Bản án số 746/2026/DS-PT ngày 03/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 746/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 746/2026/DS-PT ngày 03/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 746/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 746/2026/DS-PT Bản án số 746/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 746/2026/DS-PT Bản án số 746/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 746/2026/DS-PT
Ngày: 03-06-2026
V/v “Tranh chấp di sản thừa kế;
tranh chấp hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất;tranh chấp bồi
thường thiệt hại do mất thu nhập”
CỘNG A HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tiền Phương
Các Thẩm phán: Hoàng Thị Thúy Lành
Phạm Thị Hồng Vân
- Thư phiên tòa: Nguyễn Ngọc Thư Thảo Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh y Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Tấn Phát - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 tháng 5 năm 2026 ngày 03 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở
Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số
430/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp di sản thừa
kế; tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; tranh chấp bồi thường thiệt
hại do mất thu nhập”.
Do Bản án dân sự thẩm số 32/2025/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2025 của
Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An (Nay Tòa án nhân dân khu
vực 2 - Tây Ninh bị kháng cáo kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 2 Tây Ninh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x s 667/2025/QĐ-PT ngày 30/10/2025,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông La Văn C, sinh năm: 1951; Địa chỉ: Ấp G, H, huyện T,
2
tỉnh Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh).
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
+ Ông Phan Văn C1, sinh năm: 1958. Địa chỉ: ấp G, N, huyện T, tỉnh Long
An (nay N, tỉnh Tây Ninh). (Theo văn bản ủy quyền ngày 11/12/2025) (Có
mặt)
+ Trần Thị Kim Q, sinh năm: 1988. HKTT: Ấp C, X, huyện X, tỉnh
Đồng Nai. Nơi trú: Chung cư E Đông S, phường P, thành phố T, thành phố Hồ
Chí Minh. (Nay Chung E Đông S, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) (Theo
văn bản ủy quyền ngày 11/12/2025) (Có mặt)
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Văn V
Văn phòng luật Nguyễn Anh T thuộc đoàn Luật tỉnh L. (Có mặt)
- Bị đơn yêu cầu phản tố:
1. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm: 1972.
2. Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1975
Cùng địa chỉ: Ấp G, H, huyện T, tỉnh Long An (nay H, tỉnh Tây
Ninh).
- Người đại diện theo ủy quyền của ông D và Đ ông Phạm Quốc M, sinh
năm: 1995. Địa chỉ: Ấp E, T, huyện M, tỉnh Long An (nay M, tỉnh Tây
Ninh). (Có mặt)
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật Văn L, sinh
năm: 1993: Địa chỉ: Số A, đường L, thị Trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp Thuộc
đoàn luật tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm: 1961. Địa chỉ: Ấp P, H, huyện T, tỉnh
Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh). (Vắng mặt)
2. Ngân hàng TMCP C2 Phòng giao dịch huyện T. Địa chỉ: Số A Đường Số
C, Khu Ph A, Thị Trấn T, Huyện T, Tỉnh Long An (nay T, tỉnh Tây Ninh).
(Vắng mặt)
3. Ông Nguyễn Văn V1, sinh năm: 1967. Địa chỉ: Ấp G, H, huyện T, tỉnh
Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh). (Vắng mặt)
4. Thị H, sinh năm: 1959. Địa chỉ: Ấp G, H, huyện T, tỉnh Long An
3
(nay H, tỉnh Tây Ninh). (Vắng mặt)
5. Nguyễn Thị Thu L1, sinh năm: 1967. Địa chỉ: Ấp H, H, huyện T,
tỉnh Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh). (Vắng mặt)
6. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách hội huyện T. Địa chỉ: Khu phố
A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An (nay T, tỉnh Tây Ninh).
7. Nguyễn Thị Thùy D2, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Ấp B, T, thị K,
tỉnh Long An (nay T, tỉnh Tây Ninh). (Vắng mặt)
8. Nguyễn Thị L2, sinh năm: 1967. Địa chỉ: Ấp G, H, huyện T, tỉnh
Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh). (Vắng mặt)
9. Ông Phạm Ngọc A, sinh năm: 1967. Địa chỉ: Ấp G, H, huyện T, tỉnh
Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh).
10. Anh Nguyễn Văn L3, sinh ngày 25-02-1993. Địa chỉ: Ấp G, H, huyện
T, tỉnh Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh). (Vắng mặt)
11. Anh Nguyễn Văn T1, sinh ngày: 15-12-1995. Địa chỉ: Ấp G, H, huyện
T, tỉnh Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh). (Vắng mặt)
12. Chị Nguyễn Thị N, sinh ngày: 03-08-2022. Địa chỉ: Ấp G, H, huyện
T, tỉnh Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh). (Vắng mặt)
13. Chị Nguyễn Thị T2, sinh ngày: 09-04-2004. Địa chỉ: Ấp G, H,
huyện T, tỉnh Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh). (Vắng mặt)
14. Quỹ tín dụng nhân dân H. Người đại diện: Ông Nguyễn Ngọc H1
Chủ tịch Hội đồng quản trị. Địa chỉ: Ấp N, H, huyện T, tỉnh Long An (nay
H, tỉnh Tây Ninh). (Vắng mặt)
15. Ủy ban nhân dân huyện T. Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh
Long An (nay T, tỉnh Tây Ninh).
Người thừa kế quyền nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện T Ủy
ban nhân dân T Tây Ninh.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông La Văn C; Bị đơn ông Nguyễn Văn D
Nguyễn Thị Đầm .
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh,
tỉnh Long An. (Nay Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 Tây Ninh).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
4
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ông La Văn C
Nguyễn Lệ H2 sống chung với nhau từ năm 1979 nhưng đến năm 2002 mới đăng
kết hôn tại UBND H. Trong quá trình chung sống không con chung,
Nguyễn Lệ H2 có một người con riêng ông Nguyễn Văn D, sinh năm: 1972
con dâu Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1975.
Ông La Văn C người gốc H2 khi về chung sống với Lệ H2 mang theo
tài sản để cùng H2 tạo lập nên khối tài sản chung bao gồm:
Phần diện tích đất 51.556m
2
gồm các thửa: 69, 71, 73, 75, 123, 125, 178, 181,
28B, 66, 117 tờ bản đồ số 06 tọa lạc tại ấp G, H, huyện T, tỉnh Long An do
Nguyễn L H2 đứng tên giấy CNQSD đất được UBND huyện cấp ngày
01/10/1996.
Phần diện tích đất 8.020m
2
thuộc thửa 677 tờ bản đồ số 06 tọa lạc tại ấp G,
H, huyện T, tỉnh Long An do Nguyễn Thị Lệ H2 và ông La Văn C đứng tên
giấy CNQSD đất được UBND huyện cấp ngày 03/11/2014 theo số BV 171094.
Phần diện tích đất 8.027m
2
thuộc thửa 1325 tờ bản đồ số 06 tọa lạc tại ấp G,
H, huyện T, tỉnh Long An do Nguyễn Lệ H2 ông La Văn C đứng tên giấy
CNQSD đất được UBND huyện cấp ngày 10/10/2011 theo số BV 194438.
Tổng diện tích đất tranh chấp 64.704m
2
chia hai thì ông C được hưởng
32.352m
2
.
Đến tháng 12 năm 2016 thì Nguyễn Lệ H2 mất, ông D Đ đã chiếm
dụng sử dụng phần diện tích đất do H2 ông C đứng tên.
Hiện nay, ông La Văn C yêu cầu ông D bà Đ trả lại 50% khối tài sản riêng
trong khối tài sản chung của ông C H2 32.352m
2.
- Yêu cầu chia di sản thừa kế của H2 theo kỷ phần 16.176m
2
.
Tổng diện tích ông C yêu cầu được nhận 48.528m
2
gồm các thửa:
+ Thửa 123 diện tích là: 5.383m
2
;
+ Thửa 125 diện tích 5.366m
2
;
+ Thửa 178 diện tích 9.976m
2
;
+ Thửa 181 diện tích 6.919m
2
;
+ Thửa 677 diện tích 8.021m
2;
+ Thửa 1325 diện tích 8.027m
2
;
5
+ Thửa 66 diện tích 5.251m
2
;
+ Thửa 117 diện tích: 1.188m
2
;
+ Thửa 39, 40 diện tích 400m
2
(thuộc tuyến dân vượt ấp G);
Phần diện tích trên thuộc tờ bản tờ bản đồ số 06, ấp G, H, huyện T, tỉnh
Long An.
+ Ông C yêu cầu được giữ trọn thửa 677 diện tích 8.021m
2
. Nếu ông C
được giữ trọn thửa 677 diện tích được chia vượt quá 48.528m
2
thì ông C đồng ý
trả lại tiền cho ông D theo chứng thư định g so với diện tích lớn hơn diện tích
được chia.
+Thửa 39, 40 (tương ứng với vị trí nền 24, 25) diện tích 400m
2
(thuộc
tuyến dân vượt lũ ấp G) công trình kiến trúc trên đất tại thửa 39, 40 ông C
đồng yêu cầu chia 50% của ông C được hưởng chia di sản thừa kế 50% của ông
C ông D trên hai thửa đất, công trình kiến trúc trên đất nhưng yêu cầu được tiếp
tục sử dụng hai thửa đất, phần công trình kiến trúc trên 2 thửa đất này đồng
ý hoàn trả giá trị theo chứng thư định giá cho ông D, Đ .
Diện tích vị t các thửa đất nêu trên căn cứ vào Mảnh trích đo số 27, 28,
29, 30 của công ty TNHH V2 do Chi nhánh văn phòng đăng đất đai tại huyện T
duyệt ngày 31 tháng 05 năm 2019.
- Yêu cầu chia theo kỷ phần tiền sang lắp nền nhà ông C, H2 thuê kobe
chở năm 2011, 2012 hiện nay ông D, Đ đang với số tiền 107.000.000 đồng.
- Yêu cầu chia theo kỷ phần số tiền ông C, H2 đã mua vật cất n cho
ông D, Đ tại cửa hàng V3 với s tiền 208.312.000 đồng.
Tổng cộng số tiền chở đất lắp nền nhà vật xây dựng ông D, Đ
hiện nay 315.312.000 đồng. Sau khi chia theo kỷ phần thì ông C được s tiền
236.486.000 đồng.
Ông C yêu cầu ông D, bà Đ liên đới trả tiền mất thu nhập trên phần diện tích
ông C được chia từ ngày 01-01-2017 cho đến ngày 18-04-2025 làm tròn là 8
năm 3 tháng.
- 17.000.000 đồng/1ha/1 năm x 48.528 m
2
thành tiền 684.730.080 đồng +
236.486.000 đồng thành tiền 921.216.080 đồng trừ 20.000.000 đồng còn lại
901.216.080 đồng.
6
Phần diện tích 877m
2
thuộc một phần thửa 117, tờ bản đồ số 6 nằm trên giấy
chứng nhận của Lệ H2 nhưng ông D1 đã s dụng, phần diện tích đất này ông C
không yêu cầu. Phần đất này ông D, Đ tự thỏa thuận giải quyết với ông D1.
- Phần nợ 26.000.000 đồng của 2 nền nhà trên tuyến dân vượt ông C
đồng ý trả cho nhà nước phần tiền này.
- Về công trình kiến trúc cây trồng trên đất tại thửa 28B, 69, 71, 73 hiện
nay ông D, Đ đang sử dụng thì ông C không yêu cầu.
* Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn nguyên đơn ý kiến như sau:
+ Tiền H2 nợ vật nông nghiệp: 455.000.000 đồng: Nguyên đơn không
đồng ý. do: Ông C đã đến Đại vật ng nghiệp Lan A1 cung cấp sổ vật
nợ cho rằng H2 đã thiếu khi còn sống thì Đại cho biết hiện nay sổ nợ
không còn.
+ Số tiền hụi 168.000.000 đồng: Nguyên đơn không đồng ý. do: Từ
ngày H2 chết cho đến hiện nay thì chủ hụi không ý kiến yêu cầu với
ông C về phần tiền hụi này không khởi kiện ông C.
+ Tiền vay Ngân hàng TMCP C2 Chi nhánh L4 -Phòng giao dịch huyện T
180.000.000 đồng (Trong đó tiền gốc 150.000.000 đồng gốc tiền lãi
30.000.000 đồng) ông C đồng ý với khoản tiền vay Ngân hàng TMCP C2 Chi
nhánh L4 - Phòng giao dịch huyện T 180.000.000 đồng.
+ Tiền vay Ngân hàng C Chi nhánh L4 phòng giao dịch huyện T
55.236.877 đồng (Tiền gốc 42.000.000 đồng; tiền lãi 13.236.877 đồng):
Nguyên đơn không đồng ý. do: Số tiền vay ông C không biết trên Phiếu thu
tên Đ nhưng khi Đ trả t không thông báo cho ông C biết cho đến khi ông C
khởi kiện chia di sản thừa kế t thời gian gần đây ông D, bà Đ mới đưa ra các
chứng cứ trả cho Ngân hàng C.
+ Tiền H2 mượn nợ của ông Nguyễn Văn V1; i trú: Ấp G, H,
huyện T là 193.000.000 đồng (ông D, Đ đã trả xong): Nguyên đơn không đồng
ý, sau khi H2 mất không ý kiến không thông báo không cung cấp
giấy nợ của H2 cho ông C biết.
+ Tiền H2 mượn nợ của Thị H, sinh năm: 1959; Nơi trú: Ấp G,
H, huyện T 105.000.000 đồng (ông D, Đ trả mỗi năm 30.000.000 đồng
đã trả xong): Nguyên đơn không đồng ý, sau khi H mất không ý kiến
không thông báo không cung cấp giấy nợ của H cho ông C biết.
7
Ngoài ra, ông D, Đ hàng năm đều gửi tiền cấp dưỡng 20.000.000
đồng/năm cho ông C. Trong ba năm từ năm 2017, năm 2018, 2019 60.000.000
đồng. Yêu cầu ông C trả lại s tiền này cho ông D, Đ: Nguyên đơn có nhận tiền
cấp dưỡng năm 2019 20.000.000 đồng có làm biên nhận với ông D, bà Đ, còn
năm 2017, 2018 thì không nhận tiền cấp dưỡng mỗi năm 20.000.000 đồng
không giấy tờ thể hiện việc này nên không đồng ý.
Đồng ý trả tiền thuê đất cho ông C theo kỷ phần ông C được chia từ năm 2017
cho đến nay với giá 12.000.000 đồng/hecta/1 năm ông C không đồng ý, hiện nay
giá thuê đất 17.000.000 đồng/hecta/1 năm.
Phần diện tích đất 877m
2
thuộc một phần thửa 117, tờ bản đồ số 6 nằm trên
giấy chứng nhận của Lệ H2 phía ông C không yêu cầu đối với phần diện
tích đất này, phần diện tích đất này đồng ý để ông D, Đ ông D1 t thỏa thuận
thương lượng giải quyết.
Đối với thửa 28B, thửa 69, 71, 73 tờ bản đ số 6 tổng diện tích 14.579m
2
ông C đồng ý trả giá trị đất (theo chứng thư định giá) phần đất b thiếu cho ông D,
Đ khi ông C được chia thừa kế.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Phạm Quốc M trình bày: Mẹ
ông D Nguyễn Lệ H2 ông La Văn C chung sống với nhau từ m 2000
xác nhận hôn nhân thực tế vào ngày 04/06/2014 của UBND H. Đến năm
2016 thì H2, mẹ ông D mất.
Tài sản chung của ông C, H2 tạo lập được:
+ Phần diện tích đất 8.020m
2
thuộc thửa 677 tờ bản đồ số 06 tọa lạc tại ấp G,
H, huyện T, tỉnh Long An do Nguyễn Lệ H2 ông La Văn C đứng tên giấy
CNQSD đất được UBND huyện cấp ngày 03/11/2014 theo số BV 171094. Đồng ý
chia di sản thừa kế.
+ Phần diện tích đất 8.027m
2
thuộc thửa 1325 tờ bản đồ s 06 tọa lạc tại ấp G,
H, huyện T, tỉnh Long An do Nguyễn Lệ H2 ông La Văn C đứng tên giấy
CNQSD đất được UBND huyện cấp ngày 10/10/2011 theo số BV 194438. Đồng ý
chia di sản thừa kế.
Còn phần diện tích đất 51.556m
2
gồm các thửa: 69, 71, 73, 75, 123, 125, 178,
181, 28B, 66, 117 tờ bản đồ số 06 tọa lạc tại ấp G, H, huyện T, tỉnh Long An do
Nguyễn Lệ H2 đứng tên giấy CNQSD đất được UBND huyện cấp ngày
8
01/10/1996 tài sản riêng của H2 được tạo lập trước khi chung sống với ông C
nên không đồng ý chia di sản thừa kế theo yêu cầu của ông C.
Hiện nay phía bị đơn đồng ý chia di sản thừa kế phần diện tích đất 8.020m
2
thuộc thửa 677 t bản đồ số 06, diện tích đất 8.027m
2
thuộc thửa 1325 tờ bản đồ số
06 tọa lạc tại ấp G, H, huyện T, tỉnh Long An. Thửa 39, 40 thuộc tuyến dân của
vượt ấp G, H diện tích 400m
2
.
Khi H2 t còn sống còn nợ lại các khoản tiền sau:
+ Số tiền hụi 168.000.000 đồng,
+ Tiền vay Ngân hàng TMCP C2 Phòng giao dịch huyện T 180.000.000
đồng (Trong đó tiền gốc 150.000.000 đồng gốc tiền lãi 30.000.000 đồng);
+ Tiền vay đã trả cho Ngân hàng C phòng giao dịch huyện T tiền gốc
40.000.000 đồng, tiền lãi 1.752.566 đồng. Tổng cộng là 41.752.566 đồng. Chia
theo quy định pháp luật.
+ Đã trả cho hợp tác tín dụng 24.000.000 đồng.
+ Tiền H2 nợ vật nông nghiệp: 455.000.000 đồng.
+ Tiền H2 mượn nợ của ông Nguyễn Văn V1; i trú: Ấp G, H,
huyện T 193.000.000 đồng (ông D, Đ đã trả xong)
+ Tiền H2 mượn nợ của Thị H, sinh năm: 1959; Nơi trú: Ấp G,
H, huyện T là 105.000.000 đồng (ông D, Đ trả mỗi năm 30.000.000 đồng
đã trả xong)
Ngoài ra, ông D, Đ hàng năm đều gửi tiền cấp dưỡng 20.000.000
đồng/năm cho ông C. Trong ba năm từ năm 2017, năm 2018, 2019 60.000.000
đồng. Yêu cầu ông C trả lại số tiền này cho ông D, Đ.
Tổng số tiền yêu cầu phản tố 1.216.236.000 đồng đây tiền nợ trước đây
của Nguyễn Lệ H2. Số tiền này ông D Đ đã trả xong nên yêu cầu chia đôi
khoản nợ này yêu cầu ông C trả một phần hai khoản nợ này.
Đồng ý trả tiền thuê đất cho ông C theo kỷ phần ông C được chia 16.027m
2
từ năm 2017 cho đến nay với giá 12.000.000 đồng/hecta/1 năm.
Còn các yêu cầu khác của ông C đối với ông D, Đ tr tiền san lấp nền nhà,
vật xây dựng, tiền mất thu nhập trên phần diện tích ông C được chia từ năm
2017 628.974.000 đồng ông D, Đ không đồng ý.
9
Phần diện tích đất 877m
2
thuộc một phần thửa 117, tờ bản đồ số 6 nằm trên
giấy chứng nhận của Lệ H2 nhưng ông D1 đang s dụng, phần diện tích đất này
ông D, Đ không yêu cầu sẽ tự thỏa thuận với ông D1.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn D1 trình bày: Phần diện tích 877m
2
thuộc một phần thửa
117, tờ bản đ số 6 toạ lạc tại ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Long An ông D1 đã canh
tác từ năm 1983 cho đến nay không tranh chấp ông D1 cũng không biết phần
đất của ông nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của H2. Hiện nay
ông D1 yêu cầu được tiếp tục sử dụng phần đất này sẽ thoả thuận với bà Đ, ông
D để làm thủ tục công nhận quyền sử dụng đất cho ông D1. Do hiện nay hoàn cảnh
đi lại khó khăn ông D1 cũng không liên quan đến vụ án nên ông D1 u cầu
được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án từ cấp thẩm đến cấp
phúc thẩm.
2. Ông Nguyễn n V1 trình bày: Ngày 16/7/2016, ông Nguyễn Văn V1 cho
vợ chồng ông La Văn C Nguyễn Lệ H2 tổng số tiền 193.000.000 đồng
(Một trăm chín mươi ba triệu đồng). Tổng cộng đến khi Nguyễn Lệ H2 mấy
vẫn còn nợ lại ông V1 số tiền 193.000.000 đồng. Sau đó, vợ chồng ông Nguyễn
Văn D (là con Nguyễn Lệ H2) đã đến lãnh số nợ trên trả tiền cho ông V1.
3. Thị H3 trình bày: Nguyễn Lệ H2 mượn Thị H số tiền
105.000.000 đồng. Số tiền này do ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị Đ đã
đứng ra trả hàng năm, mỗi năm trả 30.000.000 đồng. Đến nay đã hoàn trả đủ cho
Thị H số tiền 105.000.000 đồng đúng thời hạn.
4. Nguyễn Thị Thu L1 trình bày: Trước đây bán vật cho
Nguyễn Lệ H2, sau đó H2 chết, con H2 đã thanh toán xong nay không
yêu cầu. Tôi xin được vắng mặt các giai đoạn tố tụng.
5. Nguyễn Thị Thùy D2 trình bày: Trước đây khi Nguyễn Lệ H2 con
sống, H2 tham gia chơi hụi do Nguyễn Thị Thùy D2 làm đầu thảo, đến
khi Nguyễn Lệ H2 chết thì Nguyễn Thị Đ đứng ra thay H2 đóng hụi
cho D2.
H2 nợ hụi 2.000.000 đồng khui ngày 05 đóng tiền vào ngày 10 hàng
tháng gồm 32 người tham gia, H2 hốt người thứ 10 đống hụi cho D2 22
người. Tổng số tiền Đ đóng thay cho H2 dây hụi này 44.000.000 đồng.
10
Hụi 2.000.000 đồng khui ngày mùng 10 và đóng tiền ngày 25 hàng tháng số
người tham gia 25 người, bà H2 hốt người thứ 3 phải đóng lại cho D2 22
phần, tổng cộng số tiền 44.000.000 đồng, bà Đ đã đóng thay cho H2.
Hụi 5.000.000 đồng 03 tháng khui 1 lần tham gia 23 phần, Lệ H2 hốt
người thứ 7 nợ 16 phần tương đương số tiền 80.000.000 đồng, Đ đã nộp xong.
Tổng cộng số tiền H2 nợ 168.000.000 đồng Đ đã trả đủ, không còn
nợ.
6. Nguyễn Thị L2 trình bày: Nguyễn Thị L2 đứng ra làm đầu thảo, số
tiền cụ thể Nguyễn Lệ H2 thiếu lại khi góp vốn xoay vòng là 193.000.000
đồng. Sau khi Nguyễn Lệ H2 chết, Nguyễn Thị L2 tìm hiểu t được biết
ruộng đất H2 do ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị Đ quản sử dụng
ông D, Đ còn đứng ra trả nợ cho người khác cụ thể trả cho Thị H, nên
số tiền H thiếu ông D, Đ đứng ra trả 01 năm 03 lần (số tiền mỗi lần trả
15.00.000 đồng). Số tiền này do ông D, Đ đã đứng ra nhận trả dần đến nay
đã hết. Nguyễn Thị L2 không yêu cầu về số tiền này.
7. Ông Phạm Ngọc A trình bày: Thời gian trước đây hơn 15 năm, bà Nguyễn
Lệ H2 đến đại lý của ông Phạm Ngọc A mua phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.
Đến khi H2 bị bệnh qua đời thì còn nợ cửa hàng của ông Phạm Ngọc A số
tiền 455.000.000 đồng. Sau đó vợ chồng ông D, Đ còn đến cửa hàng của
ông Phạm Ngọc A lãnh trả số nợ của H2. Đến cuối năm 2018, thì ông D
Đ đã trả toàn bộ số tiền còn nợ của H2.
8. Ngân hàng TMCP C2 Chi nhánh L4 Phòng G: Đối với hợp đồng tín dụng
số 1657.0174/HĐTD ngày 15 tháng 11 năm 2016 được kết giữa Ngân hàng
Nguyễn Lệ H2, ông La Văn C, thời hạn vay 12 tháng từ ngày 15 tháng 11
năm 2016 đến ngày 15/11/2017. Hiện nay, khoản vay của Nguyễn Lệ H2, ông
La Văn C đã thanh toán toàn bộ gốc lãi tại Ngân hàng TMCP C2 Chi nhánh
L4 P. Theo hồ lưu tại Ngân hàng ông La Văn C Nguyễn Lệ H2 hiện
không còn nợ vay (dư nợ = 0). Ngân hàng chỉ còn giữ tài sản thế chấp 2 giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sỏ hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất
số BV 171094 BH 494438 vào sổ cấp s CH 00347 CH 00256 cấp ngày
03/11/20214 10/10/2011 nơi cấp UBND huyện T, tỉnh Long An. Việc cho vay
thu nợ của Ngân hàng thực hiện đúng quy định pháp luật; Ngân hàng không
ý kiến liên quan đến vụ án.
11
9. Ngân hàng chính sách hội tỉnh L Phòng G: Phòng giao dịch Ngân
hàng chính sách hội huyện T xác nhận hộ vay Nguyễn Lệ H2. Địa chỉ: Ấp G,
H, huyện T, tỉnh Long An. Ngày 21/12/2007 vay nền CTDC số tiền 10.000.000
đồng (mua nền); Ngày 12/10/2011 vay nhà CTDC số tiền 20.000.000 đồng (Xây
nhà); Ngày 23/03/2016 vay NS&VSMT số tiền 12.000.000 đồng (kéo nước sạch
xây nhà vệ sinh). Tính đến ngày 28/11/2022 hộ vay Nguyễn Lệ H2 đã trả hết tất
các khoản vay trên không còn nợ tại Ngân hàng C.
10. Quỹ tín dụng nhân dân H; Anh Nguyễn Văn T1; Chị Nguyễn Thị N;
Chị Nguyễn Thị T2: vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án
không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Toà án mặc Toà án đã tống đạt hợp l
các văn bản tố tụng cho Quỹ tín dụng nhân dân H; Anh Nguyễn Văn T1; Chị
Nguyễn Thị N; Chị Nguyễn Thị T2 nên hồ vụ án không thể hiện ý kiến
của anh T3.
Tại Bản án dân sự thẩm số 32/2025/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2025 của
Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An (Nay Tòa án nhân dân khu
vực 2) - Tây Ninh đã xử (tóm tắt):
Căn cứ các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 357,
609, 610, 611, 612, 613, 614, 618, 623, 645, 650, 651, 652, 660 Bộ luật Dân sự
2015; Điều 33, Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 167, 179 Luật đất đai
năm 2013;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban
T4 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử
dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông La Văn C;
2. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Văn D va Nguyễn Thị
Đầm .
3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn D về việc yêu cầu công
nhận quyền sử dụng đất diện tích 51.556m
2
đất tọa lạc tại ấp G, H, huyện T,
tỉnh Long An cho ông Nguyên Văn D3 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
4. Buộc ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm giao lại cho
ông La Văn C tổng diện tích là 43.686.000 đồng (ông C phải trả giá cho ông D,
12
Đ diện tích 550 m
2
) gồm: Thửa 123 diện tích 5.383 m
2
.; Thửa 125 diện tích
5.360 m
2
; Thửa 178 diện tích 9.976 m
2
; Thửa 181 diện tích 6.919 m
2
; Thửa
677 diện tích 8.021 m
2
; Thửa 1325 diện tích 8.027 m
2
tất cả diện tích trên
thuộc tờ bản đồ số 6, loại đất LUC tọa lạc tại ấp G, H, huyện T, tỉnh Long An
theo mãnh trích đo số 29-2019 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện
T duyệt ngày 31-05-2019;
5. Ông La Văn C tiếp tục sử dụng quyền sử dụng đất hai nên 39, 40, t bản
đồ số 6-1 loại đất ONT; Nhà ở, Nhà tắm, cửa cổng, hàng rào mặt trước hàng rào
mặt bên, toàn bộ cây trồng trên đất, theo mãnh trích đo số 30-2019 được Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai huyện T duyệt ngày 31-05-2019; tọa lạc tại p G, H,
huyện T, tỉnh Long An, theo Mảnh trích đo số 30-2019 được Chi nhánh Văn phòng
dăng đất đai huyện T duyệt ngày 31-05-2019 tọa lạc tại ấp G, H, huyện T,
tỉnh Long An
6. Ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị Đ được tiếp tục sử dụng tổng diện
tích đất tại các thửa: Thửa 28B diện tích 3.936 m
2
tờ bản đồ số 6 loại đất LUC;
Thửa 69 diện tích 7.385 m
2
tờ bản đồ số 6 loại đất LUC; Thửa 71 diện tích 2.676
m
2
tờ bản đồ số 6 loại đất BHK; Thửa 73 diện tích 582 m
2
tờ bản đồ số 6 loại đất
BHK; Thửa 66 diện tích 5.251 m
2
tờ bản đồ số 6 loại đất LUC; Thửa 117 diện tích
1.188 m
2
tờ bản đồ số 6 loại đất ONT tọa lạc tại p G, H, huyện T, tỉnh Long
An theo Mảnh trích đo s 27-2019 được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyện T duyệt ngày 31-05-2019; mãnh trích đo số 28-2019 được Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai huyện T duyệt ngày 31-05-2019 phần đất này hiện nay ông
Nguyễn Văn D Nguyễn Thị Đ đang quản sử dụng.
7. Ông La Văn C, ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị Đ được quyền liên
hệ với các quan thẩm quyền để khai, đăng ký, điều chỉnh theo đúng theo
hiện trạng đất s dụng của mình theo quyết định của bản án để được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 100 khoản 2
Điều 170 của Luật Đất đai năm 2013.
Buộc các bên thực hiện theo Bản án của Tòa án về việc xác định quyền sử
dụng. Trong trường hợp đương s không thực hiện phán quyết của Tòa án về việc
xác lập quyền sử dụng đất, quan thi hành án quyền ra quyết định cưỡng chế
theo Luật thi hành án dân sự.
8. Buộc ông La Văn C hoàn trả cho ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị Đ
số tiền 814.540.606 đồng.
13
9. Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật
Dân sự 2015.
10. Bác yêu cầu của ông La Văn C số tiền san lắp mua vật liệu xây dụng
315.312.000 đồng; diện tích đất 5.392 m
2
chênh lệch với yêu cầu ban đầu.
11. Bác yêu cầu của ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị Đ đối với số tiền
trả vật Nông nghiệp, tiền nợ hụi 921.000.000 đồng
12. Phí thẩm định, đo đạc, định giá, giám định chữ ký ông La Văn C phải chịu
44.755.000 đồng, ông C đã nộp 36.025.000 đồng, ông C phải nộp tiếp 8.730.000
đồng; Ông Nguyễn Văn D Nguyễn Th Đ phải chịu 44.755.000 đồng ông D,
Đ đã nộp 45.000.000 đồng, ông D, Đ được hoàn trả 245.000 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí; Quyền kháng cáo của các
đương sự theo luật định. Quyền nghĩa vụ thi hành án của đương sự theo luật
định
Ngày 09/5/2025, nguyên đơn ông La Văn C;
Ngày 07/5/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị Đ nộp đơn
kháng cáo một phần bản án thẩm.
Ngày 09/5/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh
Long An (Nay Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh) Quyết định
kháng nghị phúc thẩm số 28/QĐ-VKS-DS ngày 09/5/2025 đề nghị xét xử phúc
thẩm theo hướng sửa bản án dân sự thẩm về xác định lại diện tích tài sản chung,
chia kỷ phần thừa kế theo quy định của pháp luật, định giá tính án phí sai do
Tòa án cấp thẩm xác định tính toán không chính xác.
Tại phiên Tòa phúc thẩm,
Tại các phiên tòa phúc thẩm, ông Phạm Quốc M đại diện theo ủy quyền của
bị đơn ông Nguyễn Văn D bà Nguyễn Thị Đ tại đơn xin xét xử vắng mặt
ngày 26/5/2026, ông M trình bày: Ông xin rút lại toàn bộ yêu cầu kháng cáo của
ông D Đ về việc tranh chấp số tiền nợ với ông C. Ông thống nhất với bản án
thẩm đã giải quyết về phần yêu cầu chia tiền nợ của ông D, Đ nên không
yêu cầu nữa. Đối với phần chia tài sản thừa kế, ông D Đ thống nhất như
bản án thẩm nên không kháng cáo v vấn đề này. Đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
14
Luật bảo vệ quyền lợi ích của bị đơn yêu cầu phản tố ông Văn L
phát biểu: Ông C H3 đăng kết hôn vào năm 2002 nên không căn cứ để
công nhận hôn nhân thực tế. vậy, phần diện tích đất 51.556m
2
gồm các thửa: 69,
71, 73, 75, 123, 125, 178, 181, 28B, 66, 117 tờ bản đ số 06 tọa lạc tại ấp G, H,
huyện T, tỉnh Long An do Nguyễn Lệ H2 đứng tên trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất được UBND huyện cấp ngày 01/10/1996. Không phải di sản
đề nghị công nhận cho ông D, Đ, phần diện tích đất còn lại đề nghị chia theo
luật thừa kế; Đối với với kháng cáo của bị đơn ông D Đ đã yêu cầu rút lại
kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trần Thị Kim Q người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông La
Văn C trình bày: xác định lại yêu cầu kháng cáo chỉ tranh chấp về chia tài
sản chung chia thừa kế di sản của H2 chết để lại do bản án thẩm đã tính
toán số liệu diện tích đất không đúng việc chia di sản của H2 chết để lại như
bản án thẩm không phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với cách phân
chia nền 39 40 của bản án thẩm cũng không đúng theo quy định của pháp
luật đây tài sản chung của ông C H2. Đối với các phần khác của bản án
thẩm đã tuyên xử thì ông C thống nhất không kháng cáo những phần này.
Đối với số tiền cấp dưỡng 20.000.000 đồng thì đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem
xét tách biệt từ quan hệ tranh chấp không khấu trừ nghĩa vụ như bản án thẩm.
Đồng thời, ông C nguyện vọng sẽ nhận lại hết các thửa đất sẽ hoàn lại giá trị
đất thực tế ông D được hưởng theo quy định của pháp luật.
Ông Phan Văn C1 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông La
Văn C trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của Q không bổ sung thêm
ý kiến thêm.
Luật bảo vệ quyền lợi ích của nguyên đơn ông Văn V phát biểu: Xác
định ông La Văn C Nguyễn Lệ H2 về chung sống với nhau vào năm 1979,
đến năm 2002 hai bên tiến hành đăng kết hôn. Theo nghị quyết 01 hướng dẫn
áp dụng luật hôn nhân gia đình t giữa ông C, H2 sống với nhau trước tháng 03
năm 1987 được xem hôn nhân thực tế. Nên toàn bộ phần đất trên di sản của bà
H2 để lại yêu cầu chia theo quy định của pháp luật. Bản án sơ thẩm đã nhiều sai
sót trong việc chia di sản của H2, về u cầu cấp dưỡng án phí, cụ thể:
Thứ nhất, về việc xác định diện tích tài sản chung phân chia kỷ phần: Tại
mục 2.5 phần nhận định, Bản án thẩm xác định tổng diện tích đất thuộc khối tài
sản chung giữa ông La Văn C Nguyễn Lệ H2 64.704m2, từ đó chia cho
15
ông C một nửa 32.352m
2
. Số liệu này hoàn toàn chưa chính xác tổng diện tích
đất đúng thực tế phải 65.104 m
2
(sau khi lấy tổng diện tích đo đạc thực tế
65.981m
2
trừ đi 877m
2
đất ông Nguyễn Văn D1 đang sử dụng các đương sự
đã thống nhất không yêu cầu chia). Do đó, phần tài sản riêng hợp pháp của ông C
phần di sản của H2 trong khối tài sản chung phải được xác định chính xác
65.104m2 : 2 = 32.552m
2
.
Thứ hai, việc chia k phần thờ cúng trái quy định pháp luật: Tại các mục 2.8,
2.9 2.10, cấp thẩm đã tự ý chia phần di sản của H2 làm 3 kỷ phần, bao
gồm 1 kỷ phần cho ông C, 1 kỷ phần cho ông D 1 k phần dùng o việc thờ
cúng giao cho ông D quản lý. Phán quyết này đã vi phạm nghiêm trọng Khoản 1
Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015, bởi l vào thời điểm qua đời bà H2 không để lại di
chúc về việc dùng di sản vào việc thờ cúng, đồng thời các đương sự trong quá trình
giải quyết vụ án cũng không hề yêu cầu này. Việc chia thêm kỷ phần thờ cúng
dẫn đến việc ông Nguyễn Văn D được hưởng diện tích đất giá trị lên tới hơn 4,4
tỷ đồng, vượt quá xa kỷ phần thừa kế thực tế, gây thiệt hại trực tiếp bất lợi lớn
cho nguyên đơn.
Thứ ba, sai sót nghiêm trọng đối với hai nền số 39 40: Hai nền này
vốn tài sản chung hợp pháp của ông C và H2 được hình thành trong thời kỳ
hôn nhân. Tòa án cấp sơ thẩm lẽ ra phải phân chia theo đúng quy định của Luật
Thừa kế, nhưng lại căn cứ vào việc buộc ông C phải thối trả lại số tiền chênh lệch
giá gốc nền lên đến 608.400.000 đồng cho ông D không căn cứ hoàn
toàn thiếu hợp lý. Thêm vào đó, tại mục 2.15, việc Tòa án nhận định buộc ông C
phải chia 1/3 tổng giá trị của hai nền căn n (1.764.364.700 đồng cho ông D
hoàn toàn sai lệch so với bản chất phân chia di sản thừa kế của vụ án.
Thứ tư, về các khoản tiền yêu cầu của nguyên đơn án phí: Tại mục 2.19,
Bản án thẩm tuy nhận định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận tiền cấp
dưỡng, nhưng phần quyết định lại hoàn toàn b trống không đề cập đến, dẫn đến
việc tính toán áp đặt nghĩa vụ chịu án phí dân sự thẩm bị thiếu sót, không
chính xác, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên đương sự.
Từ những căn cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của nguyên đơn, tiến hành cải sửa bản án thẩm một cách khách
quan, đúng pháp luật.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
16
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của những
người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét x phúc thẩm kể từ khi thụ lý vụ án cho
đến trước thời điểm nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng
cáo của nguyên đơn ông La Văn C; bị đơn ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị
Đ; Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh
Long An (Nay Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 Tây Ninh) đủ điều
kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: Căn c vào các tài liệu chứng cứ trong hồ v án
lời trình bày của các đương sự, Luật tại phiên tòa phúc thẩm. Thấy rằng: đại
diện theo ủy quyền của bị đơn ý kiến xin rút lại toàn bộ yêu cầu kháng cáo của
bị đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối
với phần kháng cáo của bị đơn theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc
thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chỉ c định kháng cáo đối với phần
chia tài sản chung chia thừa kế di sản của H2 theo quy định của pháp luật
nên Viện kiểm sát tỉnh Tây Ninh thay đổi chỉ kháng nghị đối với phần chia tài sản
chung chia thừa kế di sản của H2 về án phí thẩm. Về tài sản, Tòa xác
định lại tổng diện tích tài sản chung của ông C H2 65.104m
2
(thay
64.704m
2
), dẫn đến phần tài sản riêng của ông C 32.552m
2
khối di sản của
H2 32.552m
2
. Do bà H2 không để lại di chúc các đương sự không yêu cầu,
Tòa phúc thẩm bác bỏ việc chia một kỷ phần để làm lễ giỗ (thờ cúng) của Tòa
thẩm, chuyển sang chia đều khối di sản trị giá 5.250.644.904 đồng cho hai người
thuộc hàng thừa kế thứ nhất ông C và ông D (mỗi người ởng 1/2). Đồng thời,
Tòa điều chỉnh không cho Đ tiếp tục sử dụng đất không thuộc hàng thừa kế;
không buộc ông C trả 608.400.000 đồng tiền nền thửa 39, 40 cho bị đơn vì đây
tài sản chung vợ chồng hợp pháp; yêu cầu tách riêng nghĩa vụ tiền cấp dưỡng
với tiền bồi thường mất thu nhập chứ không được cấn trừ do đây hai quan hệ
pháp luật khác nhau. Ngoài ra, bản án phúc thẩm sẽ làm thông tin các thửa đất
đã gộp thành thửa mới số 125 để thuận tiện thi hành án, đính chính lại các sai
sót trong việc tính toán khấu trừ tiền tạm ứng án p thẩm của bị đơn, đồng
thời giữ nguyên quyền khởi kiện bằng vụ án khác của ông D1 đối với diện tích
877m
2
đang sử dụng. Từ những căn cứ trên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông C, chấp nhận kháng nghị của
Viện kiểm sát. Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị
Hội đồng xét xử sửa bản án thẩm.
17
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Kháng cáo của nguyên đơn ông La Văn C; bị đơn ông Nguyễn Văn D
Nguyễn Thị Đ; Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân
Thạnh, tỉnh Long An (Nay Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 Tây
Ninh) thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273, Điều 276,
Điều 278 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng n sự. Người khởi kiện, người có yêu
cầu phản tố vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố. Tại phiên tòa phúc
thẩm, các đương sự không tự thỏa thuận được v việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ
án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về việc xác định cách tham gia tố tụng của đương sự: Tòa án cấp
thẩm xác định Ngân hàng TMCP C2 Phòng giao dịch huyện T, Phòng giao dịch
Ngân hàng chính sách hội huyện T vào tham gia tố tụng với tư cách là người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chính xác. Theo quy định, cần phải xác định
Ngân hàng TMCP C2, Ngân hàng C tham gia tố tụng với cách người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới chính xác. Tuy nhiên, việc cấp thẩm xác định
sai cách tố tụng cũng không làm thay đổi bản chất của v án cũng không ảnh
hưởng đến quyền lợi của các đương sự khác nên cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[3] Về s vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Văn D1, ông Nguyễn Văn V1,
Thị H, Nguyễn Thị Thu L1, Nguyễn Thị Thùy D2, Nguyễn Thị L2,
ông Phạm Ngọc A, ông Nguyễn Văn L3, ông nguyễn Văn T1, Nguyễn Thị
N, Nguyễn Thị T2, Quỹ tín dụng nhân n H, Ủy ban nhân n huyện T
người thừa kế quyền nghĩa vụ tố tụng Ủy ban nhân dân T, Ngân hàng
TMCP C2 Phòng giao dịch huyện T, Ngân hàng C Phòng giao dịch huyện T
được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 hoặc đơn xin xét x vắng mặt
thuộc trường hợp quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án vẫn
tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án theo quy định.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Quốc M1 đại diện theo ủy quyền
của bị đơn ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị Đ đã tự nguyện rút toàn bộ yêu
cầu kháng cáo. Việc rút kháng cáo hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định
tại khoản 2 Điều 289 Bộ luật T tụng Dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử
quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của ông D Đ.
Tòa án chỉ xem xét giải quyết đối với kháng cáo của ông C kháng nghị của Viện
18
kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An (Nay Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 2 Tây Ninh).
[5] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy
quyền của ông La Văn C xác định chỉ kháng cáo về phần chia tài sản chung chia
thừa kế di sản của H theo quy định của pháp luật; Đại diện Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Tây Ninh thay đổi một phần kháng nghị chỉ đề nghị xem xét lại diện tích
tài sản chung của ông C H, chia lại tài sản chung giữa ông C H, chia di
sản thừa kế của H theo quy định của pháp luật, định giá và tính lại án phí; Đối
với yêu cầu tiền cấp dưỡng 60.000.000 đồng của bị đơn sai sót nhưng chỉ căn
cứ chấp nhận 20.000.000 đồng do nguyên đơn thừa nhận, 40.000.000 đồng còn lại
bị đơn không chứng minh được nhưng bản án thẩm không tuyên không chấp
nhận đối với phần này chưa đầy đủ dẫn đến việc tính toán án phí không chính
xác, sự thay đổi một phần kháng nghị của Viện kiểm t không vượt quá phạm
vi kháng nghị ban đầu nên được chấp nhận. Căn c theo Điều 293 của B luật Tố
tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung của bản án thẩm kháng
cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.
[6] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 11/12/2025, Trần Thị Kim Q đại diện
theo ủy quyền của nguyên đơn ông La Văn C yêu cầu định giá lại tại sản đối với
thửa đất 117 02 nền 39, 40; Ngược lại, đối với đơn giá đất LUC BHK,
công trình tài sản trên các thửa đất thống nhất theo chứng thư định giá của Công ty
TNHH G thẩm định g thương tín số 090/24/BĐS-DV ngày 04/12/2024 t
nguyên đơn thống nhất. Hội đồng cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của Q. Sau
khi Chứng thư định giá của Công ty TNHH D4 s VC330/2025/81 ngày
31/12/2025. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 05/02/2026, đại diện theo y quyền của
bị đơn không đồng ý chứng thư định giá của Công ty TNHH D4 đề nghị Hội
đồng cấp phúc thẩm xem xét cho tiến hành định giá lại đề nghị trưng cầu Hội
đồng định giá n nước tiến hành thẩm định, Hội đồng cấp phúc thẩm chấp nhận
yêu cầu đại diện bị đơn phải liên h Tòa án để làm thủ tục tiến hành định giá lại
theo quy định của pháp luật (Thông báo công khai tại phiên tòa). Tuy nhiên, đại
diện bị đơn không liên hệ Tòa án để thực hiện các thủ tục cần thiết nên coi như từ
bỏ yêu cầu thẩm định g lại. Tính đến thời điểm xét xử đã trên 06 tháng, Hội đồng
xét xử quyết định lấy đơn giá đất nền 39, 40 thửa 117 theo Chứng thư định
giá của Công ty TNHH D4 số VC330/2025/81 ngày 31/12/2025. Đồng thời, đối
với đơn giá đất LUC BHK, công trình tài sản trên các thửa đất quyết định theo
19
chứng thư định g của Công ty TNHH G thẩm định giá thương tín số
090/24/BĐS-DV ngày 04/12/2024 để làm sở giải quyết vụ án.
Về nội dung kháng cáo, kháng nghị:
[7] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông La Văn C đại diện theo ủy quyền của ông
C xác định đã nhận lại 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (thửa số 677, diện
tích 8.021m², s BV 171094 cấp ngày 03/11/2014 thửa số 1325, diện tích
8.027m², số BV 194438 cấp ngày 10/10/2011 tại ấp G, H, huyện T, tỉnh Long
An) từ Ngân hàng TMCP C2 Phòng G). Riêng đối với giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 01/10/1996 cho Nguyễn Thị
Lệ H2 thì ông C xác định giữ nhưng làm lạc mất đã làm đơn cớ mất. Đối với lô
nền 39 40 thì chưa được cấp giấy chờ quyết định của Tòa án.
[8] Xét về quan hệ hôn nhân, tài sản chung giữa ông La Văn C Nguyễn
Lệ H2 di sản thừa kế của H2:
[8.1] Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với nhận định của cấp thẩm:
Ông La Văn C Nguyễn Lệ H2 xác lập quan hệ hôn nhân thực tế từ năm 1979
(trước ngày 03/01/1987), xác nhận của UBND H vào ngày 22/11/2017 về
thời gian chung sống giữa ông C H2 từ năm 1979 (Bút lục 921) tại Công
văn số 490/CV ngày 14/9/2023 của UBND H về việc xác minh thu thập chứng
cứ xác định: “Từ năm 1979 đến năm 2002 ông C H2 sống công khai tại ấp G,
H, huyện T, tỉnh Long An”. Căn cứ Nghị quyết 35/2000/QH10 Thông tư liên
tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, đây hôn nhân hợp pháp.
[8.2] Do Hôn nhân giữa ông La Văn C Nguyễn Lệ H2 hôn nhân hợp
pháp. Khối i sản tranh chấp được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân tài sản chung
của vợ chồng, bao gồm phần diện tích đất 51.556m
2
gồm các thửa: 69, 71, 73, 75,
123, 125, 178, 181, 28B, 66, 117 tờ bản đồ số 06 tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện T,
tỉnh Long An do Nguyễn Lệ H2 đứng tên giấy chứng nhận quyền s dụng đất
được cấp vào năm 1996; Phần diện tích đất 8.020m
2
thuộc thửa 677 tờ bản đồ số
06 tọa lạc tại ấp G, H, huyện T, tỉnh Long An do Nguyễn Lệ H2 ông La
Văn C đứng tên giấy chứng nhận quyền s dụng đất được cấp giấy vào năm 2014;
Phần diện tích đất 8.027m
2
thuộc thửa 1325 t bản đồ số 06 tọa lạc tại ấp G, H,
huyện T, tỉnh Long An do Nguyễn Lệ H2 ông La Văn C đứng tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất được cấp giấy vào năm 2011; Phần diện tích đất 400m
2
thuộc thửa 39, 40 (vị trí số 24, 25) (thuộc tuyến dân vượt ấp G) theo các
quyết định về việc giao nền nhà trên tuyết dân vượt kênh Quận nối dài H,
20
huyện T (Bút lục I, 923) cần xác định tài sản chung của ông C H2 mặc
các bên tranh chấp về việc ai người nộp tiền, nhưng hồ thể hiện quyền thụ
thưởng thuộc v H2 tài sản của bà H2 ông C trong thời kỳ n nhân. Tòa
sơ thẩm nhận định và buộc ông C phải trả lại phần chênh lệch lô nền là
608.400.000 đồng, đồng thời buộc ông C chia tiếp 1/3 giá trị 02 nền tài sản
trên đất (tương đương 588.121.566 đồng) cho bị đơn hoàn toàn không căn cứ
pháp không hợp lý. Ông C đồng ý tr lại tiền nợ nền cho Nhà nước (Ngân
hàng C), phần n này đã được bị đơn đưa vào yêu cầu phản tố. Tất cả diện tích các
thửa đất theo kết quả đo đạc thực tế tại Mảnh trích đo địa chính số 27, 28, 29, 30
năm 2019 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện T duyệt vào ngày
31/5/2019, tổng diện tích đất đo đạc thực tế 65.981m². Sau khi trừ đi 877
thuộc một phần thửa 117 do ông Nguyễn Văn D1 đang sử dụng (các bên thống
nhất không yêu cầu giải quyết), diện tích tài sản chung thực tế 65.104 (Trong
đó, diện tích đất lúa 60.258m
2
, BHK 3.258m
2
, ONT 1.588m
2
) Nhà ở, Nhà tắm,
cửa cổng, ng rào mặt trước hàng rào mặt bên, toàn b cây trồng trên thửa đất
39, tổng giá trị 8.705.312.700 đồng. Tuy nhiên, Bản án thẩm xác định tổng
diện tích đất tài sản chung của ông C bà H2 64.704 m
2
chưa chính xác làm
ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự được hưởng. Nay, H2 đã chết (năm
2016) ông C yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng đối với các thửa đất, công trình
cây trồng nêu trên sở. Do đó, căn cứ Điều 33, 66 Luật n nhân gia
đình 2014, ½ diện tích đất trong khối tài sản chung giữa ông C H2
65.104/2 = 32.552m
2
tài sản của ông C được sở hữu, tương đương giá trị đất
công trình, cây trồng trên đất tài sản ông C được sở hữu 8.705.312.700
đồng/2= 4.352.656.350 đồng. Phần 1/2 còn lại di sản thừa kế của H2
4.352.656.350 đồng. Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An (Nay Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu
vực 2 Tây Ninh) lập luận của Luật của nguyên đơn về vấn đề này là căn
cứ. Di sản thừa kế của H2 để lại trị giá 4.352.656.350 đồng.
[9] Đối với yêu cầu phân chia di sản thừa kế của H2 của nguyên đơn ông
La Văn C, Hội đồng xét xử xét thấy: H2 chết năm 2016 không để lại di chúc.
Theo quy định tại Điều 651 của Bộ luật Dân sự thì hàng thừa kế thứ nhất của
H2 gồm 02 người: ông La Văn C (chồng của H2) ông Nguyễn Văn D (con
riêng của H2). Tòa án cấp thẩm đã tự ý chia di sản của H2 thành 03 kỷ
phần (ông C 01 kỷ phần, ông D 01 kỷ phần và 01 k phần giao cho ông D lo việc
thờ cúng) không đúng với quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015, vì di sản
21
dùng vào việc thờ ng chỉ được lập khi di chúc của người để lại di sản lập.
H2 không để lại di chúc; Trong vụ án này, ông C ông D cũng không thỏa
thuận trích kỷ phần thờ cúng để cho ông D được hưởng. Căn cứ Điều 651 Bộ
luật Dân sự 2015, di sản của H2 phải được chia đều làm 02 phần. Mỗi người
(ông C, ông D) được hưởng giá trị là: 4.352.656.350 đồng/2= 2.176.328.175 đồng.
Như vậy:
- Tổng quyền lợi của ông La Văn C: 4.352.656.350 đồng (tài sản riêng) +
2.176.328.175 đồng (nhận thừa kế) = 6.528.984.525 đồng (Tương đương 3/4 tổng
tài sản).
- Tổng quyền lợi của ông Nguyễn Văn D: 2.176.328.175 đồng (Tương đương
1/4 tổng tài sản).
[10] Đối với yêu cầu nhận hiện vật thanh toán giá trị chênh lệch: Tại phiên
tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất sự phân chia
bằng hiện vật của Tòa án cấp thẩm. Tuy nhiên, đại diện của nguyên đơn ý
kiến muốn nhận toàn bộ hiện vật sẽ hoàn lại giá trị đất, công trình cây
trồng trên đất cho ông D tương ứng với giá trị kỷ phần ông D được ởng thừa kế
từ H2. Yêu cầu y của ông C không căn cứ để chấp nhận bị đơn cũng
không đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất, quá trình
canh tác hiện trạng trú quyết định phân chia hiện vật như sau:
[10.1] Giao cho ông La Văn C quản lý, sử dụng các thửa đất: Thửa 126 (nhập
từ các thửa 123, 125, 178, 181) (2.708.524.000 đồng), thửa 677 (786.058.000
đồng), thửa 1325 (786.646.000 đồng), các thửa đất này vị trí liền kề, tạo
thành khu vực canh tác tập trung; 02 nền 39, 40 (trị giá 594.400.000 đồng);
cùng Nhà ở, Nhà tắm, cửa cổng, hàng rào mặt trước hàng rào mặt bên, toàn bộ
cây trồng trên đất (547.564.700 đồng), ông C đang sinh sống trên hai nền này
một căn nhà cấp 4 nguyện vọng của ông C được tiếp tục sử dụng hai nền và
căn nhà cấp 4, cây trồng thối lại chênh lệch giá trị cho ông D theo thừa kế
ông D, hiện nay ông D đã có chổ ổn định nên yêu cầu của ông C hợp như nhận
định của cấp thẩm phù hợp. Tổng giá trị hiện vật ông C nhận là:
5.432.192.700 đồng. So với tổng quyền lợi được hưởng (6.528.984.525 đồng), ông
C còn nhận thiếu giá trị tài sản là: 6.528.984.525 đồng 5.432.192.700 đồng =
1.105.791.825 đồng.
[10.2] Giao cho ông Nguyễn Văn D quản lý, sử dụng các thửa đất: Thửa 28B
(425.088.000 đồng), 69 (797.580.000 đồng), 71 (289.008.000 đồng), 73
22
(62.856.000 đồng), 66 (567.108.000 đồng), 117 (1.140.480.000 đồng), ông D
đang sinh sống trực tiếp các thửa đều liền kề với nhau nên việc quản sử dụng
sẽ thuận tiện hơn. Tổng giá trị hiện vật ông D nhận là: 3.282.120.000 đồng. So với
quyền lợi thừa kế được hưởng (2.176.328.175 đồng), ông D đã nhận thừa giá trị tài
sản là: 3.282.120.000 đồng - 2.176.328.175 đồng = 1.105.791.825 đồng.
[10.3] Như vậy, để đảm bảo công bằng, ông Nguyễn Văn D trách nhiệm
hoàn trả (thối lại) cho ông La Văn C số tiền chênh lệch về giá trị di sản được chia
1.105.791.825 đồng. Do đó, kháng cáo của ông C, Luật bảo vệ quyền lợi cho
ông C kháng nghị của Viện kiểm sát về vấn đề này được chấp nhận toàn bộ.
[11] Xét v cách nhận di sản của bà Nguyễn Thị Đ, Hội đồng xét x nhận
thấy: Tại Quyết định của bản án thẩm (M), Tòa án cấp thẩm giao cho ông
Nguyễn Văn D Nguyễn Thị Đ được quyền tiếp tục s dụng di sản thừa kế.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, Đ con dâu, không thuộc hàng thừa kế
thứ nhất của H2. Việc bản án sơ thẩm tuyên cho Đ cùng được nhận di sản
thừa kế chung với ông D trái pháp luật thừa kế. Do đó, cần sửa lại bản án
thẩm về cách tuyên án. Kháng nghị của Viện kiểm sát căn cứ nên chấp nhận.
[12] Trong vụ án này, nguyên đơn khởi kiện với nhiều quan hệ tranh chấp
bị đơn yêu cầu phản tố với nhiều quan hệ tranh chấp. Trong đó tranh chấp về
tiền cấp dưỡng theo yêu cầu của bị đơn, Tòa án cấp thẩm chỉ căn cứ chấp
nhận một phần đối với số tiền 20.000.000 đồng không chấp nhận số tiền
40.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
đề nghị không khấu trừ nghĩa vụ của các bên trong từng quan hệ tranh chấp cần
tách biệt ra từng quan h tranh chấp. Do đó, cần phải tách biệt nghĩa vụ của các
bên trong từng quan hệ tranh chấp mới đảm bảo đúng quy định tránh gây thất
thoát ngân sách nhà nước trong việc buộc đương sự thực hiện nghĩa vụ chịu án phí
nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử phúc
thẩm sửa lại toàn bộ cách tuyên án của bản án thẩm đối với từng quan hệ pháp
luật tranh chấp theo yêu cầu khởi kiện, phản tố của các đương sự cho phù hợp với
kết quả giải quyết của Tòa án.
[13] Xét lời đề ngh của Luật bảo vệ quyền lợi ích của bị đơn là không
căn cứ nên không được chấp nhận.
[14] Xét lời đề nghị của Luật bảo vệ quyền và lợi ích của nguyên đơn
căn cứ nên được chấp nhận.
23
[15] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát căn cứ nên được chấp
nhận.
[16] Từ những phân tích nêu trên, nguyên đơn kháng cáo một phần bản án
thẩm căn cứ nên được chấp nhận, cần sửa một phần bản án thẩm.
[17] Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ định g tại cấp thẩm
chi phí giám định chữ ký: Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định không phù hợp. Đồng
thời, do sửa bản án thẩm chi phí tố tụng được tính lại như sau:
[17.1] Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ định giá tại cấp thẩm
bao gồm: Chi phí đo đạc 27.460.000 đồng; chi phí xem xét thẩm định ngày 24-04-
2019 1.450.000 đồng; chi p xem t thẩm định ngày 12-08-2019 là 1.650.000
đồng; chi phí xem xét thẩm định ngày 17-01-2019 1.350.000 đồng; chi phí xem
xét thẩm định ngày 05-03-2019 600.000 đồng; Chi p định giá Công ty TNHH
T5 19.000.000 đồng; Tổng cộng 32.510.000 đồng. Ông C ông D mỗi người
phải chịu tương ứng với tài sản mình được chi theo quy định tại Điều 157, 165 của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ thể: Ông C phải chịu ¾ x 32.510.000 đồng =
24.382.500 đồng, đã chi nộp xong; Ông D phải chịu ¼ x 32.510.000 đồng =
8.127.500 đồng. Do ông C đã nộp tạm ứng nên buộc ông D phải hoàn trả lại cho
ông C 8.127.500 đồng
[17.3] Chi phí định giá lại lần 2 tại cấp sơ thẩm 29.000.000 đồng: Ông C
ông D mỗi người phải chịu tương ứng với tài sản mình được chi theo quy định tại
Điều 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ thể: Ông C phải chịu ¾ x
29.000.000 đồng = 21.750.000 đồng; Ông D phải chịu ¼ x 29.000.000 đồng =
7.250.000 đồng, đã chi nộp xong. Do ông D đã nộp tạm ứng nên buộc ông C
phải trả lại cho ông D 21.750.000 đồng.
[17.4] Đối Chi phí giám định chữ 9.000.000 đồng: Do yêu cầu khởi kiện
của ông D đối với yêu cầu ông C trả số nợ Nguyễn Lệ H2 vay của ông Nguyễn
Văn V1 do ông D, bà Đ trả nợ thay không được chấp nhận nên ông D Đ phải
chịu chi phí giám định này theo quy định tại Điều 161 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do ông C đã nộp tạm ứng nên ông D Đ trách nhiệm hoàn trả lại cho ông
C số tiền 9.000.000 đồng.
[18] Về chi phí tố tụng (định giá lại xem xét thẩm định tại chỗ lại) cấp
phúc thẩm: gồm chi phí định giá lại 25.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ, thuê xe 2.400.000 đồng. Tổng cộng là 27.400.000 đồng. Ông C
ông D mỗi người phải chịu tương ứng với tài sản mình được chi theo quy định tại
24
Điều 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ thể: Ông C phải chịu ¾ x
27.400.000 đồng = 20.550.000 đồng đã chi nộp xong; Ông D phải chịu ¼ x
27.400.000 đồng = 6.850.000 đồng. Do ông C đã nộp tạm ứng nên ông D nghĩa
vụ trả lại cho ông C số tiền 6.850.000 đồng.
[19] Về án phí dân sự thẩm: Do sửa bản án thẩm nên án phí được tính
lại như sau:
[19.1] Ông La Văn C phải chịu án phí dân sự giá ngạch tính trên g trị tài
sản được hưởng 6.528.984.525 đồng, tính trên yêu cầu chi kỷ phần tiền sang lắp
nền n tiền mua vật không được chấp nhận 236.484.000 đồng, tính trên
số tiền trả nợ Ngân hàng TMCP C2 Phòng giao dịch huyện T, Ngân hàng C
phòng giao dịch huyện T, Quỹ tín dụng nhân dân xã H theo yêu cầu của ông D,
Đ được chấp nhận 153.168.000 đồng, tính trên số tiền cấp dưỡng theo yêu cầu
của ông D, Đ được chấp nhận 20.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông C thuộc
trường hợp người cao tuổi đơn xin miễn nên ông C được miễn nộp án phí
dân sự thẩm theo quy định của pháp luật.
[19.2] Ông Nguyễn Văn D phải chịu án phí dân sự giá ngạch tính trên g
trị tài sản được hưởng 2.176.328.175 đồng 75.526.564 đồng nộp vào ngân
sách nhà nước
[19.3] Ông Nguyễn Văn D bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí dân sự
không giá ngạch tính trên yêu cầu công nhận 51.556m
2
tài sản của H2 cho
ông D không được chấp nhận 300.000 đồng phải chịu án phí dân sự giá
ngạch tính trên số tiền yêu cầu không đươc chấp nhận gồm: Tiền yêu cầu cấp
dưỡng 40.000.000 đồng; các khoản tiền nợ hụi, nợ vật nông nghiệp, nợ vay
nhân của Nguyễn Lệ H2 với tổng số tiền 921.000.000 đồng; các khoản nợ
gồm: Ngân hàng TMCP C2 phòng giao dịch huyện T; Ngân hàng C; Quỹ tín
dụng H với số tiền 76.584.000 đồng; Đồng thời, ông Nguyễn Văn D và
Nguyễn Thị Đ phải chịu s tiền án phí tính trên số tiền mất thu nhập trên phần diện
tích ông C được chia theo yêu cầu của ông C được chấp nhận 608.648.960
đồng và số tiền chênh lệch về giá trị di sản được chia 1.105.791.825 đồng. Như
vậy, tổng số tiền án phí dân sự giá ngạch tính trên số tiền 2.752.024.785 đồng
ông D Đ phải chịu 87.040.496 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền
tạm ứng án phí ông D Đ đã nộp lần lượt 2.049.739 đồng, 300.000 đồng
26.595.000 đồng lần lượt theo các Biên lai thu tạm ứng án phí l phí, a án số
0004115 ngày 24/12/2021, số 0001875 ngày 22/8/2023 và s 0001432 ngày
25
11/3/2021 cùng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An
(Nay Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 Tây Ninh). Số tiền án p thẩm
ông D Đ phải nộp tiến (300.000 đồng + 87.040.496 đồng) (2.049.739
đồng + 300.000 đồng + 26.595.000 đồng) = 58.395.757 đồng.
[20] Về án phí dân sự phúc thẩm:
[20.1] Do bị đơn ông D Đ rút đơn kháng cáo nên ông D Đ mỗi
người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng theo quy định của pháp
luật được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự ông D Đ đã nộp.
[20.2] Do yêu cầu kháng cáo của ông C được chấp nhận nên ông C không
phải chịu án p dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông C
thuộc trường hợp người cao tuổi đơn xin miễn nên ông C được miễn nộp tạm
ứng án phí dân sự phúc thẩm nên không hoàn trả cho ông C tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm đã nộp.
[21] Các phần khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm thì hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
[22] Về yêu cầu của ông Nguyễn Văn D1 đối với phần diện tích 877 thuộc
thửa 117, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại giai đoạn phúc thẩm, ngày 23/04/2026,
ông Nguyễn Văn D1 "Đơn đề nghị xem xét" gửi Tòa án nhân dân cấp phúc
thẩm, trình bày việc ông D1 công sức đóng góp mua cùng chị ruột (bà H2)
đã trực tiếp quản lý, cất nhà n định trên diện tích 877 (thuộc một phần thửa
117, t bản đồ số 6) t năm 1980 đến nay. Ông D1 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm
công nhận phần đất này cho ông tuyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Tại hồ giải quyết vụ án thẩm, các
đương sự là nguyên đơn (ông C) b đơn (ông D, bà Đ) đều xác nhận phần diện
tích 877 thuộc thửa 117 hiện do ông D1 đang trực tiếp sử dụng các bên
thống nhất không yêu cầu Tòa án chia thừa kế đối với phần diện tích này. Bản thân
ông D1 tại quá trình lấy lời khai cấp sơ thẩm cũng đã trình bày mong muốn tự
thỏa thuận thương lượng với ông D, Đ để làm thủ tục công nhận quyền sử dụng
đất làm đơn xin vắng mặt trong toàn bộ q trình giải quyết vụ án. Do đó, Bản
án thẩm không xem xét giải quyết phần diện tích 877 này sở, tôn
trọng quyền t định đoạt của đương sự. Do ông D1 không yêu cầu khởi kiện
độc lập tại Tòa án cấp thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét yêu
cầu của ông D1 trong cùng vụ án này. Mặc không được xem xét trong phạm vi
26
vụ án phúc thẩm này, quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn D1 đối với
877 đất tại thửa 117 vẫn được pháp luật bảo vệ. Ông D1 tiếp tục việc thương
lượng, thỏa thuận với ông Nguyễn Văn D (người được giao quản phần di sản
thừa kế tại thửa 117 theo bản án này) để thực hiện thủ tục tách thửa, đăng biến
động. Trong trường hợp các bên không thể tự thỏa thuận, ông Nguyễn Văn D1
quyền khởi kiện thành một vụ án dân sự độc lập khác để yêu cầu Tòa án giải quyết
theo quy định của pháp luật.
các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 289, khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông
Nguyễn Văn D Nguyễn Thị Đầm .
Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 28/QĐ-VKS-DS ngày
09/5/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long
An (Nay Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 Tây Ninh).
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông La Văn C.
Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 32/2025/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm
2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An (Nay Tòa án nhân
dân khu vực 2 - Tây Ninh).
Căn cứ vào Điều 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 317, 319,
463, 466, 468, khoản 2 Điều 357, 645, 649, 651 Bộ luật Dân; Điều 33, 66 Luật Hôn
nhân gia đình 2014ự; Điều 91, 95, 98 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông La Văn C về việc “Tranh chấp tài sản
chung chia thừa kế tài sản” đối với ông Nguyễn Văn D.
1.1 Xác định tổng diện tích tài sản chung của ông La Văn C Nguyễn Lệ
H2 65.104 m
2
.
27
1.1 Ông La Văn C được sở hữu 1/2 tài sản chung là 32.552 m
2
được hưởng
1/2 di sản thừa kế của Nguyễn Lệ H2 là 16.176 m
2
. Tổng diện tích ông La Văn
C được quyền sử dụng 48.728 m
2
.
1.2 Giao cho ông La Văn C được quyền tiếp tục quản , sử dụng các thửa đất
tài sản sau đây (thuộc Tờ bản đồ số 6 6-1 tọa lạc tại ấp G, H, huyện T,
tỉnh Long An (Nay H, tỉnh Tây Ninh):
- Quyền s dụng đất tại các thửa: Thửa đất s 126 (nhập từ các thửa đất là
123, 125, 178, 181) diện tích 27.638 m²; Thửa đất s 677 diện tích 8.021 ; Thửa
đất 1325 diện tích 8.027 (Loại đất LUC).
- Quyền sử dụng đất tại 02 nền Thửa 39 40 (tổng diện tích 400 m², đất
ONT) cùng toàn bộ công trình kiến trúc (nhà ở, nhà tắm, hàng rào, cửa cổng)
cây trồng gắn liền trên đất.
(Tổng giá trị tài sản ông La Văn C được nhận bằng hiện vật 5.432.192.700
đồng).
1.3 Ông Nguyễn Văn D được hưởng 1/2 di sản thừa kế của Nguyễn Lệ H2,
tương đương 16.176m2. Không chấp nhận cách nhận thừa kế của bà Nguyễn
Thị Đ đối với di sản của Nguyễn Lệ H2.
1.4. Giao cho ông Nguyễn Văn D được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng các
thửa đất sau đây (thuộc Tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Long
An (Nay H, tỉnh Tây Ninh): Quyền sử dụng đất tại các thửa: Thửa đất s 28B
diện tích 3.936 m²; Thửa đất số 69 diện tích 7.385 m²; Thửa đất s 71 diện tích
2.676 m²; Thửa đất số 73 diện tích 582 m²; Thửa đất số 66 diện ch 5.251 m²;
Thửa đất số 117 diện tích 1.188 m².
(Tổng giá trị tài sản ông Nguyễn Văn D được nhận bằng hiện vật là
3.282.120.000 đồng).
1.5 Vị trí, diện tích, tứ cận các thửa đất nêu trên theo các Mảnh trích đo địa
chính số 27, 28, 29, 30 năm 2019 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại
huyện T duyệt vào ngày 31/5/2019.
1.6 Ông La Văn C ông Nguyễn Văn D quyền nghĩa vụ liên hệ với
quan nhà nước thẩm quyền để được điều chỉnh lại hoặc được cấp mới giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án. Văn phòng đăng đất
đai, quan tài nguyên môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án đ
giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
28
phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
1.7 Ông La Văn C nghĩa vụ giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho Nguyễn Lệ H2 vào ngày
01/10/1996, số vào sổ 308/QSDĐ.
1.8 Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án quyền yêu cầu quan nhà
nước thẩm quyền điểu chỉnh, thu hồi hoặc hủy giấy chứng nhận quyền s dụng
đất đã cấp để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết qu giải
quyết của Tòa án.
1.9 Về nghĩa vụ thanh toán chênh lệch v giá trị di sản được chia: Buộc ông
Nguyễn Văn D nghĩa vụ thanh toán chênh lệch v giá trị di sản được chia cho
ông La Văn C 1.105.791.825 đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông La Văn C đối với ông Nguyễn Văn D,
Nguyễn Thị Đ về việc tranh chấp tiền mất thu nhập tính trên phần diện tích
ông La Văn C được chia.
Buộc ông Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm liên đới trả lại
tiền mất thu nhập trên phần diện tích ông C được với số tiền 608.648.960 đồng.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông La Văn C v việc yêu cầu chia
theo kỷ phần tiền sang lấp nền nhà ông C, H2 thuê kobe chở năm 2011,
2012 hiện nay ông D, Đ đang với số tiền 107.000.000 đồng yêu cầu chia
theo kỷ phần số tiền ông C, H2 đã mua vật cất nhà cho ông D, Đ tại cửa
hàng V3 với số tiền 208.312.000 đồng. Tổng cộng số tiền chở đất lắp nền nhà và
vật xây dựng ông D, Đ hiện nay 315.312.000 đồng. Sau khi chia theo
kỷ phần thì ông C được số tiền 236.484.000 đồng.
4. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn D,
Nguyễn Thị Đ v việc yêu cầu công nhận 51.556 gồm các thửa: 69, 71, 73, 75,
123, 125, 178, 181, 28B, 66, 117 tờ bản đồ số 06 tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện T,
tỉnh Long An do Nguyễn Lệ H2 đứng tên giấy CNQSD đất được UBND huyện
cấp ngày 01/10/1996 tài sản ông Nguyễn Văn D được Nguyễn Lệ H2 tặng
cho.
5. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn D
Nguyễn Thị Đ về việc yêu cầu ông La Văn C thanh toán các khoản tiền nợ hụi, nợ
vật nông nghiệp, nợ vay nhân của Nguyễn Lệ H2 với tổng số tiền
921.000.000 đồng
29
6. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn D Nguyễn
Thị Đ về việc yêu cầu ông La Văn C trả lại c khoản nợ gồm: Ngân hàng TMCP
C2 Phòng giao dịch huyện T; Ngân hàng C Phòng giao dịch huyện T; Quỹ tín
dụng H.
Buộc ông La Văn C nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn D Nguyễn
Thị Đ số tiền 153.168.000 đồng.
7. Không Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn n D
Nguyễn Thị Đ về việc yêu cầu ông La Văn C trả lại các khoản nợ gồm: Ngân hàng
TMCP C2 Phòng giao dịch huyện T; Ngân hàng C Phòng giao dịch huyện T;
Quỹ tín dụng H với số tiền 76.584.000 đồng.
8. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn D Nguyễn
Thị Đ về việc yêu cầu ông La Văn C trả lại tiền cấp dưỡng 20.000.000 đồng.
Buộc ông La Văn C nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn D Nguyễn
Thị Đ số tiền cấp dưỡng 20.000.000 đồng.
9. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn D
Nguyễn Thị Đ về việc yêu cầu ông La Văn C trả lại tiền cấp dưỡng 40.000.000
đồng
10. Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ định giá tại cấp thẩm
chi phí giám định chữ ký:
10.1 Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ định giá tại cấp thẩm
bao gồm: Chi phí đo đạc 27.460.000 đồng; chi phí xem xét thẩm định ngày 24-04-
2019 1.450.000 đồng; chi p xem t thẩm định ngày 12-08-2019 là 1.650.000
đồng; chi phí xem xét thẩm định ngày 17-01-2019 1.350.000 đồng; chi phí xem
xét thẩm định ngày 05-03-2019 600.000 đồng; Chi p định giá Công ty TNHH
T5 19.000.000 đồng; Tổng cộng 32.510.000 đồng. Ông C ông D mỗi người
phải chịu tương ứng với tài sản mình được chi theo quy định tại Điều 157, 165 của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ thể: Ông C phải chịu ¾ x 32.510.000 đồng =
24.382.500 đồng, đã chi nộp xong; Ông D phải chịu ¼ x 32.510.000 đồng =
8.127.500 đồng. Do ông C đã nộp tạm ứng nên buộc ông D phải hoàn trả lại cho
ông C 8.127.500 đồng
10.2 Về chi phí định giá lại lần 2 tại cấp thẩm 29.000.000 đồng: Ông C
ông D mỗi người phải chịu tương ứng với tài sản mình được chi theo quy định
tại Điều 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ thể: Ông C phải chịu ¾ x
30
29.000.000 đồng = 21.750.000 đồng; Ông D phải chịu ¼ x 29.000.000 đồng =
7.250.000 đồng, đã chi nộp xong. Do ông D đã nộp tạm ứng nên buộc ông C
phải trả lại cho ông D 21.750.000 đồng.
10.3 Đối Chi p giám định chữ ký 9.000.000 đồng: Do yêu cầu khởi kiện của
ông D đối với yêu cầu ông C trả số nợ Nguyễn Lệ H2 vay của ông Nguyễn Văn
V1 do ông D, Đ trả nợ thay không được chấp nhận nên ông D Đ phải chịu
chi phí giám định này theo quy định tại Điều 161 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do
ông C đã nộp tạm ứng nên ông D Đ trách nhiệm hoàn trả lại cho ông C số
tiền 9.000.000 đồng.
11. Về chi phí tố tụng (định giá lại xem xét thẩm định tại chỗ lại) cấp
phúc thẩm: gồm chi phí định giá lại 25.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ, thuê xe 2.400.000 đồng. Tổng cộng là 27.400.000 đồng. Ông C
ông D mỗi người phải chịu tương ứng với tài sản mình được chi theo quy định tại
Điều 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ thể: Ông C phải chịu ¾ x
27.400.000 đồng = 20.550.000 đồng đã chi nộp xong; Ông D phải chịu ¼ x
27.400.000 đồng = 6.850.000 đồng. Do ông C đã nộp tạm ứng nên ông D nghĩa
vụ trả lại cho ông C số tiền 6.850.000 đồng.
12. Về án phí dân sự thẩm:
12.1 Ông La Văn C được miễn nộp án phí dân sự thẩm.
12.2 Ông Nguyễn Văn D phải chịu án p dân s có g ngạch tính trên giá trị
tài sản được hưởng 2.176.328.175 đồng 75.526.564 đồng nộp vào ngân sách
nhà nước
12.3 Ông Nguyễn Văn D Nguyễn Th Đ phải chịu án phí dân sự không
giá ngạch là 300.000 đồng phải chịu án phí dân sự có giá ngạch
87.040.496 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông D
Đ đã nộp lần lượt 2.049.739 đồng, 300.000 đồng 26.595.000 đồng lần lượt
theo các Biên lai thu tạm ng án phí lệ phí, Tòa án số 0004115 ngày 24/12/2021,
số 0001875 ngày 22/8/2023 số 0001432 ngày 11/3/2021 cùng của Chi cục thi
hành án dân sự huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An (Nay Phòng thi hành án dân sự
khu vực 2 Tây Ninh). Ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị Đ phải nộp tiếp số
tiền án phí dân sự thẩm 58.395.757 đồng.
13. Về án phí dân sự phúc thẩm:
31
13.1 Ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị Đ mỗi người phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm ông Nguyễn Văn D Nguyễn Thị Đ mỗi người đã nộp
300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003941
0003942 ngày 07/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh, tỉnh
Long An(Nay Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 Tây Ninh). Ông Nguyễn
Văn D Nguyễn Thị Đ mỗi người đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
13.2 Ông La Văn C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông
La Văn C thuộc trường hợp người cao tuổi đơn xin miễn nên ông La Văn C
được miễn nộp tạm ứng án p dân sự phúc thẩm nên không hoàn trả cho ông La
Văn C tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
14. Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định hiệu lực
pháp luật hoặc kể t ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án
cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền n phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
15. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người
phải thi hành án quyền thoả thuận thi nh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,
7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
16. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 2 –Tây Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu HS; AV.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Tiền Phương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 746/2026/DS-PT Bản án số 746/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 746/2026/DS-PT Bản án số 746/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất