Bản án số 275/2026/DS-PT ngày 18/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 275/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 275/2026/DS-PT ngày 18/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 275/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: L -K Tranh chấp về thừa kế tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 275/2026/DS-PT Bản án số 275/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 275/2026/DS-PT Bản án số 275/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 275/2026/DS-PT
Ngày 18/9/2026
“V/v Tranh chấp về thừa kế tài
sản, yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Viết Anh
Ông Nguyễn Quang Vũ
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Bà Nguyễn Thị Việt Hà -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 18 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 234/2025/TLPT-DS, ngày 18/11/2025,
về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 289/2025/QĐ-PT ngày 25
tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2026/QĐ-PT ngày 28/8/2026.
Giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố V,
tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là: Thôn T, phường V, tỉnh Phú Thọ), có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L: Ông Lương Văn C và ông
Vũ Văn D - Luật sư Công ty L2; địa chỉ: số G, đường T, phường L, thành phố V,
tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là phường V, tỉnh Phú Thọ), đều có mặt.
Bị đơn: Cụ Phạm Thị K, sinh năm 1938; địa chỉ: Khu A, xã S, thành phố V,
tỉnh Phú Thọ (Nay là phường T, tỉnh Phú Thọ), vắng mặt.
2
Đại diện theo ủy quyền của cụ K: Bà Lê Thị N, sinh năm 1967, địa chỉ: Khu A,
xã S, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Nay là phường T, tỉnh Phú Thọ); (Văn bản ủy
quyền ngày 16/12/2022), có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lê Thị D1, sinh năm 1963, địa chỉ: Khu A, xã S, thành phố V, tỉnh Phú
Thọ, (Nay là phường T, tỉnh Phú Thọ), có mặt.
3.2. Bà Lê Thị N, sinh năm 1967, địa chỉ: Khu A, xã S, thành phố V, tỉnh Phú
Thọ, (Nay là phường T, tỉnh Phú Thọ), có mặt.
3.3. Bà Trần Thị T, sinh năm 1970, địa chỉ: Khu A, xã S, thành phố V, tỉnh
Phú Thọ, (Nay là phường T, tỉnh Phú Thọ), có mặt.
Đại diện theo ủy quyền: Anh Trần Chung K1, sinh năm 1993, địa chỉ: Số H,
đường H, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Nay là phường T, tỉnh Phú Thọ),
(Văn bản ủy quyền ngày 18/4/2023), có mặt.
3.4. Anh Lê Văn H, sinh năm 1994, địa chỉ: Khu A, xã S, thành phố V, tỉnh
Phú Thọ, (Nay là phường T, tỉnh Phú Thọ), có mặt.
3.5. Chị Đặng Thị N1, sinh năm 1983, địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố V,
tỉnh Phú Thọ, (Nay là phường T, tỉnh Phú Thọ), có mặt.
3.6. Anh Hà Xuân T1, sinh năm 1979, địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố V,
tỉnh Phú Thọ, (Nay là phường T, tỉnh Phú Thọ), có mặt.
3.7. UBND phường T, tỉnh Phú Thọ; địa chỉ: SN B, đường N, phường T, tỉnh
Phú Thọ;
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Phan Quốc K2, sinh năm 1982; chức vụ:
Trưởng Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường T (Văn bản ủy quyền ngày
24/9/2025), có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.8. Phòng C2 tỉnh Phú Thọ. Địa chỉ: Số D, đường N, phường V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đào Thị Hồng N2 - Chức vụ: Trưởng
phòng, có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.9. Văn phòng C3. Địa chỉ: Số nhà G, phố M, phường T, tỉnh Phú Thọ. Người
đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị C1 - Chức vụ: Trưởng văn phòng, có đơn
xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cùng trình bày:
Bố mẹ bà Lê Thị L là cụ ông Lê Văn D2, sinh năm 1935 (chết năm 2017) và
cụ bà Phạm Thị K, sinh năm 1938. Hai cụ chung sống với nhau từ năm 1965 nhưng
không đăng ký kết hôn. Hai cụ có 03 người con đẻ là: 1, Bà Lê Thị N, sinh năm
1967; 2, Ông Lê Văn D3, sinh năm 1970 (chết năm 2014). Ông D3 có vợ là bà Trần
Thị T, sinh năm 1970 và có 02 người con đẻ là anh Lê Văn H1, sinh năm 1989, (anh
H1 đã mất năm 2011, không có vợ con) và anh Lê Văn H, sinh năm 1994, hiện nay
anh H đang ở phường T, tỉnh Phú Thọ. 3, Bà Lê Thị L, sinh năm 1972.
3
Trước khi cụ K và cụ D2 sống chung với nhau, thì cụ K đã có 01 người con
riêng là bà Lê Thị D1, sinh năm 1963.
Khi còn sống hai cụ có tài sản chung là: Thửa đất số 162, tờ bản đồ số 10, diện
tích 485,1m
2
, địa chỉ tại: khu C, xã S, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (nay thuộc phường
T, tỉnh Phú Thọ); đất đã được UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là: GCNQSDĐ) số: T788227 ngày 29/10/2002,
mang tên hộ bà Phạm Thị K. Ngày 04/5/2010, cụ D2 và cụ K đã tặng cho vợ chồng
cháu ngoại là chị Đặng Thị N1 (chị N1 là con bà Lê Thị D1) và anh Hà Xuân T1
diện tích 104m
2
đất; thuộc thửa 162-1, tờ bản đồ số 10 mà không có sự đồng ý của
ông Lê Văn D3 và của bà Lê Thị L. Bà L và ông D3 đã có đơn yêu cầu UBND
thành phố V dừng việc làm thủ tục tặng cho trên, nhưng không hiểu lý do gì mà vợ
chồng chị N1, anh T1 đã được cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất trên. Ngày
09/9/2015, cụ D2 và cụ K lại tiếp tục tặng cho bà Trần Thị T (vợ ông D3) diện tích
234,5m
2
đất thuộc thửa 325, tờ bản đồ số 10, mà không có sự đồng ý của bà Lê Thị
L. Diện tích đất mà cụ D2 và cụ K còn lại là 143m
2
. Tại thời điểm cấp GCNQSDĐ
hộ cụ Phạm Thị K chỉ có: Cụ Lê Văn D2, cụ Phạm Thị K và bà Lê Thị L, theo quy
định tại Điều 29 Luật Đất đai năm 2013 và Công văn số 01/2017/GĐ-TAND của
Tòa án nhân dân tối cao bà L xác định, bà L là người có quyền sử dụng đất chung
với cụ D2 và cụ K vào thời điểm Nhà nước cấp GCNQSDĐ mang tên hộ cụ K.
Ngày 03/11/2022, bà L đã khởi kiện và yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố
Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (Nay là: Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ) Hủy
GCNQSDĐ số CB 934671 do UBND thành phố V cấp ngày 09/9/2015 mang tên bà
Trần Thị T và hủy GCNQSDĐ do UBND thành phố V cấp cho chị N1 theo quyết
định số 757/QĐ-UBND ngày 24/01/2011; đồng thời, đề nghị Tòa án chia thừa kế
phần di sản của cụ D2 theo pháp luật, vì trước khi chết cụ D2 không để lại di chúc
gì. Ngày 28/11/2022, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã thụ lý vụ
án, nhưng ngày 28/11/2022, UBND thành phố V vẫn cấp giấy phép xây dựng cho
bà T là trái pháp luật phải hủy bỏ. Căn cứ khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân
sự, khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính; Điều 105 Luật Đất đai thì vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, nhưng Tòa án nhân
dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ)
thụ lý, giải quyết vụ án này là không đúng thẩm quyền.
2. Người đại diện hợp pháp của bị đơn là bà Lê Thị N trình bày:
Cụ Phạm Thị K thừa nhận mối quan hệ gia đình như bà L trình bày là đúng. Cụ K
xác định cụ K và cụ Lê Văn D2 chung sống như vợ chồng từ năm 1965. Hai cụ có
03 người con chung là: Lê Thị N, Lê Văn D3, Lê Thị L. Nhưng trước khi hai cụ
chung sống với nhau thì cụ K có một người con riêng là bà Lê Thị D1, sinh năm
1963. Trong quá trình chung sống cụ K và cụ D2 đã tạo dựng được tài sản chung là:
Thửa đất số 162, tờ bản đồ số 10, diện tích 485,1m
2
; Địa chỉ tại khu A, xã S, thành
phố V, tỉnh Phú Thọ (Nay thuộc phường T, tỉnh Phú Thọ). Nguồn gốc đất do đổi
với vợ chồng ông D4 - T2 từ những năm 1981-1982. Năm 2002 thửa đất này đã
được cấp GCNQSDĐ mang tên hộ cụ Phạm Thị K. Năm 2010, hai cụ tặng cho vợ
4
chồng chị Đặng Thị N1 (chị N1 là cháu ngoại và là con gái bà D1) diện tích đất
104m
2
. Đối với phần đất hai cụ tặng cho bà Trần Thị T vào năm 2015, cụ K cho
rằng hai cụ bị bà T ép buộc phải làm thủ tục tặng cho bà T. Hiện thửa đất của hai cụ
còn lại diện tích 140m
2
, trên đất có 01 nhà cấp bốn hai gian lợp ngói xây năm 1990
và chuồng lợn, công trình phụ. Nay bà L khởi kiện, quan điểm của cụ K là đồng ý
chia thừa kế phần di sản của cụ D2 để lại theo quy định của pháp luật, vì trước khi
chết cụ D2 không để lại di chúc gì. Đối với suất thừa kế của ông D3 thì cụ K đề
nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Trần Thị T và Người đại diện theo ủy quyền của bà T trình bày: Về mối
quan hệ gia đình bà Trần Thị T thừa nhận như phía nguyên đơn và bị đơn trình bày
là hoàn toàn đúng. Cụ K và cụ D2 là bố mẹ chồng của bà T. Chồng bà T là ông Lê
Văn D3 là con đẻ và là con trai duy nhất của cụ K và cụ D2, nhưng vào năm 2014,
ông D3 chết và không để lại di chúc gì. Giữa bà T và ông D3 có với nhau 02 người
con chung là anh Lê Văn H1, sinh năm 1989 (anh H1 đã mất năm 2011, không có
vợ con) và anh Lê Văn H, sinh năm 1994) hiện nay anh H đang ở phường T, tỉnh
Phú Thọ.
Bà T xác định năm 2015, khi cụ D2 còn sống, cụ D2 và cụ K đã tự nguyện
tặng cho bà T diện tích đất 234,5m
2
, việc hai cụ tặng cho là hoàn toàn trên cơ sở tự
nguyện, không có việc ép buộc gì cả. Bởi vì, thủ tục hai cụ tặng cho đã được Công
chứng viên, Văn Phòng C3 chứng thực theo đúng quy định của pháp luật. Hiện nay
diện tích đất này đã được UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp GCNQSDĐ ngày
09/9/2015, mang tên bà Trần Thị Tuyết . Nay bà T không đồng ý hủy GCNQSDĐ
theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không nhất trí quan điểm của bị
đơn. Còn về việc chia di sản thừa kế của cụ D2 để lại thì bà T đề nghị Tòa án giải
quyết theo pháp luật. Bà T xác định diện tích đất hiện nay 143m
2
mà cụ K đang sử
dụng đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ mang tên cụ D2 và cụ K nguồn gốc là tài
sản chung của cụ D2 và cụ K; Trước khi cụ D2 chết cụ D2 không để lại di chúc gì.
3.2. Bà Lê Thị N trình bày: Bà thừa nhận mối quan hệ gia đình như mọi người đã
trình bày là hoàn toàn đúng. Bà N là con đẻ của cụ K và cụ D2. Năm 2017, cụ D2
chết và không để lại di chúc gì. Bà N xác định cụ D2 và cụ K có tài sản chung là
thửa đất 162, tờ bản đồ số 10, GCNQSDĐ mang tên hộ cụ Phạm Thị K. Ngoài ra,
bà N cho rằng, vào năm 2010, khi cụ D2 còn sống, cụ D2 và cụ K đã tặng cho chị
N1 (Con gái bà D1) diện tích 104m
2
đất và năm 2015 hai cụ tặng cho bà T là con
dâu (vợ ông D3) diện tích 234,5m
2
đất. Việc tặng cho này bà N không được biết và
cũng không được sự đồng ý của bà N. Quan điểm của bà N hoàn toàn đồng ý với
các yêu cầu khởi kiện của bà L.
3.3. Chị Đặng Thị N1 trình bày: Chị thừa nhận mối quan hệ gia đình như mọi người
trình bày là đúng. Chị là con đẻ của bà Lê Thị D1, bà D1 là con đẻ của cụ K. Năm
2010 vợ chồng chị N1 được cụ D2 và cụ K tặng cho diện tích đất 104m
2
đất (trong
đó 80m
2
đất ở, 24m
2
đất vườn), việc tặng cho dựa trên cơ sở tự nguyện của hai cụ
và thủ tục được làm tại Phòng C2 tỉnh Phú Thọ theo đúng quy định của pháp luật.
5
Chị N1 xác định không có sự ép buộc, đe dọa gì đối với hai cụ. Đến năm 2011, diện
tích đất này được UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp GCNQSDĐ mang tên chị
N1 và chồng là anh Hà Xuân T1, thuộc thửa đất số 162-1, tờ bản đồ số 10. Năm
2012 vợ chồng chị N1 đã xây ngôi nhà trên đất và sống ổn định từ đó, không có
tranh chấp gì. Nay chị N1 xác định diện tích đất mà hai cụ tặng cho chị không phải
di sản thừa kế của cụ D2 để lại, bởi vì hai cụ đã tự nguyện tặng cho chị và đã được
Nhà nước cấp GCNQSDĐ. Nay chị N1 không đồng ý hủy GCNQSDĐ mang tên vợ
chồng chị N1. Chị N1 đồng ý chia di sản thừa kế của cụ D2 là quyền sử dụng đất có
diện tích 143m
2
, hiện nay GCNQSDĐ đứng tên cụ K và cụ D2 theo pháp luật. Bởi
vì, trước khi cụ D2 chết không để lại di chúc gì.
3.4. Anh Hà Xuân T1 trình bày: Anh T1 thừa nhận mối quan hệ gia đình như mọi
người trình bày là hoàn toàn đúng. Anh T1 xác định chị Đặng Thị N1 là vợ anh. Bà
Lê Thị D1 là mẹ đẻ của chị N1. Cụ K và cụ D2 là ông bà ngoại của chị N1 và là bố
mẹ đẻ của bà D1. Anh T1 thừa nhận việc cụ K và cụ D2 tự nguyện tặng cho vợ
chồng anh diện tích đất là 104m
2
trong đó có 80m
2
đất ở và 24m
2
đất vườn, khi làm
thủ tục chuyển nhượng hai bên không có sự ép buộc gì. Hiện nay diện tích đất này
đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ đứng tên vợ chồng anh và vợ chồng anh đã xây
nhà ở ổn định từ năm 2012. Nay anh T1 không nhất trí hủy GCNQSDĐ đối với diện
tích đất mà cụ K và cụ D2 đã tặng cho vợ chồng anh. Còn về yêu cầu chia thừa kế
thì anh T1 đề nghị giải quyết theo pháp luật, vì di sản này không liên quan gì đến
anh, đây là việc của gia đình bà D1.
3.5. Bà Lê Thị D1 trình bày: Bà thừa nhận mối quan hệ gia đình như mọi người
trình bày là hoàn toàn đúng. Bà D1 xác nhận bà là con đẻ của cụ K, còn cụ D2 là bố
dượng của bà. Trong quá trình hai cụ chung sống với nhau từ năm 1965 thì bà cũng
sống chung, khi đó bà mới 03 tuổi và gọi cụ D2 là bố. Bà D1 cho rằng khi cụ D2
còn sống thì cụ D2 và cụ K tặng cho một phần quyền sử dụng đất cho vợ chồng con
gái bà là chị N1, anh T1 và bà T khi đó bà D1 hoàn toàn nhất trí và không có ý kiến
gì, vì đây là quyền của các cụ. Nay bà L yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ D2 để
lại theo pháp luật thì bà có quan điểm nhất trí chia phần thừa kế về di sản là diện
tích đất còn lại đứng tên của cụ K và cụ D2 theo quy định của pháp luật và đề nghị
được nhận di sản thừa kế mà cụ D2 để lại bằng giá trị di sản, vì cụ D2 không để lại
di chúc gì.
3.6. Anh Lê Văn H trình bày: Anh H thừa nhận về mối quan hệ gia đình như các bên
trình bày là đúng. Cụ D2 và cụ K là ông, bà nội của anh H, anh H là con đẻ của ông
D3, bà T. Đối với việc chia di sản thừa kế của cụ D2 thì anh H nhất trí chia theo
pháp luật, vì cụ D2 không để lại di chúc. Anh H xác định di sản của cụ D2 để lại là
1/2 diện tích đất 143m
2
mà cụ K đang sử dụng, vì GCNQSDĐ đứng tên cụ D2 và cụ
K. Còn về việc đề nghị hủy GCNQSDĐ của bà T và chị N1 mà hai cụ đã tặng cho
từ trước thì anh H không nhất trí, vì đây là quyền của hai cụ; Mặt khác, sau khi tặng
cho các bên đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ theo đúng quy định và đã xây nhà ở
ổn định lâu năm rồi. Ngoài ra anh không có ý kiến gì khác.
3.7. Ông Phan Quốc K2 là đại diện theo ủy quyền của UBND phường T, tỉnh Phú
6
Thọ trình bày:
Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, tình hình biến động đất đai và cấp GCNQSDĐ
của thửa đất số 162, tờ bản đồ số 10, diện tích 485,1m
2
tại khu A, xã S, thành phố
V, tỉnh Phú Thọ (nay là khu A, phường T, tỉnh Phú Thọ). Ngày 22/9/1992, ông Lê
Văn D2 được UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp GCNQSDĐ là thửa đất số 220,
tờ bản đồ số 02, diện tích 372m
2
(trong đó: đất ở 300m
2
; đất vườn 72m
2
). Thửa đất
có nguồn gốc ông cha để lại cho ông Lê Văn D2. Đến năm 1999, Nhà nước có chủ
trương cấp lại GCNQSDĐ theo bản đồ kỹ thuật số, bà Phạm Thị K (vợ ông Lê Văn
D2) đã đi kê khai để được cấp đổi GCNQSDĐ, diện tích của thửa đất số 220, tờ bản
đồ số 02 tăng lên 485,1m
2
(trong đó: đất ở 300m
2
; đất vườn 185,1m
2
). Đối với phần
diện tích tăng thêm 113,1 m
2
là do đo đạc lại theo hiện trạng sử dụng đất. Năm
2002, UBND thành phố cấp đổi lại GCNQSDĐ mang tên hộ bà Phạm Thị K, thửa
đất số 220, tờ bản đồ số 02 được chỉnh lý lại thành thửa đất số 162, tờ bản đồ số 10,
diện tích 485,1m
2
(trong đó: đất ở 300m
2
; đất vườn 185,1m
2
).
Ngày 04/5/2010, ông Lê Văn D2 và bà Phạm Thị K tặng cho một phần quyền
sử dụng đất tại thửa đất số 162, tờ bản đồ số 10 cho ông Hà Xuân T1 và bà Đặng
Thị N1 theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được lập và chứng thực tại
Phòng C2 tỉnh Phú Thọ. Ngày 24/01/2011, UBND thành phố V cấp GCNQSDĐ
cho các hộ, cụ thể:
+ GCNQSDĐ số BĐ 211323 cho hộ: Đặng Thị N1 tại thửa đất số 162-1, tờ bản đồ
số 10, diện tích 104m
2
(trong đó: đất ở 80m
2
; đất vườn 24m
2
).
+ GCNQSDĐ số BĐ 211324 cho chủ hộ: Phạm Thị K tại thửa đất số 162, tờ bản đồ
số 10, diện tích 377,5m
2
(trong đó: đất ở 220m
2
; đất vườn 157,5m
2
). Đến năm 2015,
hộ bà K tiếp tục tặng cho một phần quyền sử dụng thửa đất số 162, tờ bản đồ số 10
cho bà Trần Thị Tuyết . Ngày 09/09/2015, UBND thành phố V cấp GCNQSDĐ cho
các hộ, cụ thể:
+ GCNQSDĐ số CB 934670 cho bà Phạm Thị K và ông Lê Văn D2 tại thửa đất
số 162, tờ bản đồ số 10, diện tích 143m
2
(trong đó: đất ở 112m
2
; đất vườn 31m
2
).
+ GCNQSDĐ số CB 934671 cho bà Trần Thị T tại thửa đất số 325, tờ bản đồ số
10, diện tích 234,5m
2
(trong đó: đất ở 108m
2
; đất vườn 126,5m
2
). UBND phường T
xác định trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ cho các hộ là hợp pháp. Hiện các chủ sử
dụng được UBND thành phố V cấp GCNQSDĐ đều đang trực tiếp quản lý, sử dụng
các thửa đất nói trên. Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
3.8. Bà Đào Thị Hồng N2 là đại diện hợp pháp Phòng C2 tỉnh Phú Thọ trình bày:
Hợp đồng tặng cho QSDĐ lập ngày 04/5/2010, tại Phòng C2 tỉnh Phú Thọ giữa bên
tặng cho bà Phạm Thị K cùng chồng là ông Lê Văn D2 với bên được tặng cho là bà
Đặng Thị N1 cùng chồng là ông Hà Xuân T1 được thực hiện theo đúng quy định
pháp luật về trình tự, thủ tục công chứng. Tại thời điểm công chứng các bên hoàn
toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc gì. Quan điểm Phòng công chứng số A, tỉnh Phú
Thọ đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Đối với hồ sơ công chứng Hợp đồng
tặng cho trên, Phòng C4 tỉnh Phú Thọ chưa tìm thấy do thời gian lưu trữ đã lâu.
7
Ngoài ra, do công việc bận rộn nên Phòng công chứng số 01 tỉnh Phú Thọ xin vắng
mặt tại tất cả các buổi làm việc, phiên họp, phiên tòa xét xử vụ án.
3.9. Bà Nguyễn Thị Cầu L1 đại diện hợp pháp Văn phòng C3 trình bày: Hợp đồng
tặng cho một phần quyền sử dụng đất lập ngày 26/5/2015 tại Văn phòng C3 giữa bên
tặng cho cụ Lê Văn D2 và cụ bà Phạm Thị K với bên được tặng cho bà Trần Thị T
được thực hiện theo đúng quy định pháp luật về trình tự, thủ tục công chứng. Tại thời
điểm công chứng các bên hoàn toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc gì. Quan điểm
của Văn phòng C3 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Ngoài ra, do
công việc bận rộn nên Văn phòng C3 xin được vắng mặt tại các buổi làm việc, phiên
họp, các phiên tòa xét xử vụ án.
4. Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ và các Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số:
08/2025/QĐ-SCBSBA ngày 06/10/2025, 19/2025/QĐ-SCBSBA ngày 17/10/2025
đã quyết định:
1. Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 21, khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1
Điều 39, khoản 2, 5 Điều 147, Điều 157, 165, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự; Điều 612, 613, 614, 623, 651, 652, 654, Điểm d khoản 1 Điều 688, 357, 468 Bộ
luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 35 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; Luật người cao
tuổi 2000; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326
ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa
án.
2. Xử không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lê Thị L về việc chia thừa kế di
sản của cụ Lê Văn D2 là Quyền sử dụng đất có diện tích 485,1m
2
, thuộc thửa đất số
162, tờ bản đồ số 10, địa chỉ tại khu A, xã S, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Nay thuộc
phường T, tỉnh Phú Thọ); theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: SO 755227
do UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 29/10/2002, mang tên hộ cụ Phạm
Thị K.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L về việc đề nghị Tòa án
hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 211323 do UBND thành phố V,
tỉnh Phú Thọ cấp ngày 24/01/2011, mang tên chị Đặng Thị N1 và anh Hà Xuân T1
và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 934671 do UBND thành phố V,
tỉnh Phú Thọ cấp ngày 09/9/2015, mang tên bà Trần Thị Tuyết .
4. Xác định cụ Lê Văn D2 chết năm 2017, không để lại di chúc.
5. Xác định hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng di sản của cụ D2 để lại gồm
có 05 người: Cụ Phạm Thị K, bà Lê Thị D1, bà Lê Thị N, ông Lê Văn D3 và bà Lê
Thị L.
6. Xác định ông Lê Văn D3 chết năm 2014, không để lại di chúc và anh Lê
Văn H là con đẻ và là thừa kế thế vị của ông Lê Văn D3, anh H được hưởng di sản
của cụ D2 để lại.
7. Xác nhận tài sản chung của cụ Lê Văn D2 và cụ Phạm Thị K là: Quyền sử
dụng đất có diện tích 143m
2
(Trong đó, 112m
2
đất ở, 31m
2
đất vườn); thuộc thửa
đất số 162, tờ bản đồ số 10, địa chỉ tại: Khu C, xã S, thành phố V, tỉnh Phú Thọ
8
(Nay là phường T, tỉnh Phú Thọ); theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CB
934670 do UBND thành phố V đã cấp ngày 09/9/2015, mang tên cụ Phạm Thị K và
cụ Lê Văn D2 và ngôi nhà gỗ cấp bốn (đã cũ), sân nền đổ xi măng, công trình phụ.
8. Xác nhận di sản của cụ Lê Văn D2 để lại là: Quyền sử dụng 56m
2
đất ở, giá
trị 56.000.000đ (Năm mươi sáu triệu đồng); 15,5m
2
đất vườn giá trị 635.500đ (Sáu
trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm đồng); giá trị 1/2 ngôi nhà gỗ cấp bốn (đã cũ) là
4.070.500đ (Bốn triệu không trăm bảy mươi nghìn năm trăm đồng) và giá trị 1/2
sân nền đổ bê tông giá trị 778.500đ (Bảy trăm bảy mươi tám nghìn năm trăm
đồng). Tổng giá trị di sản là 61.484.500đ (Sáu mươi mốt triệu bốn trăm tám mươi
bốn nghìn năm trăm đồng).
9. Chia di sản thừa kế của cụ Lê Văn D2 để lại theo pháp luật như sau:
Giao cho cụ Phạm Thị K được quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ di sản của cụ
D2 để lại là Quyền sử dụng 56m
2
đất ở giá trị 56.000.000đ (Năm mươi sáu triệu
đồng); 15,5m
2
đất vườn giá trị 635.500đ (Sáu trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm
đồng); giá trị 1/2 ngôi nhà gỗ cấp bốn (đã cũ) là 4.070.500đ (Bốn triệu không trăm
bảy mươi nghìn năm trăm đồng) và giá trị 1/2 sân nền đổ bê tông giá trị 778.500đ
(Bảy trăm bảy mươi tám nghìn năm trăm đồng).Tổng giá trị di sản là 61.484.500đ
(Sáu mươi mốt triệu bốn trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm đồng). Các di sản của
cụ D2 để lại nêu trên nằm trong diện tích đất 143m
2
; thuộc thửa đất số 162, tờ bản
đồ số 10, địa chỉ tại khu C, xã S, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Nay là phường T, tỉnh
Phú Thọ); theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CB 934670 do UBND
thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 09/9/2015, mang tên cụ Phạm Thị K và cụ Lê
Văn D2.
(Theo Bản trích đo hiện trạng sử dụng đất các hộ bà Trần Thị T, hộ bà Phạm
Thị K, hộ chị Đặng Thị N1 do Công ty TNHH K3 lập ngày 14/7/2023).
- Cụ Phạm Thị K có trách nhiệm thanh toán giá trị phần di sản thừa kế được
chia bằng tiền, cụ thể như sau: Thanh toán cho bà Lê Thị D1 số tiền là 12.296.900đ
(Mười hai triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn chín trăm đồng), bà Lê Thị N số tiền
là 12.296.900đ (Mười hai triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn chín trăm đồng), bà
Lê Thị L số tiền là 12.296.900đ (Mười hai triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn chín
trăm đồng) và anh Lê Văn H số tiền là 12.296.900đ (Mười hai triệu hai trăm chín
mươi sáu nghìn chín trăm đồng).
Bản án còn tuyên về lãi suất chậm trả, quyền yêu cầu thi hành án, án phí và
quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
5. Nội dung kháng cáo:
Ngày 01/10/2025, nguyên đơn bà Lê Thị L kháng cáo và đề nghị hủy toàn bộ
bản án sơ thẩm.
Ngày 30/9/2025, bị đơn cụ Phạm Thị K (do bà Lê Thị N đại diện) kháng cáo và
đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
6. Quan điểm của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:
Đương sự kháng cáo và người đại diện theo ủy quyền vẫn giữ nguyên nội dung
kháng cáo.
9
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên quan đến kháng cáo có mặt đề nghị
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
7. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên
tòa:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc
thẩm, thư ký phiên tòa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện
đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự đối với phiên tòa phúc thẩm.
Về việc chấp hành của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm cơ bản đúng quy định
pháp luật, tuy nhiên bà N không chấp hành nội quy phiên tòa cũng như không chấp
hành sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/
UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị L và cụ Phạm Thị K (do
bà Lê Thị N đại diện).
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà L phải chịu theo quy định pháp luật. Cụ K
được miễn án phí do là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chứng cứ đã được xem xét
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày
của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ
tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Lê Thị L và người đại diện theo ủy quyền của
bị đơn là bà Lê Thị N nộp đơn kháng cáo đúng hạn quy định tại Điều 273 của
BLTTDS, nội dung hợp lệ nên cần chấp nhận để xem xét, giải quyết nội dung kháng
cáo.
Về những người tham gia tố tụng khác đã có lời khai và có đơn xin xét xử vắng
mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử họ theo quy định tại Điều 294 BLTTDS.
[2] Về nội dung kháng cáo:
[2.1] Cả nguyên đơn và bị đơn kháng cáo cùng đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Thấy rằng cần phải xem xét việc đánh giá toàn diện vụ án của cấp sơ thẩm:
[2.1.1] Về quan hệ hôn nhân, gia đình và xác định người hưởng thừa kế:
Về quan hệ giữa cụ Lê Văn D2 và cụ Phạm Thị K: Hai cụ chung sống như vợ
chồng từ năm 1965 nhưng không đăng ký kết hôn. Tại thời điểm này, Luật Hôn
nhân và gia đình năm 1959 đang có hiệu lực. Căn cứ quy định tại Thông tư liên tịch
số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP và Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10
ngày 09/6/2000 của Quốc hội, do hai cụ xác lập quan hệ chung sống như vợ chồng
10
trước ngày 03/01/1987 mà không đăng ký kết hôn, nên quan hệ giữa cụ D2 và cụ K
vẫn được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng hợp pháp. Cụ Lê Văn D2 chết
năm 2017, thời điểm mở thừa kế di sản của cụ D2 là năm 2017.
Về con chung: Cụ D2 và cụ K có 03 người con đẻ chung gồm: Bà Lê Thị N
(sinh năm 1967), ông Lê Văn D3 (sinh năm 1970, chết năm 2014) và bà Lê Thị L
(sinh năm 1972).
Về con riêng và mối quan hệ con riêng - bố dượng: Trước khi chung sống với
cụ D2, cụ K có một người con đẻ riêng là bà Lê Thị D1 (sinh năm 1963). Sau khi
hai cụ về chung sống năm 1965, bà D1 sống cùng hai cụ cho đến khi trưởng thành,
lập gia đình. Xét thấy bà D1 là con riêng của cụ K, từ khi mới 3 tuổi đã về chung
sống cùng cụ D2 cho đến khi trưởng thành, xây dựng gia đình riêng. Trong quá
trình sống chung đã chứng minh giữa cụ D2 và bà D1 tồn tại mối quan hệ chăm sóc,
nuôi dưỡng, gắn bó tình cảm mật thiết như cha con. Vì thế bà D1 tuy là con riêng
của cụ K nhưng đã khai họ bố dượng là mang họ Lê. Căn cứ Điều 654 Bộ luật Dân
sự, HĐXX có đủ cơ sở xác định bà Lê Thị D1 được hưởng di sản thừa kế của cụ D2
như một người con đẻ (thuộc hàng thừa kế thứ nhất).
Về người thừa kế thế vị: Ông Lê Văn D3 (con đẻ cụ D2, cụ K) đã chết năm
2014 (trước cụ D2). Ông D3 có vợ là bà Trần Thị T và 02 người con đẻ là anh Lê
Văn H1 (chết năm 2011, không có vợ con) và anh Lê Văn H (sinh năm 1994). Do
anh H1 đã chết trước ông D3, nên đối với phần di sản của cụ D2, anh Lê Văn H là
người duy nhất thừa kế thế vị suất di sản của ông Lê Văn D3 theo quy định tại Điều
652 Bộ luật Dân sự.
[2.1.2] Về việc xác định khối di sản, tài sản chung:
Đối với thửa đất số 162, tờ bản đồ số 10, diện tích 485,1m
2
tại Khu C, xã S,
thành phố V (nay thuộc phường T), tỉnh Phú Thọ; đất đã được UBND thành phố V
cấp GCNQSDĐ số T788227 ngày 29/10/2002 mang tên hộ bà Phạm Thị K.
Mặc dù GCNQSDĐ mang tên hộ bà K, nhưng nguồn gốc đất được hình thành
trong thời kỳ hôn nhân thực tế, hợp pháp giữa cụ D2 và cụ K, đây là tài sản chung
hợp pháp của hai cụ.
[2.1.3] Về tính hợp pháp của việc tặng cho quyền sử dụng đất:
Ngày 04/5/2010, cụ D2 và cụ K đã tự nguyện lập Hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất đối với diện tích 104m
2
(tách từ thửa đất 485,1m
2
nêu trên) cho vợ chồng
cháu ngoại là chị Đặng Thị N1 (con bà D1) và anh Hà Xuân T1. Hợp đồng tặng cho
được lập tại Phòng C2 tỉnh Phú Thọ, đảm bảo đúng về mặt hình thức và nội dung
theo quy định pháp luật dân sự và đất đai tại thời điểm xác lập. Hợp đồng này đã
được thực hiện xong: Ngày 24/01/2011, UBND thành phố V đã cấp GCNQSDĐ
mang tên chị Đặng Thị N1 và anh Hà Xuân T1 đối với thửa đất số 162-1, tờ bản đồ
số 10. Đến năm 2012, vợ chồng chị N1 đã xây dựng nhà 02 tầng kiên cố và quản lý,
sử dụng ổn định từ đó đến nay mà không có tranh chấp. Do đó, việc tặng cho này là
hoàn toàn hợp pháp, có hiệu lực pháp luật và diện tích 104m
2
này không còn nằm
trong khối tài sản chung của cụ D2, cụ K để xem xét chia thừa kế.
11
Về biến động diện tích và việc cấp đổi GCNQSDĐ: Sau khi thực hiện hợp
đồng tặng cho diện tích 104m
2
vào năm 2010, phần diện tích đất còn lại đã được các
bên tiến hành đo đạc thực tế, cấp đổi và cấp lại. Cụ thể, ngày 24/01/2011, UBND
thành phố V đã cấp GCNQSDĐ mới mang tên cụ Lê Văn D2 và cụ Phạm Thị K với
diện tích xác định là 377,5m
2
thuộc thửa đất số 162, tờ bản đồ số 10. Do vậy cần
tiếp tục xác định là tài sản chung hợp pháp của hai cụ trong thời kỳ hôn nhân thực
tế.
Về định đoạt tài sản chung: Ngày 26/5/2015, cụ D2 và cụ K đã tự nguyện lập
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với diện tích 234,5m
2
(gồm 108m
2
đất ở
và 126,5m
2
đất vườn), được tách ra từ thửa đất 377,5m
2
nêu trên cho con dâu là bà
Trần Thị T (vợ ông Lê Văn D3).
Về hình thức và nội dung: Hợp đồng tặng cho được xác lập tại Văn phòng C3,
hoàn toàn tự nguyện, tuân thủ đúng quy định về mặt hình thức và nội dung theo
pháp luật dân sự và đất đai tại thời điểm năm 2015.
Về quá trình thực hiện: Hợp đồng tặng cho đã hoàn thành đầy đủ thủ tục pháp
lý. Ngày 09/9/2015, UBND thành phố V đã cấp GCNQSDĐ mang tên bà Trần Thị
T đối với thửa đất số 325, tờ bản đồ số 10, diện tích 234,5m
2
. Đến năm 2022, bà T
đã xây dựng nhà 01 tầng kiên cố trên đất, quản lý và sử dụng ổn định, liên tục từ đó
đến nay. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm có đủ cơ sở xác định Hợp đồng tặng cho ngày
26/5/2015 là hoàn toàn hợp pháp, có hiệu lực pháp luật, làm chấm dứt quyền sử
dụng đất của cụ D2 và cụ K đối với diện tích 234,5m
2
này.
[2.2] Về việc xác định khối di sản, tài sản chung còn lại của cụ D2 và cụ K:
Xét nội dung GCNQSDĐ do UBND thành phố V cấp ngày 09/9/2015 (sau khi
đã tách thửa cho bà T), khối tài sản chung còn lại mà cụ Lê Văn D2 và cụ Phạm Thị
K đứng tên sử dụng là 143m
2
(trong đó có 112m
2
đất ở và 31m
2
đất vườn) tại khu C,
xã S (nay thuộc phường T), thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Diện tích này có nguồn gốc
từ việc cấp đổi, cấp lại đất gốc của hai cụ sau các lần tách thửa hợp pháp.
Như vậy, đây là phần tài sản chung duy nhất còn lại của hai cụ tại thời điểm cụ
Lê Văn D2 chết (năm 2017) để làm căn cứ giải quyết tranh chấp.
[2.3] Do diện tích 143m
2
là tài sản chung hợp pháp của cụ D2 và cụ K, theo
quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình, phần tài sản này được định giá và chia
đôi. Cụ Phạm Thị K được quyền sở hữu, sử dụng ổn định 50% khối tài sản (tương
đương 71,5m
2
). Phần 50% còn lại (tương đương 71,5m
2
) được xác định là di sản
thừa kế của cụ Lê Văn D2. Do cụ D2 chết không để lại di chúc, phần di sản 71,5m
2
này sẽ được phân chia theo pháp luật cho các thừa kế hợp pháp thuộc hàng thừa kế
thứ nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự.
[3] Về yêu cầu hủy 02 GCNQSDĐ của nguyên đơn:
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện đồng thời cũng là yêu cầu kháng cáo của nguyên
đơn là bà Lê Thị L, đây cũng là kháng cáo của cụ Phạm Thị K do bà Lê Thị N đại
diện về việc đề nghị hủy 02 GCNQSDĐ đã cấp cho vợ chồng chị Đặng Thị N1 -
anh Hà Xuân T1 (năm 2011) và cấp cho bà Trần Thị T (năm 2015). Thấy rằng:
12
[3.2] Về quyền định đoạt tài sản: Bà L cho rằng đất ban đầu được cấp cho "Hộ
gia đình" nên việc định đoạt phải được sự đồng ý của bà. Tuy nhiên, kết quả xác
minh nguồn gốc đất thể hiện: Diện tích đất ban đầu 485,1m
2
có nguồn gốc do ông
cha để lại, được cấp trên cơ sở quan hệ thừa kế; tài sản trên đất do cụ D2 và cụ K
tạo dựng trong quá trình chung sống như vợ chồng từ năm 1965. Mặc dù tại thời
điểm năm 2002, UBND thành phố V cấp GCNQSDĐ ghi tên "Hộ bà Phạm Thị K",
nhưng đây thực chất là tài sản chung hợp pháp của cụ D2 và cụ K. Tại các thời điểm
lập hợp đồng tặng cho (năm 2010 và năm 2015) cũng như khi cấp đổi GCNQSDĐ,
trang bìa GCNQSDĐ chỉ đứng tên cụ D2 và cụ K, không thể hiện tên bà L hay bà N
là thành viên hộ gia đình có quyền sử dụng đất chung. Do đó, cụ D2 và cụ K có toàn
quyền định đoạt đối với khối tài sản này theo quy định pháp luật mà không cần sự
đồng ý của các con.
[3.3] Về nội dung và hình thức của các hợp đồng tặng cho:
Hợp đồng tặng cho ngày 04/5/2010 (tặng cho chị N1, anh T1) và Hợp đồng
tặng cho ngày 26/5/2015 (tặng cho bà T) đều được lập tại các tổ chức hành nghề
công chứng hợp pháp (Phòng C2 tỉnh Phú Thọ và Văn phòng C3).
Nội dung các hợp đồng và lời chứng của Công chứng viên đều thể hiện rõ: Tại
thời điểm ký kết, cụ Lê Văn D2 và cụ Phạm Thị K hoàn toàn tỉnh táo, minh mẫn,
nhận thức rõ hành vi của mình, nội dung giao dịch dựa trên cơ sở tự nguyện, không
bị ép buộc hay lừa dối. Quy trình, thủ tục công chứng được thực hiện đúng trình tự
pháp luật. Diện tích đất tách thửa tặng cho đều phù hợp với quy định về diện tích tối
thiểu của địa phương.
[3.4] Về thực tế quản lý, sử dụng đất: Sau khi nhận tặng cho, vợ chồng chị N1
- anh T1 và bà T đã hoàn thành thủ tục đăng ký biến động, được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ hợp pháp. Các bên đã tiến hành xây dựng nhà ở
kiên cố trên đất (vợ chồng chị N1 xây nhà 2 tầng năm 2012; bà T xây nhà 1 tầng
năm 2022) và sinh sống ổn định, liên tục từ đó đến nay. Trong suốt quá trình các
cháu, các con nhận đất và xây dựng nhà ở, phía bà L, bà N và cụ K đều biết nhưng
không có bất kỳ ý kiến thắc mắc, khiếu nại hay tranh chấp nào.
[3.5] Về chứng cứ chứng minh bị ép buộc khi ký hợp đồng: Quá trình giải
quyết vụ án, ngoài lời trình bày, phía nguyên đơn (bà L) cùng cụ K (bà N) không
đưa ra được bất kỳ tài liệu, chứng cứ khách quan nào để chứng minh cho luận điểm
cụ D2 và cụ K bị ép buộc khi lập hợp đồng tặng cho và ký trước mặt Công chứng
viên.
[3.6] Từ những phân tích nêu trên, các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
năm 2010 và 2015 hoàn toàn phù hợp về cả hình thức lẫn nội dung pháp luật. Do đó,
không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L về việc hủy 02
GCNQSDĐ đã cấp cho vợ chồng chị N1, anh T1 và bà Trần Thị Tuyết . Diện tích
đất 485,1m
2
ban đầu sau hai lần tặng cho hợp pháp chỉ còn lại 143m
2
, nguyên đơn
yêu cầu chia thừa kế trên tổng diện tích 485,1m
2
là không hợp pháp.
[4] Về yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Lê Văn D2:
13
[4.1] Xác định khối di sản: Căn cứ GCNQSDĐ do UBND thành phố V cấp
ngày 09/9/2015 mang tên cụ Lê Văn D2 và cụ Phạm Thị K, khối tài sản chung còn
lại của hai cụ sau các lần tách thửa là 143m
2
(gồm 112m
2
đất ở và 31m
2
đất vườn)
thuộc thửa đất số 162, tờ bản đồ số 10 tại phường T, thành phố V.
[4.2] Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/7/2023 của Tòa án, tài
sản gắn liền với diện tích đất 143m
2
này gồm có: 01 ngôi nhà gỗ cấp bốn (đã cũ) và
các công trình phụ trợ khác. Đây được xác định là tài sản chung hợp nhất của cụ D2
và cụ K trong thời kỳ hôn nhân thực tế.
[4.3] Phân chia di sản: Vì là tài sản chung vợ chồng, khối tài sản trên (gồm
143m
2
đất và tài sản gắn liền với đất) được chia đôi. Cụ Phạm Thị K quản lý, sở
hữu 50% giá trị khối tài sản. Phần 50% giá trị tài sản còn lại chính là di sản thừa kế
do cụ Lê Văn D2 để lại.
[4.4] Do cụ Lê Văn D2 chết năm 2017 không để lại di chúc, căn cứ Điều 650
Bộ luật Dân sự, HĐXX sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn là phân chia di sản thừa kế (tương đương 1/2 giá trị khối tài sản chung
nêu trên) của cụ Lê Văn D2 theo quy định của pháp luật cho các thừa kế thuộc hàng
thừa kế thứ nhất là phù hợp và đúng quy định.
[4.5] Về giá trị khối di sản thừa kế của cụ Lê Văn D2: Căn cứ Biên bản định
giá tài sản ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá, giá trị di sản thừa kế của cụ Lê
Văn D2 (tương đương 1/2 giá trị khối tài sản chung còn lại) bao gồm:
Quyền sử dụng đất ở: 56m² x 1.000.000 đồng/m² = 56.000.000 đồng. Quyền sử
dụng đất vườn: 15,5m² x 41.000 đồng/m² = 635.500 đồng. Tài sản gắn liền với đất:
1/2 ngôi nhà gỗ cũ trị giá 4.070.500 đồng và 1/2 sân nền bê tông trị giá 778.500
đồng. Tổng cộng giá trị di sản thừa kế của cụ Lê Văn D2 được xác định là
61.484.500đ (Sáu mươi mốt triệu bốn trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm đồng).
[4.6] Về việc xác định hàng thừa kế thứ nhất và suất thừa kế:
Từ những nhận định trên, HĐXX xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lê
Văn D2 gồm có 05 người: Cụ Phạm Thị K, bà Lê Thị D1, bà Lê Thị L, bà Lê Thị N
và ông Lê Văn D3 (anh Lê Văn H thừa kế thế vị). Do cụ D2 không để lại di chúc, di
sản được chia đều cho 5 suất thừa kế hợp pháp với giá trị tương đương như nhau.
[4.7] Cụ thể, mỗi suất thừa kế được hưởng:
Về đất: 11,2m² đất ở (trị giá 11.200.000 đồng) và 3,1m² đất vườn (trị giá
127.100 đồng). Về tài sản gắn liền với đất: Giá trị nhà gỗ là 814.100 đồng và giá trị
sân bê tông là 155.700 đồng. Tổng giá trị mỗi suất được hưởng: 12.296.900đ (Mười
hai triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn chín trăm đồng).
[4.8] Về phương thức phân chia di sản thực tế:
Xét hiện trạng thực tế của thửa đất, điều kiện hoàn cảnh và nhu cầu sử dụng
của các đương sự, đối chiếu với quy định về diện tích tối thiểu được phép tách thửa
đất theo điểm b khoản 3 Điều 11 của quy định kèm theo Quyết định số
116/2025/QĐ-UBND ngày 15/12/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh P quy định cụ thể
một số điều của Luật đất đai và một số Nghị định trong lĩnh vực đất đai quy định
điều kiện để tách thửa đất ở tại nông thôn tối thiểu là 80m
2
. HĐXX nhận thấy khối
14
di sản là đất nêu trên không đủ điều kiện để phân chia bằng hiện vật cho từng suất
thừa kế.
Để đảm bảo tính hữu dụng của tài sản và ổn định cuộc sống, cần chia di sản
theo phương thức thanh toán giá trị bằng tiền như cấp sơ thẩm nhận định và phân
chia là phù hợp. Cụ Phạm Thị K hiện đang quản lý, gắn bó với thửa đất gốc và tài
sản trên đất, do đó cần giao cho cụ K được toàn quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ khối
di sản thừa kế của cụ D2 để lại (tổng trị giá 61.484.500 đồng). Đồng thời, cụ Phạm
Thị K có nghĩa vụ thanh toán lại bằng tiền giá trị suất thừa kế cho các đồng thừa kế
khác bao gồm: Bà Lê Thị D1, bà Lê Thị L, bà Lê Thị N và anh Lê Văn H (người
thừa kế thế vị suất của ông Lê Văn D3). Mỗi người được nhận số tiền là
12.296.900đ (Mười hai triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn chín trăm đồng).
Phương án này hoàn toàn khách quan, thấu tình đạt lý và phù hợp với các quy định
của pháp luật.
[5] Về hiện trạng sử dụng đất, chênh lệch diện tích của các thửa đất so với
GCNQSDĐ:
Căn cứ vào Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/7/2023 và Bản trích
đo hiện trạng sử dụng đất do Công ty TNHH K3 lập ngày 14/7/2023, thể hiện có sự
chênh lệch giữa diện tích đất trên giấy tờ và thực tế sử dụng của các đương sự nhận
tặng cho, cụ thể:
[5.1] Thửa đất của bà Trần Thị T hiện trạng thực tế đang sử dụng là 215,3m²,
thiếu 19,2m² so với diện tích 234,5m² ghi trên GCNQSDĐ.
[5.2] Thửa đất của hộ chị Đặng Thị N1 và anh Hà Xuân T1 hiện trạng thực tế
đang sử dụng là 103,6m², thiếu 0,4m² so với diện tích 104m² ghi trên GCNQSDĐ.
[5.3] Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại các phiên
tòa, bà Trần Thị T cùng vợ chồng chị Đặng Thị N1, anh Hà Xuân T1 đều thống nhất
quan điểm không có ý kiến thắc mắc hay tranh chấp gì, đồng thời không đề nghị
Tòa án xem xét, giải quyết đối với phần diện tích thiếu hụt này. Các đương sự đều
xác định nguồn gốc đất do cụ D2 và cụ K tự nguyện tặng cho từ trước, hiện trạng đo
đạc thực tế sử dụng bao nhiêu thì chấp nhận sử dụng bấy nhiêu.
[5.4] Hội đồng xét xử xét thấy, các thửa đất nêu trên đã hoàn thành thủ tục
sang tên đổi chủ, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ hợp pháp
cho bà T và vợ chồng chị N1, anh T1. Do đó, đây là tài sản riêng hợp pháp và các
đương sự có toàn quyền sử dụng đối với tài sản của mình theo quy định của pháp
luật dân sự. Căn cứ vào nguyên tắc tự định đoạt của đương sự quy định tại Điều 5
Bộ luật Tố tụng Dân sự, do các bên có quyền lợi liên quan trực tiếp tự nguyện
không có yêu cầu gì phần diện tích đất thiếu hụt, Hội đồng xét xử sơ thẩm không
đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này là hoàn toàn phù hợp và đúng quy định
pháp luật.
[6] Về chi phí tố tụng (Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản):
[6.1] Tổng chi phí tố tụng trong vụ án này là 8.850.000đ (Tám triệu tám trăm
năm mươi nghìn đồng). Quá trình giải quyết vụ án sơ thẩm, nguyên đơn là bà Lê
15
Thị L đã tự nguyện nộp và chịu toàn bộ số tiền chi phí tố tụng nêu trên, đồng thời
không đề nghị Tòa án phải phân chia hay yêu cầu các đương sự khác phải hoàn trả.
[6.2] Căn cứ quy định tại Điều 157 và Điều 165 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội
đồng xét xử sơ thẩm xét thấy sự tự nguyện của bà L là hoàn toàn phù hợp pháp luật,
đã ghi nhận và xác nhận bà Lê Thị L đã thực hiện nộp xong toàn bộ chi phí tố tụng
là đúng quy định.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm:
[7.1] Đối với cụ Phạm Thị K và bà Lê Thị D1: Tính đến thời điểm xét xử đều
đã trên 60 tuổi, thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định của pháp luật. Đồng
thời, cụ K và bà D1 đã có đơn xin miễn giảm án phí nộp cho Tòa án. Căn cứ vào
điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí
Tòa án, Hội đồng xét xử sơ thẩm miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Phạm
Thị K và bà Lê Thị D1 là đúng quy định pháp luật.
[7.2] Đối với bà Lê Thị L, bà Lê Thị N và anh Lê Văn H phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần di sản thừa kế mà mình được hưởng theo quy
định của pháp luật.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị L, cụ Phạm Thị K (do bà N đại
diện) phải chịu do kháng cáo không được chấp nhận. Tuy nhiên cụ K là người cao
tuổi và có yêu cầu nên không phải chịu án phí.
[9] Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa là có
căn cứ phù hợp với những căn cứ, lập luận nêu trên, nên được chấp nhận. Do vậy
kháng cáo của phía nguyên đơn và bị đơn không được chấp nhận. Cần giữ nguyên
bản án sơ thẩm nhưng cần tuyên lại phần quyết định của Bản án cho phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xử: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà bà Lê Thị L, cụ Phạm Thị K.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ.
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 357, 468, 612, 613, 614, 623, 651, 652, 653, 654, 688 Bộ
luật Dân sự;
Căn cứ vào Luật Người cao tuổi; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày
09/6/2000 của Quốc hội; Khoản 1 Điều 29, điểm a khoản 7 Điều 27, điểm đ khoản 1
Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
16
Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị L về việc chia thừa kế đối với diện
tích đất 485,1m² (Thửa 162, tờ bản đồ số 10 tại phường T, TP .) theo GCNQSDĐ số
SO 755227 ngày 29/10/2002 mang tên hộ cụ Phạm Thị K.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị L về việc hủy GCNQSDĐ số BĐ
211328 ngày 24/01/2011 cấp cho chị Đặng Thị N1, anh Hà Xuân T1 và GCNQSDĐ
số CB 934671 ngày 09/9/2015 cấp cho bà Trần Thị Tuyết .
Xác định cụ Lê Văn D2 (chết năm 2017, không di chúc) có di sản thừa kế là
quyền sử dụng đất ở: 56m², quyền sử dụng đất vườn: 15,5m² thuộc thửa 162, tờ bản
đồ số 10 tại phường T, TP . theo GCNQSDĐ số CB 934670 ngày 09/9/2015). Tài
sản gắn liền với đất: 1/2 ngôi nhà gỗ cũ và 1/2 sân nền bê tông. Tổng cộng giá trị di
sản thừa kế là 61.484.500đ (Sáu mươi mốt triệu bốn trăm tám mươi bốn nghìn năm
trăm đồng).
Di sản được chia đều cho 05 suất thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: Cụ
Phạm Thị K, bà Lê Thị D1, bà Lê Thị N, bà Lê Thị L và ông Lê Văn D3 (anh Lê
Văn H là người hưởng suất thừa kế thế vị của ông D3).
Giao cụ Phạm Thị K được quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ di sản bằng hiện vật
gồm quyền sử dụng đất và các tài sản, công trình trên đất thuộc thửa đất 143m² nêu
trên (Theo Bản trích đo hiện trạng sử dụng đất các hộ ông bà Trần Thị T, hộ bà
Phạm Thị K, hộ chị Đặng Thị N1 do Công ty TNHH K3 lập ngày 14/7/2023).
Cụ Phạm Thị K có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị di sản bằng tiền cho các đồng
thừa kế bao gồm: Bà Lê Thị D1, bà Lê Thị N, bà Lê Thị L và anh Lê Văn H. Mỗi
người được nhận 12.296.900đ (Mười hai triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn chín
trăm đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn thi hành án nếu người phải thi hành
án không thi hành khoản tiền phải thanh toán thì bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và
Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Phạm Thị K và bà Lê Thị D1.
Buộc bà Lê Thị N, bà Lê Thị L và anh Lê Văn H mỗi người phải chịu
614.845đ (Sáu trăm mười bốn nghìn tám trăm bốn mươi lăm đồng) tiền án phí dân
sự sơ thẩm đối với phần di sản được hưởng.
Buộc bà Lê Thị L phải chịu 614.845đ (Sáu trăm mười bốn nghìn tám trăm bốn
mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp
nhận. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà L đã nộp theo Biên lai
số AA/2020/0010052 ngày 21/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Việt Trì (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Phú Thọ); Bà L còn phải
nộp 314.845đ (Ba trăm mười bốn nghìn tám trăm bốn mươi lăm đồng).
Về chi phí tố tụng:
Ghi nhận bà Lê Thị L tự nguyện chịu toàn bộ 8.850.000đ (Tám triệu tám trăm
năm mươi nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Xác
nhận bà L đã nộp xong.
17
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn
đồng), xác nhận đã nộp theo biên lai số 0003530 ngày 14/10/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Phú Thọ.
Cụ Phạm Thị K được miễn toàn bộ án phí do thuộc đối tượng người cao tuổi,
có đơn nên được miễn theo quy định. Xác nhận bà Lê Thị N đã nộp 300.000đ (Ba
trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003527 ngày 14/10/2025 của Thi hành án dân sự
tỉnh Phú Thọ. Nay trả lại cho bà N số tiền 300.000đ (Ba nghìn đồng).
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự; người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, khoản 2 Điều 34, Điều 36,
Điều 72 Luật Thi hành án dân sự./.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ;
- Tòa án nhân dân KV1 - Phú Thọ;
- Phòng THADS KV1 - Phú Thọ;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Phạm Tuấn Anh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 275/2026/DS-PT Bản án số 275/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 275/2026/DS-PT Bản án số 275/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất