Bản án số 1330/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1330/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1330/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1330/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hủy Bản án sơ thẩm số 18/2026/DS-ST, ngày 24 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ, chuyển hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1330/2026/DS-PT Bản án số 1330/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1330/2026/DS-PT Bản án số 1330/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 1330/2026/DS-PT
Ngày: 15 - 9 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và phân chia di sản thừa kế
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Lâm
Các Thẩm phán: Ông Phạm Quang Nhuận
Ông Lương Phước Đại
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Thông – Thư ký
viên Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Xuân Lộc - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 08, 15 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 1214/2026/TLPT-DS ngày 21 tháng 7
năm 2026, về việc:“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
phân chia di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2026/DS-ST, ngày 24 tháng 02 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1646/2026/QĐ-PT ngày
28 tháng 7 năm 2026. Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1962; Địa chỉ: ấp E, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu
Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị M: Ông Nguyễn Văn L, sinh
năm 1955. Địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L,
thành phố Cần Thơ) – Văn bản ủy quyền ngày 06/6/2024. (Có mặt).
2
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị M: Luật sư Nguyễn
Văn T - Văn phòng L5 – Đoàn Luật sư tỉnh H. (Có mặt).
2. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1955; Địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L,
tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ). (Có mặt).
3. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1967 ; Địa chỉ: ấp E, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu
Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H: Ông Nguyễn Văn T,
sinh năm 1976; Địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường
L, thành phố Cần Thơ) – Là người đại diện theo ủy quyền, Văn bản ủy quyền ngày
07/12/2023. (Có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1959; Địa chỉ: ấp E, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang
(nay là phường L, thành phố Cần Thơ).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn Đ: Ông Lê Nguyễn Toàn P,
sinh năm 1990; Địa chỉ: ấp E, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành
phố Cần Thơ) – Là người đại diện theo ủy quyền, Văn bản ủy quyền ngày
22/12/2025. (Có mặt).
2. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1961; Địa chỉ: ấp E, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu
Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị C: Ông Lê Nguyễn Toàn P,
sinh năm 1990; Địa chỉ: ấp E, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành
phố Cần Thơ) – theo Văn bản ủy quyền ngày 22/12/2025. (Có mặt).
3. Ông Lê Văn Đ1, sinh năm 1956; Địa chỉ: ấp F, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang
(nay là phường L, thành phố Cần Thơ). (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Trung T1, sinh năm 1986; Địa chỉ: ấp F, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu
Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ). (Có mặt).
2. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1943; Địa chỉ: ấp E, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu
Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ). (Vắng mặt).
3. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1946; Địa chỉ: số C, đường A, khu dân cư H,
phường H, quận C, thành phố Cần Thơ (nay là phường H, thành phố Cần Thơ).
(Vắng mặt).
4. Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1949; Địa chỉ: A S Renton W, Hoa Kỳ. (Vắng
mặt).
5. Ông Nguyễn Quốc T3, sinh năm 1977; Địa chỉ: ấp A, xã A, tỉnh Tây Ninh.
(Vắng mặt).
3
6. Bà Nguyễn Thị Thiên T4, sinh năm 1980; Địa chỉ: ấp A, xã A, tỉnh Tây
Ninh. (Vắng mặt).
7. Bà Nguyễn Thị Thiên K, sinh năm 1990; Địa chỉ: ấp A, xã A, tỉnh Tây Ninh.
(Vắng mặt).
8. Bà Nguyễn Thị Cẩm C1, sinh năm 1959; Địa chỉ: ấp E, xã L, thị xã L, tỉnh
Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ). (Vắng mặt).
9. Ông Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1958; Địa chỉ: số A, đường T, phường A,
quận N, thành phố Cần Thơ (nay là phường A, thành phố Cần Thơ). (Vắng mặt).
10. Bà Phạm Thị Bích T5, sinh năm 1961; Địa chỉ: khu V, phường L, thành
phố Cần Thơ. (Vắng mặt).
11. Ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1983; Địa chỉ: khu V, phường L, thành phố
Cần Thơ. (Vắng mặt).
12. Bà Nguyễn Thị Xuân T7, sinh năm 1985; Địa chỉ: khu V, phường L, thành
phố Cần Thơ. (Vắng mặt).
13. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm: 1968; Địa chỉ: ấp E, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu
Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị G: Ông Nguyễn Văn T, sinh
năm 1976; Địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L,
thành phố Cần Thơ) – theo Văn bản ủy quyền ngày 07/12/2023. (Có mặt).
14. Bà Nguyễn Thị Việt H1, sinh năm 1954 (đã chết ngày 09/7/2025);
Có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Phan Nguyễn Thu M1, sinh
năm 1978 (vắng mặt); bà Phan Nguyễn Bình M2, sinh năm 1980 (có mặt) và bà
Đoàn Ngọc T8, sinh năm 1993 (vắng mặt). Cùng địa chỉ: số B, khu V, phường A,
phường A, thành phố Cần Thơ.
15. Ông Nguyễn Văn T9, sinh năm 1956; Địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L,
tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ). (Vắng mặt).
16. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1959; Địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L, tỉnh
Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ). (Có mặt).
17. Bà Nguyễn Thị B (Tên gọi khác: Bé S), sinh năm 1961; Địa chỉ: khu V,
phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ). (Có
mặt).
18. Bà Nguyễn Thị Thanh H2 (Tên gọi khác: Nguyễn Thị Bé B1), sinh năm
1968; Địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành
phố Cần Thơ). (Có mặt).
19. Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1972; Địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L,
tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ).
4
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn L2 là ông Nguyễn Việt
T10, sinh năm 1994. Địa chỉ: khu V, phường L, thành phố Cần Thơ – theo Hợp đồng
ủy quyền ngày 10/4/2026. (Có mặt).
20. Ông Nguyễn Văn T11, sinh năm 1969; Địa chỉ: khu vực Bình Thạnh B,
phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ). (Có
mặt).
21. Ông Nguyễn Văn T12 (Tên gọi khác: Út C2), sinh năm 1975; Địa chỉ: ấp
E, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang (nay là xã V, thành phố Cần Thơ). (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn
Văn L2, ông Nguyễn Văn T11, ông Nguyễn Văn T12, bà Nguyễn Thị Thanh H2 là
Luật sư Trần Thanh P1, sinh năm 1951, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C. Văn
phòng Luật sư Trần Thanh P1, địa chỉ: A dãy B T, phường T, thành phố Cần Thơ.
(Có mặt).
22. Bà Nguyễn Thị Bé G1, sinh năm 1987; Địa chỉ: A, đường C, phường N,
thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
23. Bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1939 (đã chết ngày 02/01/2026);
Có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Nguyễn Thị Bé G1, sinh
năm 1987. (Có mặt).
24. Bà Nguyễn Thị C3, sinh năm 1959 (vợ ông Lê Văn Đ1); Địa chỉ: ấp F, xã
L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ). (Vắng mặt).
25. Ngân hàng T14; Địa chỉ: Địa chỉ: số B, N, phường V, quận C, Thành phố
Hồ Chí Minh (nay là phường X, Thành phố Hồ Chí Minh). Người đại diện: Ông
Dương Tọa L4 – Trưởng phòng Phòng G2 - theo Văn bản ủy quyền ngày
27/12/2024. (Đơn yêu cầu vắng mặt).
26. Bà Lê Nguyễn An P2, sinh năm 1988; Địa chỉ: khu V, phường L, thành
phố Cần Thơ. (Có mặt);
27. Ông Lê Nguyễn Toàn P, sinh năm 1990; Địa chỉ: khu V, phường L, thành
phố Cần Thơ. (Có mặt).
28. Bà Lê Ngọc Như P3, sinh năm 1993; Địa chỉ: khu V, phường L, thành phố
Cần Thơ. (Vắng mặt).
- Người kháng cáo:
1. Ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị C là bị đơn.
2. Bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn L2, ông Nguyễn Văn T11, ông
Nguyễn Văn T12, bà Nguyễn Thị Thanh H2 là những người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
5
Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung được
tóm tắt như sau:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M (có người đại diện là ông Nguyễn Văn
L) trình bày: Bà Nguyễn Thị M yêu cầu giải quyết các phần đất như sau:
* Đối với phần đất CLN, ONT: Trước đây, bà Nguyễn Thị H3 và bà Nguyễn
Thị H4 có tạo lập phần tài sản là quyền sử dụng đất với tổng diện tích khoảng
6.917m², gồm 6.632 m² đất vườn và 285m² đất thổ cư. Phần đất này do bà Nguyễn
Thị H3 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do không có chồng, con
nên bà Nguyễn Thị H3 và bà Nguyễn Thị H4 có nhận nuôi hai người cháu sinh đôi
là bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị M. Năm 2004, bà Nguyễn Thị H3 chết, không
để lại di chúc. Năm 2022, bà Nguyễn Thị H4 chết và cũng không để lại di chúc. Khi
bà Nguyễn Thị M yêu cầu phân chia di sản thừa kế do bà Nguyễn Thị H3, Nguyễn
Thị H4 để lại thì ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị C không đồng ý.
Theo đơn khởi kiện, bà M cho rằng mình là con nuôi của bà Nguyễn Thị H3
và bà Nguyễn Thị H4, tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xác định yêu cầu
hưởng thừa kế theo hàng thừa kế thứ ba, với tư cách là cháu của bà H3, bà H4 và là
con của ông Nguyễn Văn T13.
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, bà Nguyễn Thị M yêu cầu Tòa
án giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Nguyễn Thị M
và tiến hành phân chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị H4 để
lại theo quy định pháp luật cho những người thừa kế có liên quan.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn yêu cầu như sau:
- Xin rút lại yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà
Nguyễn Thị M.
- Phân chia phần đất làm nền mộ có diện tích 150m
2
(bao gồm phần ghi chú
(Ic) – diện tích 74,9m
2
, (I) – diện tích 75,1m
2
) và phần lối đi vào nền mộ có diện tích
230,9m
2
, ghi chú (I) theo đo đạc thực tế cho các đồng thừa kế gồm bà Nguyễn Thị
M, ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị C cùng quản lý, sử dụng chung. Đồng ý
trả giá trị cây trồng trên phần đất này cho ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị C.
- Phân chia đối với phần đất có diện tích 3.773,9m
2
– ghi chú (Ia) và 285m
2
–
ghi chú (I) theo đo đạc thực tế cho bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị C được
hưởng, bà Nguyễn Thị M thống nhất nhận giá trị phần đất. Không yêu cầu phân chia
tài sản trên đất.
* Đối với phần đất LUC: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là tài sản của bà
Nguyễn Thị H3 và bà Nguyễn Thị H4. Phần đất này do ông bà để lại tại thửa đất số
1065. Từ năm 1987, bà Nguyễn Thị H3 và bà Nguyễn Thị H4 cho ông Lê Văn Đ và
6
bà Nguyễn Thị C thuê phần đất nêu trên để canh tác. Trong quá trình sử dụng đất,
hằng năm vợ chồng ông Lê Văn Đ có giao lúa và trả tiền thuê đất cho hai bà, việc
này được người dân địa phương biết rõ. Đến năm 2004, bà Nguyễn Thị H3 chết;
năm 2022, bà Nguyễn Thị H4 chết, cả hai đều không để lại di chúc. Sau khi hai bà
chết, nguyên đơn phát hiện ông Lê Văn Đ đã tự ý làm thủ tục đăng ký đứng tên
quyền sử dụng đất từ năm 1995 mà không có sự đồng ý của gia đình. Đến năm 2017,
ông Lê Văn Đ tiếp tục ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh ruột
là ông Lê Văn Đ1. Nguyên đơn cho rằng việc đứng tên và chuyển nhượng này được
thực hiện bằng hành vi gian dối, vì tại thời điểm ông Đ làm thủ tục đăng ký quyền
sử dụng đất thì bà H3 và bà H4 vẫn còn minh mẫn, có đầy đủ năng lực để quản lý
và định đoạt tài sản; gia đình không ký bất kỳ giấy tờ nào cho phép ông Đ đứng tên
hoặc chuyển nhượng tài sản.
Theo kết quả hòa giải tại địa phương, nguồn gốc đất được xác định là của bà
Nguyễn Thị H3 và bà Nguyễn Thị H4. Nguyên đơn cho rằng việc ông Lê Văn Đ
đứng tên quyền sử dụng đất và chuyển nhượng cho ông Lê Văn Đ1 là nhằm chiếm
đoạt tài sản của gia đình.
Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, nguyên đơn yêu cầu Tòa án: Hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Lê Văn Đ; Hủy, vô hiệu hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn Đ và ông Lê Văn Đ1. Giải
quyết chia di sản thừa kế đối với phần đất do bà Nguyễn Thị H3 và bà Nguyễn Thị
H4 để lại theo đo đạc thực tế là 14.801,7m
2
theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn yêu cầu như sau:
- Xin rút lại yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông
Lê Văn Đ.
- Hủy, vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn
Đ và ông Lê Văn Đ1.
- Phân chia đối với phần đất có diện tích 14.801,7m
2
theo đo đạc thực tế cho
bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị C được hưởng, bà Nguyễn Thị M thống nhất
nhận giá trị phần đất. Không yêu cầu phân chia tài sản trên đất.
Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn L trình bày: Thống nhất phần
trình bày của bà Nguyễn Thị M. Trong vụ án này, ông Nguyễn Văn L chỉ yêu cầu
được phân chia phần đất làm nền mộ có diện tích 150m
2
(bao gồm phần ghi chú (Ic)
– diện tích 74,9m
2
, (I) – diện tích 75,1m
2
) và phần lối đi vào nền mộ có diện tích
230,9m
2
, ghi chú (I) theo đo đạc thực tế cho các đồng thừa kế gồm bà Nguyễn Thị
M, ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị C cùng quản lý, sử dụng chung. Đồng ý
trả giá trị cây trồng trên phần đất này cho ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị C. Đối
7
với các phần đất còn lại ông L rút toàn bộ yêu cầu, không phân chia di sản thừa kế,
để cho bà C và bà M phân chia, giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông H xin rút lại
toàn bộ yêu cầu khởi kiện, không phân chia di sản thừa kế, để cho bà C và bà M
phân chia, giải quyết.
Bị đơn ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị C (có người đại diện là ông Lê Nguyễn
Toàn P) trình bày: Không thống nhất phân chia di sản thừa kế, không thống nhất với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do phần đất đã được bị đơn đứng tên trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu đối với hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn Đ và ông Lê Văn Đ1.
Bị đơn ông Lê Văn Đ1 trình bày: Trước đây, ông Đ1 có nhận chuyển nhượng
đất của ông Lê Văn Đ phần đất khoảng 13 công tầm nhỏ với giá chuyển nhượng là
01 cây vàng/01 công đất. Hiện nay, giao dịch chuyển nhượng đã thực hiện xong, ông
Đ1 đã thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đã đứng tên trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và đang thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
tại Ngân hàng Thương mại cổ phần T14, ông Đ1 đề nghị giữ nguyên hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đ1 và ông Đ.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Ông Lê Trung T1 trình bày: Phần đất ruộng tranh chấp ông Đ1 đã nhận
chuyển nhượng từ ông Đ, do ông Đ1 đã lớn tuổi và đang sinh sống cùng với ông T1
nên ông Đ1 để cho ông T1 quản lý, sử dụng. Trong vụ án này, ông T1 để cho ông
Đ1 toàn quyền quyết định, ông T1 không có ý kiến, yêu cầu gì.
- Bà Nguyễn Thị C3 trình bày: Trước đây, bà C3 và ông Đ1 có nhận chuyển
nhượng đất của ông Lê Văn Đ phần đất khoảng 13 công tầm nhỏ với giá chuyển
nhượng là 01 cây vàng/01 công đất. Hiện nay, giao dịch chuyển nhượng đã thực hiện
xong, ông Đ1 đã thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đã đứng tên
trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang thế chấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất tại Ngân hàng Thương mại cổ phần T14. Trong vụ án này, bà C3 để ông
Đ1 toàn quyền quyết định, ý kiến ông Đ1 là ý kiến của bà C3.
- Bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị Cẩm C1, ông Nguyễn
Văn R, ông Nguyễn Quốc T3, bà Nguyễn Thị Thiên T4, bà Nguyễn Thị Thiên K,
ông Nguyễn Văn Đ2, bà Phạm Thị Bích T5, ông Nguyễn Văn T6, bà Nguyễn Thị
Xuân T7, bà Nguyễn Thị G cùng trình bày: Các ông bà là con, cháu của ông Nguyễn
Văn T13, việc tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn các đương sự không có ý kiến,
yêu cầu gì trong vụ án này.
- Bà Nguyễn Thị Việt H1, ông Nguyễn Văn T9, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn
Thị B (Tên gọi khác: Bé S), bà Nguyễn Thị Thanh H2 (Tên gọi khác: Nguyễn Thị
8
Bé B1), ông Nguyễn Văn L2, ông Nguyễn Văn T11, ông Nguyễn Văn T12 (Tên gọi
khác: Út C2), bà Nguyễn Thị Bé G1, bà Nguyễn Thị L3 cùng trình bày: Các ông bà
là vợ và các con của ông Nguyễn Văn H5, việc tranh chấp giữa nguyên đơn và bị
đơn các đương sự không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án này.
- Bà Lê Nguyễn An P2, ông Lê Nguyễn Toàn P, bà Lê Ngọc Như P3 cùng
trình bày: Thống nhất với ý kiến của bà Nguyễn Thị C và ông Lê Văn Đ, không đồng
ý chia di sản thừa kế.
- Ngân hàng T14 trình bày: Ngân hàng T14 (gọi tắt là Ngân hàng) có cho ông
Lê Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị C3 vay số tiền 150.000.000 đồng vào ngày 07/7/2023,
để đảm bảo khoản vay, đương sự đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất thửa 1065
theo Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 07/7/2023. Trong vụ án này, Ngân hàng không
yêu cầu khách hàng tất toán khoản vay trước hạn do khách hàng thực hiện đầy đủ,
đúng nghĩa vụ về khoản vay và thanh toán đúng hạn, không phát sinh trễ hạn.
Tại Bản án sơ thẩm số 18/2026/DS-ST ngày 24/02/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 12 – Cần Thơ, đã tuyên như sau:
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị M.
Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H liên quan đến
phần đất LUC có diện tích 14.801,7m
2
.
Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L liên quan đến
phần đất LUC có diện tích 14.801,7m
2
.
[2] Đối với yêu cầu giải quyết phần đất CLN, ONT.
- Công nhận cho bà Nguyễn Thị C phần đất có diện tích là 3.773,9m
2
(ghi chú
(I)) và phần đất có diện tích là 285m
2
(ghi chú (I)). Bà Nguyễn Thị C được tiếp tục
quản lý, sử dụng toàn bộ phần tài sản trên đất gồm nhà chính, công trình xây dựng
khác và cây trồng trên phần đất được công nhận.
- Công nhận phần đất làm nền mộ có diện tích là 150m
2
(bao gồm phần ghi
chú (Ic) – diện tích 74,9m
2
, (I) – diện tích 75,1m
2
) và phần lối đi vào nền mộ có diện
tích 230,9m
2
, ghi chú (I) cho các đồng thừa kế gồm bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn
Văn L và bà Nguyễn Thị C cùng quản lý, sử dụng chung.
- Các đương sự có nghĩa vụ giao đất để các bên thực hiện các thủ tục chuyển
quyền sử dụng đất và các bên được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo kết quả giải quyết của Tòa án.
- Bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ trả giá trị di sản thừa kế cho bà Nguyễn Thị
M số tiền 479.095.560 đồng (Bốn trăm bảy mươi chín triệu, không trăm chín mươi
lăm nghìn, năm trăm sáu mươi đồng).
9
- Bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn L có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị C
và ông Lê Văn Đ số tiền 17.340.000 đồng (Mười bảy triệu, ba trăm bốn mươi nghìn
đồng) giá trị cây trồng. Bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn L được sở hữu toàn bộ
cây trồng nằm trên phần đất làm nền mộ và phần lối đi vào nền mộ nêu trên.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.(Có
Trích đo bản đồ địa chính số 61/CN-CHK ngày 21/11/2025 của Công ty Cổ phần
Đ3 kèm theo).
[3] Đối với yêu cầu giải quyết phần đất LUC.
Bà Nguyễn Thị C, ông Lê Văn Đ có nghĩa vụ trả giá trị di sản thừa kế cho bà
Nguyễn Thị M số tiền 310.835.700 đồng (Ba trăm mười triệu, tám trăm ba mươi lăm
nghìn, bảy trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tách việc giải quyết liên quan đến hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng T14 với ông Lê Văn Đ1, bà Nguyễn Thị C3 thành
vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng
cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị C có đơn
kháng cáo ngày 06/3/2026. Kháng cáo một phần đối với Bản án dân sự sơ thẩm số
18/2026/DS-ST ngày 24/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn
Văn L2, ông Nguyễn Văn T11, ông Nguyễn Văn T12, bà Nguyễn Thị Thanh H2 có
đơn kháng cáo ngày 13/4/2026. Kháng cáo toàn bộ đối với Bản án dân sự sơ thẩm
số 18/2026/DS-ST, ngày 24 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 -
Cần Thơ yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm để bảo
đảm quyền tham gia tố tụng hợp pháp của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn L2, ông Nguyễn Văn T11, ông Nguyễn
Văn T, bà Nguyễn Thị Thanh H2 theo quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự trình bày:
10
- Các đương sự có kháng cáo đều giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Nguyên đơn không đồng ý kháng cáo của bị đơn và một số người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan có kháng cáo. Đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Luật sư Trần Thanh P1 bảo vệ quyền và lợi ích cho những người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan có kháng cáo có ý kiến: Do cấp sơ thẩm chưa xác minh
làm rõ các chứng cứ có liên quan đến những người có kháng cáo là có sai sót, đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án về sơ thẩm xem
xét, giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Luật sư Nguyễn Văn T bảo vệ quyền và lợi ích cho nguyên đơn có ý kiến:
Do Tòa án sơ thẩm đã công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần, công bố các hàng
thừa kế đúng quy định pháp luật và đa số các đương sự đều đồng tình. Nguyên đơn
không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan có kháng cáo, đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa hôm
nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của
pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Qua diễn biến tranh tụng tại phiên tòa và qua
đối chiếu tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, trên cơ sở ý kiến trình bày của các đương
sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, do có phát sinh tình tiết mới phát sinh liên quan đến
thủ tục tố tụng và việc thu thập tài liệu, chứng cứ. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên đương sự. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 3
Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là hủy bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy
đủ ý kiến của các bên đương sự; ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị M; cũng như ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B,
ông Nguyễn Văn L2, ông Nguyễn Văn T11, ông Nguyễn Văn T12, bà Nguyễn Thị
Thanh H2 và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ,
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp giữa các đương sự là
“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và phân chia di sản thừa
kế” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ theo
11
quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2025) và Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2025) cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết là phù hợp.
[2] Về thủ tục: Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị C có
đơn kháng cáo ngày 06/3/2026; bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn L2, ông Nguyễn
Văn T11, ông Nguyễn Văn T12 và bà Nguyễn Thị Thanh H2 có đơn kháng cáo ngày
13/4/2026. Các đơn kháng cáo được thực hiện trong thời hạn luật định và những
người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên được xem
xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, việc xét xử vắng mặt một số
đương sự được thực hiện theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[3] Về nội dung vụ án và những vấn đề cần giải quyết: Theo hồ sơ vụ án,
nguyên đơn bà Nguyễn Thị M yêu cầu giải quyết các phần đất có nguồn gốc từ bà
Nguyễn Thị H3 và bà Nguyễn Thị H4; yêu cầu phân chia di sản thừa kế theo quy
định pháp luật và giải quyết đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông Lê Văn Đ và ông Lê Văn Đ1. Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của bà M; đình chỉ một số yêu cầu đã được rút; công nhận một số
phần đất cho bà Nguyễn Thị C và các đồng thừa kế; buộc thực hiện nghĩa vụ thanh
toán giá trị di sản và giá trị cây trồng; đồng thời tách việc giải quyết quan hệ tín
dụng, thế chấp giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần T14 với ông Lê Văn Đ1, bà
Nguyễn Thị C3 thành vụ án khác khi có yêu cầu.
Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm phát sinh vấn đề liên quan đến quyền yêu cầu
phân chia di sản thừa kế. Đây là vấn đề cần được xem xét trước khi đánh giá toàn
diện tính đúng đắn của bản án sơ thẩm.
[4] Hội đồng xét xử xét thấy:
Hồ sơ vụ án thể hiện ông Nguyễn Văn L2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan và có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Việt T10. Tại phiên tòa
phúc thẩm, ông Nguyễn Việt T10 trình bày ông Nguyễn Văn L2 hiện đang chấp
hành án và ông L2 không trực tiếp ký, viết vào bản tự khai có trong hồ sơ vụ án; chữ
ký, chữ viết trong bản tự khai là do người khác ký, viết thay. Ông T10 không yêu
cầu giám định chữ ký, chữ viết. Tuy nhiên, những người là anh, chị, em của ông
Nguyễn Văn L2 cũng không thừa nhận chữ ký, chữ viết thể hiện trong bản tự khai
là do ông L2 trực tiếp viết, ký. Ông Nguyễn Văn L là người đại diện cho nguyên
đơn, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người trực tiếp nộp
bản tự khai của ông L2 cho Tòa án. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L cũng xác định
ông L2 đang chấp hành án và cho rằng chữ ký, chữ viết trong bản tự khai không phải
12
do ông L2 thực hiện, còn ai thực hiện thì ông không biết do lúc đó ông đưa nhiều
bản cho mọi người ký tên.
Hội đồng xét xử xét thấy, nội dung này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác
định giá trị chứng minh của các tài liệu có trong hồ sơ và ý chí tố tụng của ông
Nguyễn Văn L2. Bởi lẽ, xuất phát từ bản tự khai của ông L2, cấp sơ thẩm đã xác
định ông L2 không có yêu cầu đối với việc phân chia di sản thừa kế và không đặt ra
chia. Sau khi tuyên án sơ thẩm, ông L2 có kháng cáo. Đây là vấn đề ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích trực tiếp của ông L2 nhưng chưa được cấp sơ thẩm xem xét là chưa
đảm bảo tòan diện về việc giải quyết vụ án. Vì vậy, khi chính người có liên quan và
những người trong gia đình ông L2 không thừa nhận chữ ký, chữ viết trong các tài
liệu là của ông L2 thì cần phải tiến hành xác minh, đối chiếu; trường hợp cần thiết
phải trưng cầu giám định để xác định người trực tiếp ký, viết các tài liệu. Do đó, đây
là vấn đề tố tụng và chứng cứ cần phải được làm rõ trước khi có thể xác định đầy đủ
quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông L2 cũng như đánh giá các tài liệu, chứng cứ khác
có liên quan.
Ngoài nội dung nêu trên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm các đương
sự có thông báo về việc bà Nguyễn Thị L3 và bà Nguyễn Thị Việt H1 đã chết trước
khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy, việc bà L3 và bà H1 chết
trước thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm nhưng các đương sự trong cùng vụ án này
cũng không ai thông báo hay cung cấp thông tin liên quan việc bà L3 và bà H1 đã
chết nên cấp sơ thẩm không có xem xét đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ
tố tụng của bà L3 và bà H1 vào tham gia tố tụng là có thiếu sót. Hội đồng xét xử
xem xét đây là tình tiết mới quy định tại khoản 1 Điều 310 và khoản 3 Điều 308 của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là có cơ sở để hủy
bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án để đảm
bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
Bản án bị hủy do có tình tiết mới phát sinh liên quan đến thủ tục tố tụng về
việc thu thập tài liệu, chứng cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải
quyết về nội dung các yêu cầu tranh chấp về di sản thừa kế, hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và các nghĩa vụ tài sản mà bản án sơ thẩm đã
tuyên.
[5] Từ những phân tích nêu trên, quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị M là chưa có cơ sở chấp nhận; quan
điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan là bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn L2, ông Nguyễn Văn T11, ông
Nguyễn Văn T12, bà Nguyễn Thị Thanh H2 là có cơ sở chấp nhận; Quan điểm của
đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ như đã nêu trên phù hợp với
13
nhận định của Hội đồng xét xử nên đề nghị của Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử
chấp nhận.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm xem
xét khi giải quyết vụ án.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy để giải quyết lại nên
những người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; số tiền tạm ứng
án phí dân sự phúc thẩm đã nộp được hoàn trả theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 308 và khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
Khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Hủy Bản án sơ thẩm số 18/2026/DS-ST, ngày 24 tháng 02 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ, chuyển hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm giải quyết
lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
đương sự.
Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét
khi giải quyết vụ án.
Án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Nguyễn Văn T11 được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai số 0006934 ngày 14/4/2026 tại Thi hành án Dân sự thành phố Cần
Thơ.
- Ông Nguyễn Văn L2 được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai số 0006935 ngày 14/4/2026 tại Thi hành án Dân sự thành phố Cần Thơ.
- Ông Nguyễn Văn T12 được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai số 0006936 ngày 14/4/2026 tại Thi hành án Dân sự thành phố Cần
Thơ.
- Bà Nguyễn Thị Thanh H2 được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
đã nộp theo biên lai số 0006937 ngày 14/4/2026 tại Thi hành án Dân sự thành phố
Cần Thơ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, (ngày 15 tháng
9 năm 2026).
14
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP Cần Thơ;
- THADS TP Cần Thơ;
- TAND khu vực 12 - Cần Thơ;
- P.THADS khu vực 12 - Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Phạm Hoàng Lâm
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1330/2026/DS-PT Bản án số 1330/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1330/2026/DS-PT Bản án số 1330/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất