Bản án số 76/2025/DS-ST ngày 18/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 76/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 76/2025/DS-ST ngày 18/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 17 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 76/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 76/2025/DS-ST Bản án số 76/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 76/2025/DS-ST Bản án số 76/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 76/2025/DS-ST
Ngày: 18-9-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VC 17 - THÀNH PH H CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thảo
Bà Huỳnh Anh Thư.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Trường - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17
- Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ
Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 25/2025/TLST-DS ngày 07
tháng 7 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”,
theo Quyết định đưa ván ra xét xử số: 73/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm
2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 56/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2025,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Ngọc V, sinh năm 1977; Số CCCD: ************; nơi
cư trú: Số E, khu phố B, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hoàng T, sinh năm 1996; Số
CCCD: ************; nơi trú: Khu phố G, phường M, tỉnh Đồng Tháp, người
đại diện theo uỷ quyền. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1950 Hồ Thị G, sinh năm 1957;
nơi cư trú: Khu phố D, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt lần thứ 2 không
lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn
trình bày:
Vào ngày 28/10/2021, ông Trần Ngọc V (Nguyên đơn) với vợ chồng ông Nguyễn
Văn T1 Hồ Thị G (Bị đơn) có kết Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, theo đó bên nhận cọc (bên chuyển nhượng) ông Nguyễn Văn T1
và bà Hồ Thị G, bên đặt cọc (bên nhận chuyển nhượng) là ông Trần Ngọc V. Mục đích
của việc kết Hợp đồng đặt cọc này nhằm đảm bảo cho việc thực hiện chuyển nhượng
phần đất diện tích là 100m
2
(quy cách ngang 5 mét, dài 20 mét), tại khu phố D,
phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, thành phố Hồ Chí Minh).
Hợp đồng đặt cọc quy định giá chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất 400.000.000
đồng, nguyên đơn đặt cọc trước số tiền là 39.000.000 đồng, bà G đã xác nhận việc này,
ký, ghi rõ họ tên và điểm chỉ trên Hợp đồng đặt cọc. Hẹn đến ngày 12/11/2021, nguyên
đơn sẽ thanh toán số tiền còn lại 361.000.000 đồng, đồng thời vợ chồng bị đơn sẽ tiến
hành ra văn phòng công chứng làm thủ tục chuyển nhượng phần đất trên cho nguyên
đơn. Tuy nhiên, phía vợ chồng bị đơn nói đang cần tiền gấp, một phần do nguyên đơn
tin tưởng, muốn nhanh chóng mua phần đất trên cũng đã có đủ tiền nên o ngày
11/11/2021, nguyên đơn đã thanh toán số tiền còn lại 361.000.000 đồng cho vợ chồng
bị đơn. Để đảm bảo việc giao số tiền này, giữa nguyên đơn bị đơn đã kết Hợp
đồng chuyển nhượng đất với nhau. Trong hợp đồng chuyển nhượng này, phía bị đơn
cũng xác định đã nhận toàn bộ số tiền 400.000.000 đồng từ phía nguyên đơn.
Tuy nhiên, sau đó bđơn đã không thực hiện đúng như những gì đã cam kết, không
ra Văn phòng công chứng làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất trên cho nguyên đơn.
Nguyên đơn nhiều lần liên hệ nhưng bị đơn không giải quyết, lấy nhiều lý do để kéo dài
thời gian, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của mình.
Trên thực tế phần đất bị đơn cam kết chuyển nhượng cho nguyên đơn hiện vẫn
chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn, bị đơn cam kết đây
đất do ông để lại, đang tiến hành chia thừa kế nhưng do sổ đỏ bị thất lạc nên hiện
chưa có sổ đỏ cho nguyên đơn xem. Sau khi nguyên đơn tìm hiểu tbiết được phần đất
nhận chuyển nhượng là đất nông nghiệp, hiện đang nằm trong khu quy hoạch của N
nước không đủ điều kiện để tách thửa, sang tên.
Quá trình giải quyết vụ án, sau khi được tiếp cận được với Hồ cung cấp thông
tin đối với thửa đất tranh chấp tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Nay
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) thì nguyên đơn mới biết được các thửa đất 14, 15,
36, tờ bản đồ số 14 mà nguyên đơn nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Đ. Nhận thấy bị đơn đã có hành vi gian dối, cung
cấp sai thông tin về thửa đất, họ không phải là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất, việc
ký kết hợp đồng chuyển nhượng đã vi phạm điều cấm của pháp luật. Hành vi này đã vi
phạm thỏa thuận giữa các bên, vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng đến quyền lợi
ích hợp pháp của nguyên đơn khi tham gia giao dịch này.
Do đó, để bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của mình. Nguyên đơn khởi kiện
yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề sau;
3
+ Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phần đất có diện tích 100m
2
(quy cách ngang 5 mét, dài 20 mét), tại Khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bình
Dương (Nay khu phố D, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) được kết giữa ông
Trần Ngọc V và bà Hồ Thị G vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật.
- Buộc bà Hồ Thị G liên đới với ông Nguyễn Văn T1 trả lại cho ông Trần Ngọc V
số tiền 400.000.000 đồng (Tiền nhận chuyển nhượng) và lãi tạm tính đến ngày
11/11/2025 là 159.360.000 đồng. Tổng cộng 559.360.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn bà Hồ
Thị G ông Nguyễn Văn T1 đều vắng mặt không văn bản trình bày ý kiến đối
với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà:
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc
buộc ông Nguyễn Văn T1 phải liên đới trả tiền cùng với Hồ Thị G. Xác định Hồ
Thị G người trực tiếp hợp đồng chuyển nhượng nhận tiền nên chỉ yêu cầu
Hồ Thị G thực hiện nghĩa vụ trả lại tiền cho nguyên đơn. Rút một phần yêu cầu về việc
trả tiền lãi với số tiền tạm tính 159.360.000 đồng. Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện:
Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, phần đất diện tích 100m
2
, tại
khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bình ơng (Nay khu phố D, phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh) được ký kết giữa ông Trần Ngọc V Hồ Thị G hiệu
do vi phạm điều cấm của pháp luật; Buộc Hồ Thị G trả lại cho ông Trần Ngọc V số
tiền nhận chuyển nhượng 400.000.000 đồng. Đồng thời xác định nguyên nhân dẫn
đến hợp đồng hiệu lỗi của bị đơn, do đó yêu cầu bị đơn bồi thường số tiền tương
ứng với lãi suất ngân hàng với số tiền 152.720.000 đồng (Từ ngày 11/11/2021 đến ngày
11/9/2025, mức lãi suất 10%).
Vị đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử Tký Tòa án:
Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy
định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến
phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy
định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2
nhưng vắng mặt xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án
đã được công bố tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Đình chỉ 1 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông
Nguyễn Văn T1 liên đới trả tiền cho ông Trần Ngọc V.
4
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với bị đơn bà Hồ Thị G liên đới với ông Nguyễn
Văn T1: Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, phần đất diện tích
100m
2
, tại khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Nay khu phố D,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) được kết giữa ông Trần Ngọc V Hồ Thị
G hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật; Buộc Hồ Thị G trả lại cho ông Trần
Ngọc V số tiền đã nhận là 400.000.000 đồng và 50% thiệt hại phát sinh, tức 50% số tiền
lãi.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ đã được thẩm tra tại phiên
tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa
đất 14, 15, 36, tờ bản đồ 14 tại khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bình ơng
(Nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Bị đơn có nơi trú tại phường P, thành
phố T, tỉnh Bình Dương (Nay phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Do đó, căn cứ
vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây vụ án tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà
án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị đơn đã được Toà án
triệu tập hợp lệ để tham gia phiên toà, nhưng vẫn vắng mặt lần thứ 2 không do. Do
đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227
Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.3] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với ông Nguyễn
Văn T1. Xét thấy, việc rút một phần u cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện nên
được Hội đồng xét xử chấp nhận đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này theo khoản 2
Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: “Hợp đồng đặt cọc” ngày 28/10/2021
“Hợp đồng chuyển nhượng đất” không ghi ngày tháng giữa Hồ Thị G với ông
Trần Ngọc V, hai bên thỏa thuận chuyển nhượng phần đất có diện tích 100m
2
(quy cách
ngang 5 mét, dài 20 t), tại Khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Nay
khu phố D, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) thuộc thửa 14, 15, 36. Giá chuyển
nhượng 400.000.000 đồng. Tại thời điểm hai bên thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, phần đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu
5
nhà và tài sản gắn liền với đất cho Nguyễn Thị Đ. Do đó, bà HThị G không
quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 188 của Luật Đất đai
năm 2013. Do đó, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên vô hiệu do vi phạm
điều cấm của pháp luật theo quy định tại Điều 117, Điều 123 của Bộ luật Dân sự nên
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
Ngoài ra, “Hợp đồng chuyển nhượng đất” được lập bằng văn bản, tuy nhiên không
được công chứng hoặc chứng thực theo quy định tại Điều 167 của Luật Đất đai năm
2013, nên hiệu về mặt hình thức theo quy định tại Điều 119, Điều 129 của Bộ luật
Dân sự.
[2.2] Về hậu quả hợp đồng hiệu: Theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật n
sự thì giao dịch dân sự hiệu, không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Khi giao dịch dân sự
hiệu thì các bên khôi phục lại nh trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những đã nhận.
Tại phần ghi thêm của hợp đồng đặt cọc nội dung Hôm nay ngày 11-11-2021, Bên
B (Ông V) đã chồng đủ cho bên A (Bà G) số tiền tổng là 400.000.000 đồng”, đồng thời
Hợp đồng chuyển nhượng đất nội dung Bên bán đã nhận đstiền 400.000.000
đồng”. Do đó, căn cxác định bị đơn Hồ Thị G đã nhận của nguyên đơn stiền
400.000.000 đồng. Do đó, cần buộc Hồ Thị G phải trả lại cho nguyên đơn số tiền
400.000.000 đồng.
[2.3] Về lỗi dẫn đến hợp đồng hiệu: Xét thấy, tại thời điểm nhận chuyển nhượng
nguyên đơn không tìm hiểu kỹ tình trạng pháp của phần đất nhận chuyển nhượng,
không cần biết bị đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa
nhưng vẫn đồng ý kết hợp đồng. Do đó, nguyên đơn bị đơn đều lỗi tương đương
nhau làm cho hợp đồng vô hiệu nên mỗi bên chịu trách nhiệm ½ giá trị thiệt hại.
Trong vụ án, nguyên đơn không xác định được vị trí phần đất mình nhận chuyển
nhượng nên không yêu cầu đo đạc, định giá, chỉ yêu cầu bị đơn bồi thường số tiền ơng
đương với tiền lãi phát sinh từ số tiền đã nhận với mức lãi suất 10%/năm (0.83%/tháng)
phù hợp. Thiệt hại được xác định 400.000.000 đồng x 10% x 03 năm 10 tháng =
152.720.000 đồng, mỗi bên chịu 50% ơng đương 76.360.000 đồng. Như vậy, bị đơn
có trách nhiệm trả cho nguyên đơn tổng số tiền 400.000.000 đồng + 76.360.000 đồng =
476.360.000 đồng.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường số tiền 152.720.000 đồng (100% tiền lãi)
chỉ có căn cứ chấp nhận 1 phần.
[3] Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa căn cứ, phù hợp nên
chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng. Nguyên
đơn tự nguyên chịu và đã nộp đủ
[5] Về án phí dân sự thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
6
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
lệ phí Tòa án: Bị đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26, đim a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147;
Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân
sự;
- Điều 167; Điều168; Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013;
- Điều 117; Điều 123; Điều 129; Điều 131; Điều 468; Điều 502 của Bộ luật Dân
sự;
- Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định v mc thu, min, gim, thu, np, qun s dng án phí
l phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ mt phn yêu cu khi kin của nguyên đơn đối với ông Nguyễn Văn
T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
2. Chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn ông Trần Ngọc V đối với bị đơn
Hồ Thị G về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
- Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đối với phần đất có diện tích
100m
2
, thuộc thửa 14, 15, 36, tờ bản đồ số 14, tại khu phố D, phường T, thành phố T,
tỉnh Bình Dương (Nay khu phố D, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) được kết
giữa ông Trần Ngọc V và bà Hồ Thị G hiệu.
- Buộc bà Hồ Thị G có nghĩa vụ trả lại cho ông Trần Ngọc V số tiền 476.360.000
đồng (Bốn trăm bảy mươi sáu triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản
tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành
án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Không chấp nhận u cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc V về việc yêu cầu
Hồ Thị G bồi thường stiền tương đương 50% tiền lãi 76.360.000 đồng (Bảy mươi
sáu triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).
4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Bị đơn bà Hồ Thị G phải nộp lại để trả lại cho ông Trần Ngọc V.
7
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Hồ Thị G phải chịu số tiền 4.118.000 đồng (Bốn triệu một trăm mười tám nghìn
đồng).
Ông Trần Ngọc V phải chịu số tiền 3.818.000 đồng (Ba triệu tám trăm mười tám
nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền 13.487.200 đồng (Mười ba triệu bốn trăm m
mươi bảy nghìn hai trăm đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí a án
số 0002864 ngày 19/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên (Nay
Thi hành án dân sự Thành phố H). Hoàn trả lại cho ông Trần Ngọc V số tiền 9.669.200
đồng (Chín triệu sáu trăm sáu mươi chín nghìn hai trăm đồng).
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HI ĐNG XÉT X SƠ THM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
Đậu Th Loan
Nơi nhận:
- TAND Thành ph H Chí Minh;
- VKSND khu vc 17 - Thành ph H
Chí Minh;
- THADS Thành ph H Chí Minh;
- Đương sự;
- Lưu HS, AV.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 76/2025/DS-ST Bản án số 76/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 76/2025/DS-ST Bản án số 76/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất