Bản án số 250/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 250/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 250/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 250/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đồng Kim C và bà Phan Thị H1; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2026/DS-ST ngày 26 tháng 05 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 250/2026/DS-PT Bản án số 250/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 250/2026/DS-PT Bản án số 250/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 250/2026/DS-PT
Ngày 09-9-2026
V/v tranh chấp về thừa kế tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Vân Thuý
Bà Vũ Thị Bích Diệp
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hồng Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 142/2026/TLPT-DS ngày 09
tháng 07 năm 2026 về việc tranh chấp về thừa kế tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2026/DS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 204/2026/QĐ-PT ngày 17
tháng 7 năm 2026, Quyết định hoãn phiên toà số 308/2026/DS-PT ngày 06 tháng 08
năm 2026 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà số 176/TB-TA ngày
28 tháng 08 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đồng Kim T, sinh năm 1961; Số CCCD: ************;
địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố Hải Phòng; có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Đồng Kim T:
Ông Hoàng Mạnh H, Luật sư Công ty L1 - Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt;
- Bị đơn: Ông Đồng Kim C, sinh năm 1966, số CCCD: ************ và bà
Phan Thị H1, sinh năm 1972, số CCCD: ************; cùng địa chỉ: Tổ dân phố
Q, phường L, thành phố Hải Phòng; ông C có mặt, bà H1 vắng mặt;
2
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Đồng Kim C và bà Phan Thị
H1: Ông Ngô Văn P, sinh năm 1981, số CCCD: ************ và anh Đoàn Đức
T1, sinh năm 2001, số CCCD: ************; địa chỉ: Số N, phường A, thành phố
Hải Phòng (Giấy uỷ quyền ngày 24/6/2026); ông P có mặt, anh T1 vắng mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Đồng Kim C và bà
Phan Thị H1: Bà Trần Thị Thùy L, Luật sư Công ty L2 - Đoàn Luật sư thành phố
H; có mặt;
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Đồng Thị C1, sinh năm 1952; số CCCD: ************; địa chỉ: Thôn
P, xã V, thành phố Hải Phòng; có mặt;
+ Ông Đồng Kim C2, sinh năm 1955; số CCCD: ************; địa chỉ: Khu
phố A, Khu dân cư T, phường T, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt;
+ Bà Trần Thị C3, sinh năm 1959; số CCCD: ************; địa chỉ: Thôn
P, xã V, thành phố Hải Phòng; có mặt;
+ Anh Đồng Kim K, sinh năm 1986; số CCCD: ************; địa chỉ: Thôn
P, xã V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
+ Anh Đồng Kim H2, sinh năm 1988; số CCCD: ************; địa chỉ: Thôn
P, xã V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
+ Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1962; số CCCD: ************; địa chỉ: Thôn
P, xã V, thành phố Hải Phòng; có mặt;
+ Ủy ban nhân dân xã V, thành phố Hải Phòng; trụ sở: Thôn P, xã V, thành
phố Hải Phòng; vắng mặt (có văn bản xin xét xử vắng mặt).
Người kháng cáo: Bị đơn ông Đồng Kim C, sinh năm 1966 và bà Phan Thị
H1, sinh năm 1972; cùng địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường L, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Đồng Kim
T trình bày:
Vợ chồng cụ ông Đồng Kim C4, sinh năm 1924 (chết năm 1965), cụ bà
Nguyễn Thị T2, sinh năm 1924 (chết năm 2014), hai cụ không có con nuôi, không
có con riêng. Cụ C4 và cụ T2 sinh được 05 người con chung gồm: Bà Đồng Thị C1,
ông Đồng Kim C2, ông Đồng Kim T3 (chết năm 2019), ông Đồng Kim T (sinh năm
1958) và ông Đồng Kim C.
Bố mẹ đẻ của cụ ông Đồng Kim C4 là cụ ông Đồng Kim Đ1, cụ bà Nguyễn
Thị N tặng cho vợ chồng cụ ông Đồng Kim C4, cụ bà Nguyễn Thị T2 quyền sử dụng
3
thửa đất số 402, tờ bản đồ số 01 với diện tích là 520m
2
(diện tích thực tế là 521,92m
2
),
địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố Hải Phòng (địa chỉ cũ: Thôn A, xã P, huyện T,
thành phố Hải Phòng) (sau đây viết tắt là thửa đất số 402). Cụ ông Đồng Kim C4,
cụ bà Nguyễn Thị T2 xây dựng nhà 5 gian bằng cột gỗ, diện tích khoảng 50m
2
, 1
bếp, 1 công trình phụ; cùng 5 người con sinh sống từ nhỏ trên nhà 5 gian này. Cụ
ông Đồng Kim Đ1, cụ bà Nguyễn Thị N chết; đến năm 1965 cụ ông Đồng Kim C4
chết do tai nạn, nên cụ bà Nguyễn Thị T2 bị khủng hoảng tinh thần, thường xuyên
đau ốm. Khoảng năm 1983, ông Đồng Kim C2 có thu nhập tốt nhất trong gia đình,
đã bỏ chi phí tài chính, còn ông T3, ông T, ông C bỏ công sức để xây dựng nhà hiện
nay là 37m
2
do nhà 5 gian mục nát. Bà C1, ông T3, ông T ra sống ở riêng, nhưng
gần nhà cụ T2, nên thường xuyên qua lại, cùng vợ chồng ông C sống cùng mẹ để
chăm sóc cụ bà T2. Khi cụ bà Nguyễn Thị T2 khoảng 70 tuổi thì bị lú lẫn, lúc nhớ
lúc quên. Vợ chồng ông C sống cùng với cụ bà T2 đến năm 2006, thì ra sinh sống ở
riêng. Vợ chồng ông T về sống cùng cụ bà T2, chăm sóc mẹ cho đến khi bà chết
năm 2014 và tiếp tục quản lý, tôn tạo nhà đất này cho đến nay. Sau khi cụ bà Nguyễn
Thị T2 chết, bà C1, ông C2, ông T3, ông T đã thống nhất để ông Đồng Kim T tiếp
tục quản lý, bảo quản di sản, để lại nhà đất làm nơi thờ cúng. Cụ ông Đồng Kim C4,
cụ bà Nguyễn Thị T2 đều không để lại di chúc; không có bất kỳ thỏa thuận, thực
hiện phân chia, định đoạt di sản thừa kế của cụ ông Đồng Kim C4.
Do cụ ông Đồng Kim C4 chết và cụ bà Nguyễn Thị T2 không biết chữ, bị sốc
tinh thần sau khi ông C4 chết, thường xuyên lú lẫn, lúc nhớ lúc quên, nên bà Đồng
Thị C1 đứng tên thay cho bố mẹ trên Sổ mục kê năm 1985 thể hiện thửa đất số 402
có diện tích 520m
2
, có ghi tên chủ sử dụng đất là “Đồng Thị C1”, nhưng khi cấp
giấy chứng nhận, không xác minh làm rõ vấn đề này. Trước khi ra sống ở riêng, vợ
chồng ông Đồng Kim C tự tạo chữ ký giả của cụ bà Nguyễn Thị T2, bà Đồng Kim
C5, ông Đồng Kim T3, ông Đồng Kim T trong Biên bản họp gia đình đề ngày 13
tháng 11 năm 2005 để từ chối nhận thừa kế của cụ ông Đồng Kim C4, mà cho tặng
vợ chồng ông C. Biên bản họp gia đình đề ngày 13 tháng 11 năm 2005 không có
thật, thiếu sự đồng ý và chữ ký của ông Đồng Kim C2; không có hợp đồng công
chứng hoặc chứng thực có thủ tục chứng thực chữ ký. Thủ tục cấp giấy chứng nhận
không xác định đầy đủ hàng, diện thừa kế của cụ ông Đồng Kim C4; thiếu ý kiến
của ông Đồng Kim C2 đối với di sản, nhưng vợ chồng ông Đồng Kim C vẫn được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 013672, số vào số cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất: 00332/H/2005 do Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải
Phòng cấp ngày 28/12/2005 cho ông Đồng Kim C và bà Phan Thị H1 (sau đây viết
tắt là Giấy chứng nhận số AĐ 013672). Từ năm 2011, vợ chồng ông C bị phát hiện,
nhưng họ lý do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang được thế chấp tại ngân
hàng, thì cần thời gian thu xếp thanh toán nợ, xóa thế chấp, sẽ trả lại giấy chứng
nhận để làm thủ tục hủy giấy chứng nhận. Tuy nhiên, việc khất lần của vợ chồng
4
ông C làm gia đình mất niềm tin, dẫn đến việc khởi kiện tranh chấp thừa kế tài sản
theo quy định pháp luật.
Ngày 11/9/2012, vợ chồng ông T xây dựng căn nhà mới 02 tầng như hiện nay
(diện tích tầng 1 là 100m
2
, tầng 2 là 100m
2
) chi phí khoảng 1,5 tỉ đồng để phục vụ
thờ cúng chi họ Đ2, thờ cụ ông Đồng Kim C4, cụ bà Nguyễn Thị T2. Nhà G2, G3
hình thành từ khi cụ bà Nguyễn Thị T2 sống, quản lý, sử dụng. Ông Đồng Kim T có
công trong việc bảo quản, tôn tạo di sản làm tăng giá trị di sản, giúp di sản không bị
mất mát hay hư hỏng. Bà Nguyễn Thị Đ có công trông giữ cùng, nhưng vợ ông Đồng
Kim T ý kiến tính công sức quản lý di sản cho ông Đồng Kim T, mà bà Nguyễn Thị
Đ không nhận. Vợ chồng ông Đồng Kim T xây dựng nhà đất hai tầng, tường bao,
mái tôn, cổng sắt, sân bê tông, chuồng gà trên di sản thừa kế để quản lý di sản, nên
các công trình này thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Đồng Kim T. Trường hợp
được chia hiện vật trong di sản thừa kế thì vợ chồng ông T và những người có quyền
lợi, nghĩa vụ cùng phía nguyên đơn thống nhất chia thừa kế cho nguyên đơn và
những người có quyền lợi, nghĩa vụ cùng phía nguyên đơn liên quan phần đất có nhà
hai tầng của vợ chồng ông T.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Đồng Kim T yêu cầu khởi kiện:
- Chia di sản thừa kế của cụ ông Đồng Kim C4, cụ bà Nguyễn Thị T2 theo
pháp luật đối với diện tích thực tế 521,92m
2
đất của thửa đất số 402, tờ bản đồ số
01, địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố Hải Phòng (địa chỉ cũ: Thôn P, xã P, huyện T,
thành phố Hải Phòng). Những người thuộc hàng, diện thừa kế của cụ ông Đồng Kim
C4, cụ bà Nguyễn Thị T2 cùng quyền lợi, nghĩa vụ với nhau gồm: Bà Đồng Thị C1,
ông Đồng Kim C2, ông Đồng Kim T, bà Trần Thị C3, anh Đồng Kim K, anh Đồng
Kim H2. Bà Đồng Thị C1, ông Đồng Kim C2, bà Trần Thị C3, anh Đồng Kim K,
anh Đồng Kim H2 đều thống nhất cho tặng phần được hưởng thừa kế của mình cho
nguyên đơn ông Đồng Kim T. Đề nghị chia phần thừa kế cho bị đơn ông Đồng Kim
C2 ở vị trí có nhà cũ, giáp gia đình bà Dương Thị S.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 013672, số vào số cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất: 00332/H/2005 do Ủy ban nhân dân huyện T, thành
phố Hải Phòng cấp ngày 28/12/2005 cho ông Đồng Kim C và bà Phan Thị H1.
Về án phí: Ông Đồng Kim T, Bà Đồng Thị C1, ông Đồng Kim C2, bà Trần
Thị C3 đều xin miễn án phí vì là người cao tuổi. Ông Đồng Kim T nhận chịu án phí
tương ứng phần thừa kế được hưởng của anh Đồng Kim K, anh Đồng Kim H2. Về
chi phí tố tụng: Không đề nghị giải quyết.
Theo các lời khai tại Tòa án, bị đơn ông Đồng Kim C, bà Phan Thị H1 thống
nhất trình bày:
5
Bị đơn đồng ý với ý kiến nội dung trình bày của nguyên đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Đồng Thị C1, ông Đồng Kim C2, bà Trần Thị C3,
anh Đồng Kim K, anh Đồng Kim H2, bà Nguyễn Thị Đ về quan hệ gia đình, hàng,
diện thừa kế của cụ ông Đồng Kim C4, cụ bà Nguyễn Thị T2.
Về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng thửa đất số 402, tờ bản đồ số 01 do
cụ bà Nguyễn Thị T2 cho tặng vợ chồng ông C, bà H1 di sản thừa kế của cụ ông
Đồng Kim C4 nên việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 013672, số
vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00332/H/2005 do Ủy ban nhân dân
huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 28/12/2005 cho ông Đồng Kim C và bà
Phan Thị H1 là hợp lệ nên bị đơn khồng đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn ông Đồng Kim T.
Theo các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Đồng Thị C1, bà Trần Thị C3, anh
Đồng Kim K, anh Đồng Kim H2, bà Nguyễn Thị Đ là ông Đồng Kim T thống nhất
trình bày:
Đồng ý với phần trình bày của nguyên đơn về quan hệ gia đình, nguồn gốc di
sản, hàng cũng như diện thừa kế của cụ ông Đồng Kim C4, cụ bà Nguyễn Thị T2.
Bà Đồng Thị C1, ông Đồng Kim T3, ông Đồng Kim T không tham gia, không biết,
không ký Biên bản họp gia đình đề ngày 13/11/2005 nên thủ tục từ chối thừa kế,
tặng cho di sản của cụ ông Đồng Kim C4 cho vợ chồng ông Đồng Kim C, bà Phan
Thị H1 không có thật, dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ
013672, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00332/H/2005 do Ủy ban
nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 28/12/2005 cho ông Đồng Kim C
và bà Phan Thị H1 là vi phạm pháp luật. Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn và thống nhất việc chia di sản thừa kế theo yêu cầu của nguyên
đơn ông Đồng Kim T.
Theo lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Đồng Kim C2 trình bày:
Đồng ý với phần trình bày của nguyên đơn về quan hệ gia đình, nguồn gốc di
sản, hàng cũng như diện thừa kế của cụ ông Đồng Kim C4, cụ bà Nguyễn Thị T2.
Biên bản họp gia đình đề ngày 13/11/2005 không có thật, thiếu sự đồng ý và chữ ký
của ông, biên bản bị làm giả chữ ký của bà Nguyễn Thị T2, bà Đồng Kim C5, ông
Đồng Kim T3, ông Đồng Kim T nên việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số AĐ 013672, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00332/H/2005 do
Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 28/12/2005 cho ông Đồng
Kim C và bà Phan Thị H1 là vi phạm pháp luật. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi
6
kiện của nguyên đơn ông Đồng Kim T và thống nhất việc chia di sản thừa kế theo
yêu cầu của nguyên đơn.
Theo văn bản trình ý kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban
nhân dân xã V, thành phố Hải Phòng trình bày:
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 013672, số vào số cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00332/H/2005 do Ủy ban nhân dân huyện T,
thành phố Hải Phòng cấp ngày 28/12/2005 cho ông Đồng Kim C và bà Phan Thị H1
có hồ sơ lưu trữ tại Văn phòng Đ3, thành phố Hải Phòng. Ủy ban nhân dân xã V kế
thừa quyền, nghĩa vụ của Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng trong quá
trình giải quyết vụ án. Đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ việc theo quy định pháp
luật vắng mặt Ủy ban nhân dân xã V, bảo đảm sự ổn định trật tự tại địa phương.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2026/DS-ST ngày 26
tháng 05 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đồng Kim T.
1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 013672, số vào số cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất 00332/H/2005 do Ủy ban nhân dân huyện T, thành
phố Hải Phòng cấp ngày 28/12/2005 cho ông Đồng Kim C và bà Phan Thị H1 đối
với thửa đất số 402, tờ bản đồ số 01, địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố Hải Phòng
(địa chỉ cũ: Thôn P, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng).
2. Chia di sản thừa kế của cụ ông Đồng Kim C4 và cụ bà Nguyễn Thị T2 như
sau:
Giao cho ông Đồng Kim T quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên thửa đất
số 402, tờ bản đồ số 01, địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố Hải Phòng) có diện tích
426,58m
2
với các mốc giới 1-2-3-4-5-6-d-g-1.
Giao cho ông Đồng Kim C quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên thửa đất
số 402, tờ bản đồ số 01, địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố Hải Phòng) có diện tích
95,34m
2
với các mốc giới d-e-f-8-9-10-11-g-d.(có sơ đồ kèm theo).
Ông Đồng Kim T, ông Đồng Kim C có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật. Kiến
nghị cơ quan có thẩm quyền hủy giấy chứng nhận đã cấp và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án khi có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo đối với các
đương sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Đồng Kim C, sinh năm 1966 và bà
Phan Thị H1, sinh năm 1972; cùng địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường L, thành phố Hải
7
Phòng có đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2026/DS-ST ngày 26
tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng, đề nghị Toà án cấp
phúc thẩm huỷ hoặc sửa bản án sơ thẩm, giải quyết vụ án theo hướng:
- Xem xét đầy đủ nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và quyền sử dụng đất
của vợ chồng ông Đồng Kim C và bà Phan Thị H1; đánh giá chứng cứ liên quan đến
việc mẹ ông Đồng Kim C đã tặng cho đất, quá trình chăm sóc, phụng dưỡng mẹ và
các văn bản họp gia đình về việc dành đất làm nhà thờ cúng tổ tiên.
- Công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Đồng Kim C và bà Phan
Thị H1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 013672, số vào số cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất 00332/H/2005 do Ủy ban nhân dân huyện T, thành
phố Hải Phòng cấp ngày 28/12/2005 cho ông Đồng Kim C và bà Phan Thị H1.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị đơn ông Đồng Kim C và bà Phan Thị H1 không
cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ gì mới.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc
thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền
và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm đối với kháng cáo của bị đơn ông Đồng Kim C và bà Phan Thị
H1:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa,
căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đồng Kim C và bà Phan Thị H1;
giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2026/DS-ST ngày 26 tháng 05 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng.
Về án phí: Bị đơn ông Đồng Kim C và bà Phan Thị H1 phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp
về thừa kế tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ
án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố
Hải Phòng theo điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về điểm mở thừa kế: Ngày 04/3/1965, cụ ông Đồng Kim C4 chết; ngày
26/12/2014, cụ bà Nguyễn Thị T2 chết là các thời điểm mở thừa kế.
8
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đồng Kim T:
[3] Về di sản thừa kế:
[3.1] Đối với Thửa đất số 402: Theo trình bày của các đương sự thuộc hàng,
diện thừa kế, là con đẻ, cháu của cụ ông Đồng Kim C4, cụ bà Nguyễn Thị T2 thống
nhất xác định Thửa đất số 402 có nguồn gốc, hình thành từ bố mẹ cụ ông Đồng Kim
C4 là cụ ông Đồng Kim Đ1, cụ bà Nguyễn Thị N tặng cho vợ chồng cụ ông Đặng
Kim C6; phù hợp quá trình quản lý, sử dụng lâu dài, ổn định của gia đình cụ bà
Nguyễn Thị T2 cùng các con; phù hợp biên bản xác minh; phù hợp ý kiến của người
trong dòng họ Đ2. Trên Sổ mục kê năm 1985, tại trang số 3, dòng thứ 17 thể hiện
thửa đất số 402 có diện tích 520m
2
, có ghi tên chủ sử dụng đất là “Đồng Thị C1”.
Lời khai của bà Đồng Thị C1, phù hợp lời khai của các đương sự, phù hợp biên bản
xác minh, đủ cơ sở xác định: Do cụ ông Đồng Kim C4 chết, nhưng cụ bà Nguyễn
Thị T2 không biết chữ, bị lú lẫn, lúc nhớ lúc quên nên bà Đồng Thị C1 là con lớn
tuổi nhất, đứng tên thay cho bố mẹ khai báo chủ sử dụng trên sổ mục kê, nhưng thừa
nhận quyền sử dụng thửa đất 402 của bố mẹ bà C1 là cụ ông Đồng Kim C4, cụ bà
Nguyễn Thị T2. Bởi vậy, xác định quyền sử dụng thửa đất số 402 có nguồn gốc của
cụ ông Đồng Kim C4, cụ bà Nguyễn Thị T2.
[3.2] Thửa đất số 402 được ông Đồng Kim C và bà Phan Thị H1 đăng ký thủ
tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mục đích, nội dụng về việc toàn
bộ hàng, diện thừa kế của ông Đồng Kim C4 là cụ bà Nguyễn Thị T2, bà Đồng Kim
C5, ông Đồng Kim C2, ông Đồng Kim T3, ông Đồng Kim T từ chối di sản thừa kế
của cụ ông Đồng Kim C4 và tặng cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Đồng
Kim C. Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 013672 không có hợp
đồng công chứng hoặc chứng thực chữ ký về việc cụ bà Nguyễn Thị T2, bà Đồng
Kim C5, ông Đồng Kim C2, ông Đồng Kim T3, ông Đồng Kim T tặng cho quyền
sử dụng đất cho vợ chồng ông Đồng Kim C do được hưởng di sản của cụ ông Đồng
Kim C4. Cụ bà Nguyễn Thị T2 không biết chữ, bị lú lẫn, lúc nhớ lúc quên, phù hợp
biên bản xác minh. Trên cơ sở kết luận giám định của Phòng K1 Công an thành phố
H xác định chữ ký của người thuộc hàng, diện thừa kế cho tặng bị làm giả chữ ký;
thiếu ý kiến về thừa kế của ông Đồng Kim C2. Trường hợp thiếu ý kiến của bất kỳ
1 người thuộc diện, hàng thừa kế của cụ ông Đồng Kim C4, thì không thể được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mà phát sinh tranh chấp thừa kế tài sản, phải
được giải quyết tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Bởi vậy, đủ cơ sở xác định: Việc
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 013672 cho ông Đồng Kim C và bà
Phan Thị H1 vi phạm quy định các điều 127, 128, 129, 137, 636 của Bộ luật dân sự
năm 2005; khoản 4 Điều 49, điểm c khoản 1 Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 129 Luật
Đất đai năm 2003. Vợ chồng ông Đồng Kim C chủ động làm thủ tục từ chối thừa kế
của cụ ông Đồng Kim C4, tặng cho toàn bộ quyền sử dụng Thửa đất số 402 và đăng
9
ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên biết việc cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số AĐ 013672 vi phạm từ năm 2005. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 013672. Xác định
di sản thừa kế của cụ ông Đồng Kim C4, cụ bà Nguyễn Thị T2 là quyền sử dụng
Thửa đất số 402 chưa được chia. Trên cơ sở ý kiến của bị đơn, phù hợp tài liệu của
Sở tư pháp thành phố Hải Phòng cung cấp, thì quyền sử dụng Thửa đất số 402 không
có đăng ký giao dịch bảo đảm, hiện đang do bị đơn quản lý Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, nhưng bị hủy nên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 013672
không còn giá trị.
[4] Về hàng thừa kế:
Trên cơ sở thống nhất trình bày của đương sự, giấy khai sinh, phù hợp biên
bản xác minh, đủ cơ sở xác định: Cụ ông Đồng Kim C4, cụ bà Nguyễn Thị T2 không
có con nuôi, không có con riêng nào khác; hai cụ có 05 người con chung gồm: Bà
Đồng Thị C1, ông Đồng Kim C2, ông Đồng Kim T3, ông Đồng Kim T, ông Đồng
Kim C. Cụ ông Đồng Kim C4 chết năm 1965, cụ bà Nguyễn Thị T2 chết năm 2014,
ông Đồng Kim T3 chết năm 2019, nên vợ và 02 con của ông Đồng Kim T3 được
hưởng 01 phần thừa kế của ông Đồng Kim T3 đối với di sản của cụ ông Đồng Kim
C4, cụ bà Nguyễn Thị T2.
[5] Về kỉ phần di sản: Di sản thừa kế cần xác định thành 06 kỉ phần, trong đó
chia 05 kỉ phần tại thời điểm mở thừa kế chia cho 05 người con của cụ ông Đồng
Kim C4, cụ bà Nguyễn Thị T2; 01 kỉ phần chia cho những người có công sức bảo
quản di sản là ông Đồng Kim T và ông Đồng Kim C.
[6] Về giá trị di sản, hiện trạng, quá trình sử dụng, quản lý di sản liên quan
Thửa đất số 402:
[6.1] Trên cơ sở thống nhất trình bày của các đương sự, phù hợp biên bản xác
minh thể hiện: Khoảng năm 1983, ông Đồng Kim C2 bỏ chi phí tài chính còn ông
T3, T, C cùng mẹ bỏ công sức để xây dựng nhà G2 tường gạch, mái bê tông cốt thép
có diện tích 22,62m
2
; nhà G3 tường gạch, mái tôn pro có diện tích 11,62m
2
; nhà vệ
sinh cũ (hiện không sử dụng) & chuồng gà G4 mái tôn pro có diện tích 5,1m
2
. Đủ
cơ sở xác định: Di sản thừa kế của cụ ông Đồng Kim C4, cụ bà Nguyễn Thị T2 gồm
quyền sử dụng Thửa đất 402 và công trình nhà một tầng G2; nhà kho G3, nhà vệ
sinh & chuồng gà G4. Xác định nhà 2 tầng G1, bờ tường, mái tôn, cửa sắt do vợ
chồng nguyên đơn xây dựng, hình thành, thì không xác định là di sản thừa kế.
[6.2] Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, Sơ đồ hiện trạng thửa đất của
Công ty Cổ phần K2 và Thiết kế xây dựng GĐT, thì vị trí thửa đất số 402 như sau:
Phía Bắc tiếp giáp ngõ đi vào nhà gồm các mốc 1,2,3,4,5 có chiều dài là 5,50 + 10,03
+ 0,30 + 2,56m; phía Nam tiếp giáp nhà bà Dương Thị S gồm các mốc 8,9,10,11 có
10
chiều dài là 7,07 + 0.54 + 11,35m; phía Đông tiếp giáp ngõ xóm gồm các mốc 5,6,7,8
có chiều dài là 18,57 + 8,73 + 2,13m; phía Tây tiếp giáp đất bà Nguyễn Thị T4 gồm
các mốc 11, 1 có chiều dài là 29,94m. Trên cơ sở ý kiến của các gia đình bà Dương
Thị S, bà Nguyễn Thị T4 tiếp giáp thửa đất; phù hợp biên bản xác minh, phù hợp hồ
sơ địa chính, phù hợp kết quả đo đạc của Công ty Cổ phần K2 và Thiết kế xây dựng
GĐT, đủ cơ sở xác định: Hiện trạng Thửa đất số 402 có ranh giới, mốc giới không
có lấn chiếm các hộ giáp ranh, không lấn sang ngõ chung công cộng gồm: 1-2-3-4-
5-e-f-8-9-10-11-1 có diện tích là 521,92m
2
là diện tích có thể phân chia thừa kế di
sản của cụ ông Đồng Kim C4, cụ bà Nguyễn Thị T2. Theo kết luận định giá tài sản
thì giá trị quyền sử dụng thửa đất 402 là : 521,92m
2
x 6.000.000 đồng/m
2
=
3.131.520.000 đồng. Tài sản gắn liền thửa đất được xác định là di sản gắn liền quá
trình quản lý, sử dụng sinh sống của cụ ông Đồng Kim C4, cụ bà Nguyễn Thị T2 là
công trình Nhà G2 tường gạch, mái bê tông cốt thép có diện tích 22,62m
2
; nhà G3
tường gạch, mái tôn proximang có diện tích 11,62m
2
, nhà vệ sinh G4 & chuồng gà
G5 tường gạch, mái tôn pro có diện tích 5,1m
2
. Theo Kết luận định giá tài sản ngày
06-4-2026, thì tổng giá trị công trình G2, G3, G4 là 18.643.497 đồng + 6.331.587
đồng + 2.778.924 đồng + 2.754.560 đồng = 30.508.568 đồng. Bởi vậy, tổng giá trị
di sản thừa kế của cụ ông Đồng Kim C4, cụ bà Nguyễn Thị T2 là: 3.131.520.000
đồng + 30.508.568 đồng = 3.162.028.568 đồng. Giá trị 01 kỉ phần di sản tính theo
kết luận định giá tài sản ngày 06-4-2026 = 3.162.028.568 đồng : 6 = 527.004.761
đồng.
[6.3] Trên sở sở trình bày của đương sự, phù hợp biên bản xác minh, kết luận
định giá tài sản bổ sung, thì do thay đổi thời tiết, mưa gió lốc, sửa chữa công trình
dẫn đến thay đổi công trình đó là: Nhà ở cấp 4 có hiên bê tông (kí hiệu G2) còn giá
trị là: 13.448.686 đồng; nhà kho (kí hiệu G3) còn giá trị là: 5.868.433 đồng; khu vệ
sinh đã cũ và chuồng gà không còn giá trị. Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan cùng phía nguyên đơn có thể hưởng ít hơn phần di sản đáng được
hưởng, nhưng bị đơn sẽ được hưởng không thấp hơn giá trị 01 kỉ phần khi chưa tính
giảm giá trị tài sản.
[7] Về công sức bảo quản, duy trì, quản lý di sản thừa kế:
Cụ ông Đồng Kim C4 chết từ năm 1965. Cụ bà Nguyễn Thị T2 trông coi, quản
lý nhà đất liên quan di sản đến khi chết năm 2014. 05 con cùng mẹ là cụ bà Nguyễn
Thị T2 sinh sống trên thửa đất, rồi ông Đồng Kim C sinh sống cùng mẹ đến khoảng
năm 2006 trên nhà đất được hình thành do công sức, chi phí của cụ bà T2 cùng 04
con trai, nên cần xem xét một phần công sức nhất định cho ông Đồng Kim C khi
chia di sản thừa kế. Từ năm 2006 cho đến nay, vợ chồng ông Đồng Kim T xây nhà
2 tầng nuôi mẹ già đến khi chết, xây tường bao, dựng mái tôn, các công trình khác
bảo quản nhà đất tăng giá trị. Vợ ông Đồng Kim T thống nhất dồn công sức bảo
11
quản di sản cho nguyên đơn nhận. Bà Đồng Thị C1, ông Đồng Kim C2, vợ con của
ông Đồng Kim T3 thống nhất không nhận công sức bảo quản mà xem xét công sức
bảo quản di sản cho ông Đồng Kim T. Trong vụ án tranh chấp thừa kế, ông Đồng
Kim C thuộc diện được hưởng một phần di sản, có công sức đóng góp nhất định khi
sống chung cùng với cụ bà T2, nhưng không đồng ý việc chia thừa kế, không có yêu
cầu cụ thể về việc xem xét công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản; nếu
Tòa án quyết định việc chia thừa kế cho các thừa kế thì phải xem xét về công sức
đóng góp của họ vì yêu cầu không chia thừa kế đối với di sản thừa kế lớn hơn yêu
cầu xem xét về công sức. Vụ án này có tình huống tương tự Án lệ số 05/2016/AL
được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06-4-2016 và
được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06-4-2016 của Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao và Quyết định giám đốc thẩm số 39/2014/DS-GĐT ngày 09-10-
2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp di sản
thừa kế”. Việc xem xét về công sức đóng góp của ông Đồng Kim T, vợ chồng ông
Đồng Kim C đối với di sản liên quan Thửa đất số 402, tờ bản đồ số 01, bảo đảm cơ
sở pháp lý và công bằng. Trong 01 kỉ phần thừa kế, cần chia cho ông T nhiều hơn
do có phần công sức bảo quản nhiều hơn công sức của ông C.
[8] Về chia di sản thừa kế:
[8.1] Bà Đồng Thị C1, ông Đồng Kim C2, ông Đồng Kim T3 (nếu còn sống),
ông Đồng Kim T, ông Đồng Kim C mỗi người được hưởng kỉ phần là 1/6 quyền sử
dụng hiện trạng Thửa đất số 402, tờ bản đồ số 01 = 521,92 m
2
: 6 = 86,99m
2
. Ông
Đồng Kim T3 đã chết năm 2019, nên bà Trần Thị C3, anh Đồng Kim K, anh Đồng
Kim H2 mỗi người được hưởng 1/3 của kỉ phần.
[8.2] Trên cơ sở kích thước, kết cấu công trình G2, cần giao cho ông Đồng
Kim C quản lý, sử dụng diện tích đất có gắn liền công trình G2, nên cần giao cho
ông Đồng Kim C diện tích đất là 95,34m
2
được tính vào 01 kỉ phần và công sức bảo
quản của ông Đồng Kim C là có lợi cho bị đơn; phù hợp ý kiến tại phiên tòa của
nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng phía nguyên đơn. Tường
bao cũ giá trị không còn; tường bao giáp ngõ đi do ông Đồng Kim T xây dựng,
nhưng ông T không tính. Bởi vậy, ông Đồng Kim C được hưởng 1 kỉ phần di sản
thừa kế và công sức bảo quản di sản được tính là: Quyền sử dụng đất 95,34m
2
+ giá
trị công trình G2, G3 (tính tại thời điểm xét xử) = 95,34m
2
x 6.000.000 đồng/m
2
+
13.448.686 đồng + 5.868.433 đồng = 591.357.119 đồng. Cần giao cho ông Đồng
Kim C được sử dụng đất và tài sản gắn liền trên Thửa đất số 402 có diện tích 95,34m
2
có các mốc giới d-e-f-8-9-10-11-g-d (có Sơ đồ kèm theo), phù hợp quy định về hạn
mức giao đất theo Quyết định số 158/2025/QĐ-UBND ngày 12-9-2025 của Ủy ban
nhân dân thành phố H. Ông Đồng Kim C, bà Nguyễn Thị Đ ý kiến tự nguyện hợp
12
tác trong quá trình thi hành án dân sự giao cho ông Đồng Kim C sử dụng đất và tài
sản gắn liền thửa đất có diện tích 95,34m
2
có các mốc giới d-e-f-8-9-10-11-g-d.
[8.3] Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng phía nguyên
đơn thống nhất việc kỉ phần của bà Đồng Thị C1, ông Đồng Kim C2, kỉ phần của
vợ, con của ông Đồng Kim T3 được hưởng thay, đều tặng cho ông Đồng Kim T.
Ông Đồng Kim T chấp nhận hưởng hiện vật là diện tích 521,92m
2
- 95,34m
2
=
426,58m
2
. Cần giao cho ông Đồng Kim T được sử dụng đất và tài sản gắn liền trên
đất có diện tích 426,58 m
2
có các mốc giới 1-2-3-4-5-6-d-g-1.
[9] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Đồng Kim C, sinh năm 1966 và bà
Phan Thị H1, sinh năm 1972; cùng địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường L, thành phố Hải
Phòng có đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2026/DS-ST ngày
26/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng, đề nghị Toà án cấp phúc
thẩm huỷ hoặc sửa bản án sơ thẩm, giải quyết vụ án theo hướng:
- Xem xét đầy đủ nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và quyền sử dụng đất
của vợ chồng ông Đồng Kim C và bà Phan Thị H1; đánh giá chứng cứ liên quan đến
việc mẹ ông Đồng Kim C đã tặng cho đất, quá trình chăm sóc, phụng dưỡng mẹ và
các văn bản họp gia đình về việc dành đất làm nhà thờ cúng tổ tiên.
- Công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Đồng Kim C và bà Phan
Thị H1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 013672, số vào số cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất 00332/H/2005 do Ủy ban nhân dân huyện T, thành
phố Hải Phòng cấp ngày 28/12/2005 cho ông Đồng Kim C và bà Phan Thị H1.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị đơn ông Đồng Kim C và bà Phan Thị H1 không
cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ gì mới làm căn cứ cho HĐXX xem xét kháng
cáo của mình.
Xét thấy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đồng Kim
C và bà Phan Thị H1; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm 38/2026/DS-ST ngày 26
tháng 05 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng theo quy định tại
khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[10] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Đồng Kim T không yêu cầu Hội
đồng xem xét giải quyết về chi phí tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải
quyết.
[11] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26, khoản 7
Điều 27, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
13
[11.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do nguyên đơn ông Đồng Kim T, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đồng Thị C1, ông Đồng Kim C2 và bà Trần Thị
C3 đều là người cao tuổi và đều có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân
sự sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đồng Kim K, anh Đồng Kim H2
mỗi người được hưởng phần di sản thừa kế trị giá là 175.515.222 đồng, nên mỗi
người phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 8.775.761 (Tám triệu bảy trăm bảy
mươi lăm nghìn bảy trăm sáu mươi mốt) đồng. Nguyên đơn ông Đồng Kim T nhận
nộp thay án phí của anh Đồng Kim K, anh Đồng Kim H2 (tính làm tròn) là
17.552.000 (Mười bảy triệu năm trăm năm mươi hai nghìn) đồng.
Bị đơn ông Đồng Kim C phải nộp án phí dân sự sơ thẩm (tính làm tròn) số
tiền là 27.654.000 (Hai mươi bẩy triệu sáu trăm năm mươi tư nghìn) đồng.
[11.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông
Đồng Kim C và bà Phan Thị H1 không được chấp nhận nên ông C và bà H1 phải
nộp án phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng. Đối trừ với số tiền 300.000
đồng tạm ứng án phí phúc thẩm ông C và bà H1 đã nộp theo Biên lai thu tiền số
0007592 ngày 18 tháng 6 năm 2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Hải
Phòng. Ông C và bà H1 đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều
38, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, Điều 161, Điều 165, Điều 227,
Điều 228, Điều 266, Điều 273 và khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 127, 128, 129, 137, 636 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ vào các điều 609, 610, 611, 612, 613, 614, 616, 617, 618, 623, 624,
625, 627, 628, 630, 634, 643, 645, 649, 650, 651, 652 và 654 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 49, điểm c khoản 1 Điều 50; điểm b khoản 1 Điều
129 Luật Đất đai năm 2003;
Căn cứ vào Điều 152 Luật Đất đai số 31/2024/QH15 ngày 18 tháng 01 năm
2024; Luật số 43/2024/QH15 ngày 29 tháng 6 năm 2024 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, Luật Kinh
doanh bất động sản số 29/2023/QH15 và Luật Các tổ chức tín dụng số
32/2024/QH15;
Căn cứ vào Điều 2 của Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản
4 Điều 26, khoản 7 Điều 27, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH
14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đồng Kim C và bà Phan Thị
H1; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2026/DS-ST ngày 26 tháng 05 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đồng Kim T:
1.1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 013672, số vào số cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 00332/H/2005 do Ủy ban nhân dân huyện T,
thành phố Hải Phòng cấp ngày 28 tháng 12 năm 2005 cho ông Đồng Kim C và bà
Phan Thị H1 đối với thửa đất số 402, tờ bản đồ số 01, địa chỉ: Thôn P, xã V, thành
phố Hải Phòng (địa chỉ cũ: Thôn P, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng).
1.2. Chia di sản thừa kế của cụ ông Đồng Kim C4 và cụ bà Nguyễn Thị T2
như sau:
Giao cho ông Đồng Kim T quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên thửa đất
số 402, tờ bản đồ số 01, địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố Hải Phòng) có diện tích
426,58m
2
với các mốc giới 1-2-3-4-5-6-d-g-1.
Giao cho ông Đồng Kim C quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên thửa đất
số 402, tờ bản đồ số 01, địa chỉ: Thôn P, xã V, thành phố Hải Phòng) có diện tích
95,34m
2
với các mốc giới d-e-f-8-9-10-11-g-d
(có Sơ đồ kèm theo).
Ông Đồng Kim T, ông Đồng Kim C có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật. Kiến
nghị cơ quan có thẩm quyền hủy giấy chứng nhận đã cấp và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án khi có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Đồng Kim T, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đồng Thị C1, ông Đồng Kim C2 và bà Trần Thị C3 được
miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn ông Đồng Kim T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền là
17.552.000 (Mười bẩy triệu năm trăm năm mươi hai nghìn) đồng đối với quyền lợi
của anh Đồng Kim K, anh Đồng Kim H2 tặng cho ông Đồng Kim T.
Bị đơn ông Đồng Kim C phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 27.654.000
(Hai mươi bẩy triệu sáu trăm năm mươi bốn nghìn) đồng.
15
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Đồng Kim C và bà Phan Thị H1
phải nộp án phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng. Đối trừ với số tiền 300.000
đồng tạm ứng án phí phúc thẩm ông C và bà H1 đã nộp theo Biên lai thu tiền số
0007592 ngày 18 tháng 6 năm 2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Hải
Phòng. Ông C và bà H1 đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 1 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 1 - Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hồng Giang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 250/2026/DS-PT Bản án số 250/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 250/2026/DS-PT Bản án số 250/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất