sản chung là quyền sử dụng đất
tại khu vực B, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố
Cần Thơ) gồm các thửa đất: thửa số 1407 (1497) diện tích 100m² (đất ODT), thửa
số 1378, diện tích 39m² (đất CLN), thửa số 137 diện tích 25m² (đất CLN), cùng tờ
bản đồ số 6 (theo hệ thống bản đồ chính quy là các thửa số 51, 1379 và 58, tờ bản
đồ số 19). Phần đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
W101323, số vào sổ 00467 ngày 02/01/2003 cho bà Trần Thị Thu H4, tổng diện
tích tranh chấp là 164m
2
. Trên đất có căn nhà cấp 4, tài sản trên đất do gia đình xây
dựng.
Ngày 20/7/2020, bà Trần Thị Thu H4 chết, không để lại di chúc. Tại thời
điểm mở thừa kế, hàng thừa kế thứ nhất của bà H4 gồm 04 người: bà Đoàn Thị
Trang Đ, bà Đoàn Thị Cẩm T1, ông Đoàn Duy L và ông Đoàn Văn Q.
Ngày 15/3/2023, ông Đoàn Văn Q chết. Trước khi chết, ông Q có lập di chúc
viết tay ngày 26/10/2022, có ông Võ Hồng H3 và ông Nguyễn Văn H1 làm chứng,
để lại toàn bộ tài sản của ông bao gồm phần tài sản chung với bà H4 và phần tài sản
ông được thừa kế từ bà H4, cho bà Đoàn Thị T4 Đài quản lý, định đoạt và thụ
hưởng.
Ngoài ra, trong thời gian còn sống, bà Trần Thị Thu H4 có cho bà Nguyễn
Thị Đ1 vay 500.000.000 đồng (lãi 12.000.000 đồng/tháng) và ông Lê Văn C vay
150.000.000 đồng. Tổng số tiền cho vay là 650.000.000 đồng, các giấy nhận nợ
hiện do ông Đoàn Duy L và bà Đoàn Thị Cẩm T1 quản lý.
Sau khi bà H4 và ông Q chết, các đồng thừa kế có tiến hành thỏa thuận phân
chia di sản nhưng không đạt được sự thống nhất. Theo bà Đ, ông Đoàn Duy L không
hợp tác, đang quản lý, chiếm giữ toàn bộ nhà, đất và bản chính Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, không giao cho các đồng thừa kế khác. Vì vậy, bà Đoàn Thị
Trang Đ yêu cầu:
(1) Công nhận di chúc viết tay lập ngày 26/10/2022 của ông Đoàn Văn Q là
hợp pháp.
4
(2) Yêu cầu nhận di sản thừa kế của ông Đoàn Văn Q theo nội dung di chúc,
cụ thể là phần di sản tương ứng 50% khối tài sản chung của ông Q và bà Trần Thị
Thu H4.
(3) Chia di sản thừa kế của bà Trần Thị Thu H4 theo pháp luật cho 04 người
thừa kế gồm ông Q, bà Đ, ông L và bà T1; bà Đ yêu cầu được nhận phần giá trị
tương ứng 2/4 trong phần 50% di sản của bà H4. Bà Đ yêu cầu được nhận giá trị,
thống nhất giao hiện vật cho ông L. Bà Đ thống nhất trừ 40.000.000 đồng tiền ông
L đã sửa chữa tài sản trên đất.
(4) Chia di sản là khoản tiền cho vay tổng cộng 650.000.000 đồng đối với bà
Nguyễn Thị Đ1 và ông Lê Văn C cho các đồng thừa kế; bà Đ yêu cầu được nhận
1/3 số tiền này. Buộc bà Nguyễn Thị Đ1 và ông Lê Văn C thanh toán tiền lãi do
chậm trả, với mức 6.000.000 đồng/tháng đối với mỗi khoản vay, tính từ ngày yêu
cầu đến ngày xét xử.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bà Đoàn Thị Trang Đ giữ
nguyên yêu cầu (1), (2), (3), xin rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu
(4). Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị
đơn về việc phân chia thửa đất 391 vì thửa đất nêu trên là tài sản của bà Đ nhận
chuyển nhượng từ ông H1, ông Danh V1.
Theo đơn phán tố, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa sơ thẩm bị đơn ông Đoàn Duy L, có người đại diện là ông Lư Trường T trình
bày: Ông L là con của bà Trần Thị Thu H4 (đã chết). Ông L và bà Bùi Thị Hồng G
kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 25/12/2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông L chung
sống cùng bà Trần Thị Thu H4. Tại thời điểm này ông Đoàn Văn Q đã chuyển đến
sinh sống tại nhà bà Đoàn Thị Trang Đ, vợ chồng ông Q và bà H4 không còn chung
sống với nhau. Sau đó, bà Trần Thị Thu H4 sống chung với ông Huỳnh Thanh V.
Thời điểm nhận chuyển nhượng đất của ông Hồ Văn N1, bà H4 đang sinh sống
cùng ông Huỳnh Thanh V. Do đó, bà H4 và ông V đã nhận chuyển nhượng phần
đất của ông Hồ Văn N1 để xây dựng nhà ở tại khu vực B, phường V, thị xã L, tỉnh
Hậu Giang. Ông L đã sinh sống cùng bà Trần Thị Thu H4 từ thời điểm nhận chuyển
nhượng đất, xây dựng nhà cho đến nay. Mặc dù, không có đóng góp tiền để mua
đất và xây dựng nhà, nhưng ông có công sức quản lý, gìn giữ, tôn tạo làm tăng giá
trị quyền sử dụng đất và nhà ở; hiện nay vợ chồng ông là người thực hiện việc thờ
cúng.
Ngoài phần đất mà bà Đoàn Thị T4 Đài yêu cầu chia thừa kế, ông L cho rằng
trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Trần Thị Thu H4 và ông Đoàn Văn Q còn có tài sản
là thửa đất số 391, tờ bản đồ số 6, diện tích 105,2m², tọa lạc tại khu vực B, phường
V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01019 ngày 29/12/2020, cùng với nhà ở trên
đất. Theo ông L trình bày, nguồn gốc thửa đất này hình thành trong thời kỳ hôn
nhân giữa bà Trần Thị Thu H4 và ông Đoàn Văn Q. Trong quá trình sử dụng, ông
Đoàn Văn Q sinh sống trên phần đất này, còn bà Trần Thị Thu H4 sinh sống trên
phần đất mà bà Đ đang yêu cầu chia thừa kế. Vì vậy, ông Đoàn Duy L yêu cầu:
(1) Tuyên bố di chúc viết tay lập ngày 26/10/2022 của ông Đoàn Văn Q là vô
hiệu. Không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Trang Đ.
5
(2) Hủy hợp đồng tặng cho giữa ông Đoàn Văn Q cho bà Đoàn Thị Trang Đ
đối với thửa đất 391.
(3) Xác định di sản thừa kế của ông Đoàn Văn Q và bà Trần Thị Thu H4 để
lại gồm thửa đất 391.
(4) Xác định thửa 1047 (1497), thửa 1378 và thửa 1379 là tài sản riêng của bà
Trần Thị Thu H4 trong thời kỳ hôn nhân.
(5) Yêu cầu chia thừa kế đối với phần di sản thừa kế của ông Đoàn Văn Q và
bà Trần Thị Thu H4 để lại gồm thửa đất 391 thửa 1047 (1497), thửa 1378 và thửa
1379. Ông Đoàn Duy L yêu cầu được nhận 02 suất thừa kế mà tài sản của bà Trần
Thị Thu H4 và Đoàn Văn Q để lại.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện bị đơn thay đổi yêu cầu như sau:
(1) Tuyên bố di chúc viết tay lập ngày 26/10/2022 của ông Đoàn Văn Q là
vô hiệu.
(2) Hủy hợp đồng tặng cho giữa ông Đoàn Văn Q cho bà Đoàn Thị Trang Đ
đối với thửa đất 391.
(3) Thống nhất các thửa số 1407 (1497) diện tích 100m² (đất ODT), thửa số
1378 diện tích 39m² (đất CLN), thửa số 137 diện tích 25m² là tài sản chung của bà
H4 và ông Q. Đề nghị chia làm 05 phần, trong đó ông L được hưởng 02 phần, 01
phần của bà G, 01 phần của bà Đ, 01 phần của bà T1. Ông L yêu cầu được nhận
hiện vật. Ông L thống nhất trừ 40.000.000 đồng tiền ông L đã sửa chữa tài sản trên
đất như ý kiến của bà Đ.
(4) Đối với thửa 391 không yêu cầu chia tài sản trên đất, yêu cầu được nhận
giá trị, chia thành 03 phần, mỗi người ông L, bà Đ, bà T1 được nhận 01 phần.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị Cẩm T1 trình bày: Bà
T1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Trang Đ. Đối các thửa số 1407 (1497)
diện tích 100m² (đất ODT), thửa số 1378 diện tích 39m² (đất CLN), thửa số 137
diện tích 25m² yêu cầu được phân chia như ý kiến bà Đ, bà T1 yêu cầu được nhận
01 kỷ phần thừa kế. Bà T1 thống nhất trừ 40.000.000 đồng tiền ông L đã sửa chữa
tài sản trên đất. Đối với thửa 391 là tài sản của bà Đ, nếu Tòa án phân chia thửa đất
này thì bà T1 để lại phần hưởng thừa kế cho bà Đ. Bà T1 đề nghị rút lại toàn bộ yêu
cầu độc lập đối với yêu cầu chia di sản là khoản tiền cho vay đối với bà Nguyễn
Thị Đ1 và ông Lê Văn C cho các đồng thừa kế.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Hồng G trình bày: Bà G
thống nhất với yêu cầu phản tố của ông L. Bà G cho rằng, mặc dù bà G không có
hùn tiền cùng bà H4 mua đất, cất nhà nhưng có công sức, giữ gìn cũng như tôn tạo
làm tăng giá trị của đất và ngôi nhà, hiện nay vợ chồng bà G và ông L là người thờ
cúng bà H4. Bà G yêu cầu được hưởng một suất thừa kế mà tài sản của bà Trần Thị
Thu H4 để lại và tuyên bố di chúc viết tay lập ngày 26/10/2022 của ông Đoàn Văn
Q là vô hiệu. Đối với thửa 391 thì bà G không yêu cầu nhận di sản.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Thanh V trình bày:
Khoảng năm 1997-1998, ông Huỳnh Thanh V có sống chung như vợ chồng với bà
H4 nhưng không đăng ký kết hôn, lúc đó giữa bà H4 và ông Q đã ly thân. Khoảng
năm 2003, bà H4 có nhận chuyển nhượng miếng đất để cất nhà, đối với phần đất
thì ông V không có yêu cầu gì. Đối với căn nhà, thì ông V có hùn với bà H4 để cất
6
nhà nhưng hiện nay không còn hóa đơn, chứng từ. Tiền cất nhà bao gồm bà T1 gửi
về 30.000.000 đồng, còn khoảng 40.000.000 đồng là phần của ông V. Trong vụ án
này ông V không yêu cầu nhận lại số tiền 40.000.000 đồng, nếu Tòa án có phân
chia cho ông V thì ông V để lại cho Đoàn Duy L được hưởng. Ông V không có yêu
cầu gì trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Trung T2 trình bày: Anh
T2 là con của bà Đoàn Thị Trang Đ, đối với phần đất tại thửa 391 là tài sản riêng
của bà Đ nên anh T2 không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Thanh S và chị Đoàn Hồng
N trình bày: Anh chị là con của ông Đoàn Duy L và bà Bùi Thị Hồng G, đương sự
thống nhất với ý kiến của ông L, bà G, không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C trình bày: Ông C có
vay tiền của bà Trần Thị Thu H4, khi vay tiền ông C có giao cho bà H4 bằng khoán
đất, khi nào ông C trả nợ xong thì yêu cầu các con bà H4 trả lại bằng khoán đất cho
ông C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ1 trình bày: Bà Đ1
có vay tiền của bà H4, hiện đang trả tiền lãi cho ông L, khi vay tiền, bà Đ1 có mượn
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của con trai là Trần Thanh H cho bà H4 giữ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh H trình bày: Bà Đ1
có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H để giao cho bà H4 đảm bảo
vay tiền, hiện tại bà Đ1 đóng lãi cho ông L, khi nào bà Đ1 trả nợ cho ông L thì ông
L trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H1 trình bày: Trước
đây ông H1 có cố đất cho ông Đoàn Văn Q, có làm giấy tay với số vàng là 05 cây
vàng 24k nhưng bà Đoàn Thị Trang Đ là người trả vàng nhiều lần, đến khoảng năm
2003, bà Đ trả đủ vàng, có làm biên nhận trả đủ vàng nên ông H1 đã giao đất cho
ông Q, bà Đ sử dụng. Việc ông Q làm giấy tờ hợp thức hóa để được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thì ông H1 không biết. Đối với chữ viết và chữ ký của ông
H1 tại di chúc ngày 26/10/2022 là chữ ký, chữ viết của ông H1 với tư cách người
làm chứng trong di chúc do ông Q lập.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn N1 trình bày: Trước đây,
ông N1 cho sang phần đất cho bà H4 với giá 08 chỉ vàng 24K, khi sang có làm giấy
tay do bà Hà G1. Sau đó, bà H4 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Khi sang đất, chỉ có bà H4 đến gặp ông N1 và trao đổi mua bán, không có mặt của
ông Q cũng như ông V. Ông N1 cũng không bán đất cho ông Q và ông V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Danh V1, bà Võ Ánh N2 trình
bày: Phần đất tại thửa số 391, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại khu vực B, phường V, thị
xã L, tỉnh Hậu Giang trước đây thuộc quyền sử dụng của ông Danh V1 và bà Võ
Ánh N2. Sau đó, phần đất này được chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H1 quản
lý, sử dụng nhưng chưa thực hiện thủ tục sang tên theo quy định. Đến năm 2003,
ông Nguyễn Văn H1 tiếp tục chuyển nhượng lại phần đất trên cho bà Đoàn Thị
Trang Đ với giá 05 lượng vàng 24K. Năm 2004, bà Đ đã thanh toán đầy đủ số vàng
cho ông H1. Do thời điểm này bà Đ không có mặt tại địa phương nên đã nhờ ông
Đoàn Văn Q (là cha của bà Đ) đứng tên thay trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng
7
đất. Ông Danh V2 và bà Võ Ánh N2 xác nhận người thực tế nhận chuyển nhượng
và đã thanh toán tiền đối với phần đất nêu trên là bà Đoàn Thị Trang Đ. Đương sự
không có mua bán gì với ông Đoàn Văn Q.
Những người làm chứng trình bày:
- Ông Trần Minh H2 trình bày: Ông H2 là anh ruột của bà H4; vợ chồng bà
H4, ông Q sau khi cưới nhau thì sinh sống tại P, đến năm 1975 thì về Vị Thủy sinh
sống. Ông Q và bà H4 sống chung đến khoảng năm 1990 thì không còn sống chung.
Sau đó, khoảng 03 năm thì bà H4 quen biết và sống chung với ông V, ông Q thì về
nhà riêng sinh sống. Tiền sang đất hiện nay do ông L đang ở thì ông H2 không biết
của ai nhưng ông H2 khẳng định ông Q không có hùn tiền vào mua đất, cất nhà.
- Ông Trần Văn T3 trình bày: Ông T3 là em của bà H4, tiền sang đất hiện
nay do ông L đang ở thì ông T3 không biết của ai. Sau khi bà H4 và ông Q không
còn sống chung thì bà H4 sống cùng ông V. Ông Q có tới lui thăm con nhưng không
thường xuyên.
- Ông Trần Văn B trình bày: Ông B là em của bà H4, tiền sang đất hiện nay
do ông L đang ở thì ông H2 không biết của ai nhưng ông H2 khẳng định ông Q
không có hùn tiền vào mua đất, cất nhà.
- Ông Trần Út E trình bày: Ông là có quan hệ chú bác với bà H4, khi bà H4
sang đất, cất nhà thì ông chỉ biết có bà H4 và ông V ở, ông V là người trông coi cất
nhà, ông V sống chung với bà H4 đến khi bà H4 chết. Ông Q có tới lui thăm con
nhưng không thường xuyên.
- Ông Nguyễn Văn K trình bày: Ông K là xóm giềng của bà H4. Khoảng năm
2001-2002 bà H4 và ông V có về Vĩnh T5 cất nhà ở, là căn nhà hiện nay ông L
đang ở. Ông V, bà H4 có trực tiếp mượn sân trước nhà ông K để vật liệu xây dựng
trong thời gian cất nhà, ông V là người trực tiếp trông coi cất nhà, khi làm nhà thì
không có mặt ông Q. Sau khi cất nhà xong thì ông Q có tới lui, ghé uống nước.
- Ông Võ Hồng H3 trình bày: Đối với chữ viết và chữ ký của ông H3 tại di
chúc ngày 26/10/2022 là chữ ký, chữ viết của ông H3 với tư cách người làm chứng
trong di chúc do ông Q lập. Mục đích ký để xác nhận ranh giới đất của ông Q với
ông H3, đề làm giấy sang tên cho con gái Đoàn Thị Trang Đ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2026/DS-ST, ngày 22 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ đã quyết định như sau:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 3, khoản 5 Điều 26, Điều 91, Điều 92, Điều 147,
Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 630, Điều 631, Điều 633,
Điều 634, Điều 651, Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 203 Luật Đất đai
năm 2013; Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Trang
Đ; Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Đoàn Duy L; Chấp nhận một phần
yêu cầu độc lập của bà Đoàn Thị Cẩm T1 và không chấp nhận yêu cầu độc lập của
bà Bùi Thị Hồng G.
8
2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Trang
Đ và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị Cẩm
T1 đối với việc chia di sản liên quan đến khoản tiền cho bà Nguyễn Thị Đ1 và ông
Lê Văn C vay cho các đồng thừa kế.
3. Công nhận phần đất cho các đương sự cụ thể như sau:
- Công nhận cho ông Đoàn Duy L phần đất có diện tích 164,0m
2
, ghi chú (I)
theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 69/CHK ngày 16/7/2024 của Công ty cổ
phần Đ2 kèm theo. Ông Đoàn Duy L được quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản trên
phần đất nêu trên.
- Bà Đoàn Thị Trang Đ được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất có diện tích
105,2m
2
, thửa 391 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản gắn liền với đất số CS01019 đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai thị xã L, tỉnh Hậu Giang (cũ) chỉnh lý trang 4 cho bà Đoàn Thị Trang Đ vào
ngày 31/5/2021. Bà Đoàn Thị Trang Đ được quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản trên
phần đất nêu trên.
- Các đương sự có nghĩa vụ giao đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để
các bên thực hiện các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và các bên được quyền liên
hệ với cơ quan có thẩm quyền để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
4. Về nghĩa vụ hoàn trả và thanh toán:
- Bà Đoàn Thị Trang Đ có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Đoàn Duy L số tiền
100.132.866 đồng (Một trăm triệu, một trăm ba mươi hai nghìn, tám trăm sáu mươi
sáu đồng).
- Ông Đoàn Duy L có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đoàn Thị T4 Đài số tiền
905.205.968 đồng (Chín trăm lẻ năm triệu, hai trăm lẻ năm nghìn, chín trăm sáu
mươi tám đồng).
- Ông Đoàn Duy L có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đoàn Thị Cẩm T1 số tiền
150.867.661 đồng (Một trăm năm mươi triệu, tám trăm sáu mươi bảy nghìn, sáu
trăm sáu mươi mốt đồng).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền
kháng cáo, nghĩa vụ chậm thi hành án, hướng dẫn thi hành án theo quy định pháp
luật.
Ngày 07/5/2026 bà Đoàn Thị Trang Đ kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm xem xét lại một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2026/DS-ST ngày 22 tháng
04 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Cần Thơ xét xử vụ tranh chấp giữa
bà với ông Đoàn Duy L, theo hướng sửa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản
tố của ông Đoàn Duy L về việc chia di sản thừa kế tại thửa 391, tờ bản đồ số 6, diện
tích 105,2m², tại Khu V, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Với lý do: Phần đất
tại thửa đất số 391, tờ bản đồ số 6, diện tích 105,2m², tại Khu V, phường V, thị xã
L, tỉnh Hậu Giang là thuộc quyền sử dụng đất của bà, do bà và ông Đoàn Văn Q có
quan hệ là cha con ruột, rất tin tưởng nhau. Vì vậy, khi nhờ đứng tên giùm, bà và
9
ông Q không lập văn bản gì. Tuy nhiên, sau đó ông Q đã sang tên giấy chứng nhận
QSDĐ lại cho bà, bà đã cung cấp bản chính giấy Xác nhận ngày 01/02/2003 về nội
dung nhận vàng chuyển nhượng đất trên; Ông Danh V2 cũng xác nhận việc bà nhận
chuyển nhượng đất, trả vàng cho ông H1 và xác nhận ông Q chỉ đứng tên giùm bà.
Trong quá trình xét xử bà Đoàn Thị Cẩm T1 biết rõ việc nhận chuyển nhượng trên
và biết bà là người chi trả toàn bộ số vàng mua đất nên bà T1 không có yêu cầu;
Khi được Tòa án cấp sơ thẩm xử chia thừa kế thì bà T1 cũng đã trao tặng lại cho
bà.
Ngày 05/5/2026 ông Đoàn Duy L kháng cáo Bản án Dân sự sơ thẩm số
74/2026/DS-ST ngày 22/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ. Yêu
cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm sửa Bản án theo hướng
chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông.
Ngày 05/5/2026 bà Bùi Thị Hồng G kháng cáo Bản án Dân sự sơ thẩm số
74/2026/DS-ST ngày 22/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ. Yêu
cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm sửa Bản án theo hướng
chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn
vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn giữ
nguyên yêu cầu độc lập. Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nên các
đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ
trình bày: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở
cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Về quan điểm giải quyết vụ án sau khi
phân tích và đánh giá chứng cứ kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử kháng cáo
của các đương sự. Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên
Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2026/DS-ST, ngày 22 tháng 4 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng
cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu đề nghị của Kiểm
sát viên và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Đoàn Thị Trang Đ, bị đơn ông
Đoàn Duy L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Hồng G được
nộp trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đầy đủ theo quy
10
định tại các Điều 272, Điều 273, Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do
đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Đoàn Thị Trang Đ đối với
thửa đất số 391:
[2.1] Về nguồn gốc và xác định chủ sở hữu thửa đất 391: Căn cứ hồ sơ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện ngày 10/4/2004, ông Đoàn Văn Q trực
tiếp kê khai, đăng ký trên cơ sở Hợp đồng nhận chuyển nhượng từ ông Danh V1.
Đến ngày 29/4/2004, UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số 00540 cho
"Hộ ông Đoàn Văn Q". Mặc dù, nguyên đơn cho rằng bà là người bỏ tiền ra nhận
chuyển nhượng và chỉ nhờ ông Q đứng tên hộ, nhưng quá trình giải quyết vụ án, bà
Đ không cung cấp được bất kỳ văn bản, thỏa thuận hay chứng cứ hợp pháp nào thể
hiện giao dịch "nhờ đứng tên" giữa bà và ông Q. Căn cứ quy định tại Điều 91, Điều
92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về nghĩa vụ chứng minh, việc nguyên đơn
không chứng minh được tài sản riêng của nguyên đơn thì quyền sử dụng đất đất
ông Đoàn Văn Q xác lập trong thời kỳ hôn nhân với bà H4 được xác định là tài sản
chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014 (và Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000). Tại thời điểm năm 2004,
quan hệ hôn nhân giữa ông Q và bà H4 vẫn tồn tại hợp pháp. Do đó Tòa án cấp sơ
thẩm xác định thửa đất 391 là tài sản chung của ông Q và bà H4 là đúng pháp luật.
[2.2] Về hiệu lực của Hợp đồng tặng cho ngày 10/5/2021: Thửa đất 391 là
tài sản chung của ông Q và bà H4. Việc ông Q tự ý lập Hợp đồng tặng cho toàn bộ
thửa đất 391 cho bà Đ khi bà H4 đã chết (năm 2020) mà không có sự đồng ý của
các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà H4 là vi phạm quyền định đoạt
tài sản của các đồng thừa kế của bà H4. Căn cứ Điều 212, Điều 218, Điều 502 Bộ
luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên Hợp đồng tặng cho ngày
10/5/2021 vô hiệu một phần (đối với 1/2 giá trị quyền sử dụng đất thuộc di sản của
bà H4) là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[2.3] Về việc giải quyết phần di sản của bà H4 tại thửa đất 391: Di sản của
bà H4 là 1/2 giá trị thửa đất 391 (tương ứng số tiền 300.398.600 đồng) được chia
theo pháp luật cho 3 kỷ phần gồm bà Đ, ông L, bà T1 (mỗi kỷ phần là 100.132.866
đồng). Bà T1 tự nguyện để lại phần của mình cho bà Đ, Hội đồng xét xử sơ thẩm
quyết định giao cho bà Đ tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất 391 và hoàn trả giá trị
01 suất thừa kế (100.132.866 đồng) cho ông L, các đương sự không kháng cáo đối
với việc xác định kỷ phần do cấp sơ thẩm xác định nên việc xác định của cấp sơ
thẩm là phù hợp với thực tế sử dụng và bảo đảm quyền lợi của các bên. Do đó,
kháng cáo của bà Đoàn Thị Trang Đ yêu cầu không chấp nhận toàn bộ phản tố của
bị đơn là không có căn cứ, Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Đoàn Duy L:
11
[3.1] Về yêu cầu tuyên vô hiệu Di chúc ngày 26/10/2022 của ông Đoàn Văn
Q: Theo bản kết luận giám định số 788/KL-KTHS ngày 14/01/2026 của Phân Viện
Khoa học hình sự tại TP . đã khẳng định chữ ký, chữ viết trên Di chúc chính là của
ông Đoàn Văn Q. Di chúc được lập thành văn bản, có 02 người làm chứng hợp
pháp (ông H3, ông H1), nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo
đức xã hội. Bị đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh ông Q bị lừa dối, ép
buộc hay mất năng lực hành vi dân sự tại thời điểm lập di chúc. Do đó, căn cứ các
Điều 630, Điều 631, Điều 632, Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét
xử sơ thẩm công nhận di chúc của ông Q là hợp pháp và cho bà Đ hưởng phần di
sản của ông Q là hoàn toàn đúng quy định. Ông L kháng cáo nhưng không cung
cấp được chứng cứ nào mới để chứng minh nên Hội đồng xét xử không có căn cứ
để chấp nhận.
[3.2] Xét kháng cáo của ông L về việc chia tài sản đối với các thửa 1407
(1497), 1378, 1379: Bị đơn yêu cầu chia tài sản làm 05 phần (02 phần là cho bà G
01 phần và tính công sức tôn tạo 01 phần), vì ông L cho rằng bà G và ông kết hôn
với năm từ năm 2002, đến năm 2003 thì bà H4 mua đất và cất nhà mặc dù ông bà
không có góp tiền để mua đất, cũng như cất nhà nhưng có công sức đóng góp là giữ
gìn, bảo quản làm tăng giá trị nhà nên yêu cầu chia cho bà G một suất thừa kế. Xét
thấy, toàn bộ khối tài sản trên theo sự thừa nhận của các đương sự là di sản thừa kế
của ông Q và bà H4, việc bị đơn đòi chia cho bà G 01 suất thừa kế ngang bằng với
các con của ông Q, bà H4 là không đúng quy định về hàng thừa kế theo Điều 651
Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, cấp sơ thẩm không chấp nhận là có căn cứ đúng
quy định pháp luật. Ông L kháng cáo yêu cầu chia cho bà G nhưng cũng không
cung cấp được chứng cứ chứng minh bà G có công sức quản lý, giữ gìn, tôn tạo làm
tăng giá trị tài sản nên Hội đồng phúc thẩm không có căn cứ để xem xét.
[3.3] Đối với kháng cáo của ông L yêu cầu hủy Hợp đồng tặng cho thửa đất
số 391: Như đã phân tích ở mục [2.2], Hợp đồng tặng cho chỉ vô hiệu một phần đối
với 1/2 di sản của bà H4. Đối với 1/2 giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Q
trong khối tài sản chung, ông Q có toàn quyền định đoạt tặng cho bà Đ theo Điều
194, Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015. Bị đơn yêu cầu hủy toàn bộ hợp đồng
tặng cho để chia thừa kế toàn bộ thửa đất 391 là không có căn cứ pháp lý. Từ những
phân tích trên, kháng cáo của ông Đoàn Duy L yêu cầu chấp nhận toàn bộ đơn phản
tố là không có căn cứ chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị
Hồng G: bà Bùi Thị Hồng G kháng cáo yêu cầu được chia 01 suất thừa kế hoặc
công sức đóng góp tôn tạo đối với di sản của bà H4. Xét thấy, tại các lời khai trong
quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà G đã thừa nhận vợ chồng bà không
bỏ tiền ra mua đất hay cất nhà. Việc bà G cho rằng mình có công sức trông nom,
giữ gìn, làm tăng giá trị tài sản nhưng không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng
cứ, hóa đơn, chứng từ nào chứng minh cho chi phí tôn tạo hay công sức đóng góp
12
cụ thể. Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự
có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, do bà G không chứng
minh được công sức đóng góp, Hội đồng xét xử sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu
độc lập của bà G là đúng pháp luật. Bà G kháng cáo nhưng không cung cấp được
tài liệu, chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, kháng cáo
phúc thẩm của bà G không có cơ sở để chấp nhận.
[5] Từ những phân tích trên thấy rằng kháng cáo của các đương sự là không
có căn cứ. Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Đoàn Thị Trang Đ, bị đơn
ông Đoàn Duy L và người liên quan bà Bùi Thị Hồng G. Giữ nguyên Bản án dân
sự sơ thẩm số 74/2026/DS-ST, ngày 22 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 12 - Cần Thơ.
[6] Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Cần Thơ là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận như phân tích trên.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
bà Đoàn Thị Trang Đ, ông Đoàn Duy L và bà Bùi Thị Hồng G mỗi người phải chịu
300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 và Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[8] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên
Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của các đương sự Đoàn Thị Trang Đ, Đoàn Duy
L và Bùi Thị Hồng G. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2026/DS-ST, ngày
22 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ, án tuyên lại như
sau:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Trang
Đ; Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Đoàn Duy L; Chấp nhận một phần
yêu cầu độc lập của bà Đoàn Thị Cẩm T1 và không chấp nhận yêu cầu độc lập của
bà Bùi Thị Hồng G.
13
2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Trang
Đ và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị Cẩm
T1 đối với việc chia di sản liên quan đến khoản tiền cho bà Nguyễn Thị Đ1 và ông
Lê Văn C vay cho các đồng thừa kế.
3. Công nhận phần đất cho các đương sự cụ thể như sau:
- Công nhận cho ông Đoàn Duy L phần đất có diện tích 164,0m
2
, ghi chú (I)
theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 69/CHK ngày 16/7/2024 của Công ty cổ
phần Đ2 kèm theo. Ông Đoàn Duy L được quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản trên
phần đất nêu trên.
- Bà Đoàn Thị Trang Đ được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất có diện tích
105,2m
2
, thửa 391 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản gắn liền với đất số CS01019 đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai thị xã L, tỉnh Hậu Giang (cũ) chỉnh lý trang 4 cho bà Đoàn Thị Trang Đ vào
ngày 31/5/2021. Bà Đoàn Thị Trang Đ được quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản trên
phần đất nêu trên.
- Các đương sự có nghĩa vụ giao đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để
các bên thực hiện các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và các bên được quyền liên
hệ với cơ quan có thẩm quyền để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
4. Về nghĩa vụ hoàn trả và thanh toán:
- Bà Đoàn Thị Trang Đ có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Đoàn Duy L số tiền
100.132.866 đồng (Một trăm triệu, một trăm ba mươi hai nghìn, tám trăm sáu mươi
sáu đồng).
- Ông Đoàn Duy L có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đoàn Thị T4 Đài số tiền
905.205.968 đồng (Chín trăm lẻ năm triệu, hai trăm lẻ năm nghìn, chín trăm sáu
mươi tám đồng).
- Ông Đoàn Duy L có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đoàn Thị Cẩm T1 số tiền
150.867.661 đồng (Một trăm năm mươi triệu, tám trăm sáu mươi bảy nghìn, sáu
trăm sáu mươi mốt đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Đoàn Thị Trang Đ phải chịu án phí số tiền 45.164.151 đồng (Bốn mươi
lăm triệu, một trăm sáu mươi bốn nghìn, một trăm năm mươi mốt đồng), được trừ
vào số tiền 23.312.000 đồng (Hai mươi ba triệu, ba trăm mười hai nghìn đồng) tiền
tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007512 ngày 08/11/2023 của Chi cục thi
14
hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự
khu vực 12 – Cần Thơ). Bà Đoàn Thị Trang Đ phải nộp thêm số tiền 21.852.151
đồng (Hai mươi mốt triệu, tám trăm năm mươi hai nghìn, một trăm năm mươi mốt
đồng).
- Ông Đoàn Duy L phải chịu án phí số tiền 12.550.026 đồng (Mười hai triệu,
năm trăm năm mươi nghìn, không trăm hai mươi sáu đồng) được trừ vào số tiền
18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số
0007795 ngày 02/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu
Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Cần Thơ). Ông Đoàn Duy L
được nhận lại số tiền 5.449.974 đồng (Năm triệu, bốn trăm bốn mươi chín nghìn,
chín trăm bảy mươi bốn đồng).
- Bà Bùi Thị Hồng G phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng), được khấu trừ vào số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) tiền tạm ứng án
phí đã nộp theo biên lai số 0007796 ngày 02/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự
thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 –
Cần Thơ). Bà Bùi Thị Hồng G được nhận lại số tiền 8.700.000 đồng (Tám triệu,
bảy trăm nghìn đồng).
- Bà Đoàn Thị Cẩm T1 phải chịu án phí số tiền 7.543.383 đồng (Bảy triệu,
năm trăm bốn mươi ba nghìn, ba trăm tám mươi ba đồng) được trừ vào số tiền
9.311.691 đồng (Chín triệu, ba trăm mười một nghìn, sáu trăm chín mươi mốt đồng)
tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008111 ngày 18/11/2024 của Chi cục
thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng Thi hành án dân
sự khu vực 12 – Cần Thơ). Bà Đoàn Thị Cẩm T1 được nhận lại số tiền 1.768.308
đồng (Một triệu, bảy trăm sáu mươi tám nghìn, ba trăm lẽ tám đồng).
6. Về chi phí tố tụng:
6.1. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, trích lục hồ sơ:
Số tiền là 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng).
Bà Đoàn Thị Trang Đ phải chịu số tiền 15.393.000 đồng (Mười lăm triệu, ba
trăm chín mươi ba nghìn đồng), bà Đ đã tạm ứng 13.000.000 đồng (Mười lăm triệu,
ba trăm chín mươi ba nghìn đồng) nên phải nộp thêm số tiền 2.393.000 đồng (Hai
triệu, ba trăm chín mươi ba nghìn đồng) để hoàn trả cho ông Đoàn Duy L.
- Ông Đoàn Duy L phải chịu số tiền 3.599.400 đồng (Ba triệu, năm trăm chín
mươi chín nghìn, bốn trăm đồng), ông L đã nộp xong.
- Bà Đoàn Thị Cẩm T1 phải nộp số tiền 2.007.600 đồng (Hai triệu, không
trăm lẽ bảy nghìn, sáu trăm đồng) để hoàn trả cho ông Đoàn Duy L.
6.2. Về chi phí giám định chữ ký: Ông Đoàn Duy L phải chịu số tiền
5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), ông L đã nộp xong.
15
7. Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự phải chịu 300.000 đồng. Được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai
thu tiền tạm ứng án phí ông Đoàn Duy L nộp số 0009054 ngày 11/5/2026; bà Bùi
Thị Hồng G nộp số 0009055, ngày 11/5/2026 và bà Đoàn Thị T4 Đài nộp số
0008890 ngày 07/5/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 36 và
Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu yêu cầu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
9. Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND khu vực 12 - Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 12 - Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu: HS-VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Tôn Thị Thanh Thúy
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1263/2026/DS-PT Bản án số 1263/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1263/2026/DS-PT Bản án số 1263/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất