Bản án số 72/2025/DS-ST ngày 28/04/2025 của TAND TX. Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 72/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 72/2025/DS-ST ngày 28/04/2025 của TAND TX. Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Điện Bàn (TAND tỉnh Quảng Nam)
Số hiệu: 72/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/04/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 280, 283, 370 và Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Tuyên xử
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XXA ĐIỆN BÀN
TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 72/2025/DS-ST
Ngày: 28-4-2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Thể.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Phi Long
2. Ông Nguyễn Lương Thành
- Thư phiên a: Ngô Như Quỳnh, Thư Tòa án nhân dân thị Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Nhật Nam Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam mở phiên toà xét xử thẩm ng khai vụ án dân sự thụ số:
441/2024/TLSTDS ngày 14/11/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 4 năm
2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Đoàn Thị B, sinh năm: 1974; Nơi ĐKHKTT: Phường C,
thành phố H, tỉnh Quảng Nam; Chỗ hiện nay: Thôn N, Đ, thị Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn V, sinh năm: 1996 và Phan Thị T, sinh năm: 1996;
Cùng địa chỉ: 52 đường số 3, thôn H, Đ, thị Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:Mai Thị L, sinh năm: 1973; trú tại:
Thôn H, xã Đ, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn - bà Đoàn Thị B trình bày: Vào năm 2022,Mai Thị L nợ bà
số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) L giao cho bà giữ giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo việc trả nợ. Sau đó, L ý định bán nhà cho
người khác nên bà yêu cầu cơ quan Nhà nước can thiệp để giải quyết số tiền bà L còn
nợ. Đthuận lợi cho việc L chuyển nhượng nhà, đất cho người khác thì vợ chồng
anh V, chị T (cháu gọi L bằng ruôt) đã đứng ra nhận trách nhiệm trả stiền
L n nợ 300.000.000 đồng vợ chồng chị T, anh V đã trả tiền mặt số tiền
100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng); số tiền còn lại 200.000.000 đồng vợ chồng
2
chị T, anh V viết giấy nhận nợ với nội dung: Vợ chồng tôi có mươn của chị Đoàn Thị
B stiền 200.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi tháng trả 3.000.000 đồng, thời gian trả
bắt đầu từ ngày 15/01/2024 cho đến khi trả xong số nợ trên. Nếu các tháng tiếp theo
không trả thì đồng ý xmột lần, nếu bán nhà được tđồng ý trả ngay một lần số
nợ trên. Tuy nhiên, sau khi viết giấy nhận nợ, vợ chồng anh V, chT trả được 04
tháng với tổng số tiền 12.000.000 đồng thì không tiếp tục trả nữa. Do vợ chồng anh
V, chị T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng
anh V, chị T phải nghĩa vụ trả cho bà số tiền còn nợ 188.000.000 đồng yêu
cầu tính lãi từ tháng 5/2024 đến nay với lãi suất 0,8%/tháng. Tổng số tiền B yêu
cầu vợ chồng anh V, chị T phải trả cho tính đến ngày 28/4/2025 204.544.000
đồng.
- Bị đơn chị T trình bày: Vợ chồng tôi và Mai Thị L mối quan hệ dì cháu
trong gia đình. Tôi thừa nhận vào ngày 04/12/2023, vợ chồng tôi viết giấy vay nợ
số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), nhưng thực tế vợ chồng tôi không
nhận số tiền trên. Khi L làm thủ tục chuyển nhượng nhà, đất cho mẹ tôi thì do gặp
khó khăn chỗ B cản trở nên vợ chồng tôi mới viết giấy vay tiền nhận trách nhiệm
trả nợ cho B số tiền L còn nợ. Mục đích của việc viết giấy vay tiền trên
để vợ chồng tôi lấy tiền của Mai Thị L trả cho B, khoản nợ trên của L
nợ B chứ vợ chồng tôi không nợ tiền B. Sau khi viết giấy vay tiền thỏa
thuận trả mỗi tháng 3.000.000 đồng bà L đã đưa tiền cho vợ chồng tôi trả cho bà
B được 04 tháng với số tiền 12.000.000 đồng; hiện nay số tiền còn nợ lại là
188.000.000 đồng (Một trăm tám mươi tám triệu đồng); do khó khăn nênL không
khả năng trả nợ cho B, nên B khởi kiện yêu cầu vợ chồng tôi trả số tiền còn
nợ 188.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất 0,8/tháng tvợ chồng tôi không
đồng ý. Do số tiền trên là bà L nợ bà B nên L phải có nghĩa vụ trả số tiền trên cho
bà B, chứ thực tế vợ chồng tôi không nợ nên chúng tôi không đồng ý trả nợ cho bà
B.
- Anh Nguyễn V: Xác nhận giấy vay do anh V viết thống nhất với ý kiến
của chị T không đồng ý trả số tiền trên cho bà B mà đề nghị bà L phải có nghĩa vụ trả
nợ cho bà B.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Mai Thị L trình bày: Trước đây
nợ Đoàn Thị B số tiền 300.000.000 đồng như B trình bày đúng. Năm
2023 do nợ Ngân hàng không khả năng trả nnên chuyển nhượng nhà,
đất lại cho chị ruột của (mẹ của cháu Phan Thị T). Lúc đó còn nợ tiền B
nên B cản trở, gây khó khăn trong việc chuyển nhượng nhà, đất nên đã trả cho
B số tiền 100.000.000 đồng và viết giấy nhận nợ số tiền 200.000.000 đồng, nhưng
B không đồng ý; B yêu cầu phải trả hết stiền 300.000.000 mới đồng ý cho
chuyển nhượng nhà, đất. vậy, vợ chồng cháu T đã đứng ra viết giấy vay nợ B
số tiền 200.000.000 đồng. Thực chất người trả số tiền trên cho Đoàn Thị B
đã đưa tiền cho vợ chồng cháu T trả nợ cho bà B được 04 tháng với số tiền
12.000.000 đồng; do điều kiện khó khăn nên không khả năng trả mỗi tháng
3.000.000 đồng theo thỏa thuận. vậy, B khởi kiện yêu cầu v chồng cháu
Nguyễn V, Phan Thị T phải trả số tiền vay n n 188.000.000 đồng lãi suất
0,8/tháng, số tiền này nhận trách nhiệm trả cho B xin trả góp mỗi tháng
1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, số tiền này không liên quan đến v chồng
Nguyễn VPhan Thị T.
3
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị Điện Bàn phát biểu quan
điểm:
+ Về vic tuân theo pháp lut: T khi th vụ án Thẩm phán, ThưTòa án
Hội đồng t xử được phân ng giải quyết vụ án đã thực hin đúng theo trình tự, thủ
tục do Bluật T tụng dân s quy định.
+ Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, buộc anh Nguyễn V chị Phan Thị T phải nghĩa vụ trả cho
Đoàn Thị B số tiền 188.000.000 đồng và lãi suất theo yêu cầu của bà B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về quan hệ tranh chấp thẩm quyền giải quyết vụ án: Nơi trú của bị
đơn - anh Nguyễn V và chị Phan Thị T địa chỉ tại thôn H, Đ, thị Điện Bàn,
nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả stiền vay còn nợ 200.000.000 đồng. Do
đó, quan hệ pháp luật giải quyết “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm
quyền của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại
khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số nợ 200.000.000 đồng t
thấy: Tại phiên a các đương sự đều thừa nhận: Theo giấy thỏa thuận trả nợ ngày
04/12/2023, chị Phan Thị T anh Nguyễn V viết giấy nhận trách nhiệm trả nợ
cho Đoàn Thị B số tiền 200.000.000 đồng. Đây số tiền mà Mai Thị L nợ bà
B nhưng anh Ý, chị T ghi giấy nhận trách nhiệm trả nợ, mục đích để bà B đồng ý
cho L chuyển nhượng nhà, đất của bà L cho người khác. Sau đó vchồng anh Ý,
chị T đã trả nợ dần đến nay còn nB số tiền 188.000.000 đồng. Như vậy, các bên
đã thừa nhận số tiền vay còn nĐoàn Thị B 200.000.000 đồng đã trả được
04 tháng với số tiền 12.000.000 đồng nên số tiền còn nợ là là 188.000.000 đồng. Đây
tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật
Tố tụng dân sự. Do đó HĐXX có đủ sở để khẳng định hiện nay anh Nguyễn V
chị Phan Thị T n nợ Đoàn Thị B số tiền 188.000.000 đồng.
Chị T anh Ý cho rằng thực tế anh, chị không nhận số tiền 200.000.000
đồng của B số tiền này là bà L nợ B, vợ chồng viết giấy nhận nthay
thực tế mỗi tháng L giao tiền cho vợ chồng trả nợ cho bà B. vậy, bà B khởi
kiện yêu cầu vợ chồng chị T, anh Ý phải trả số tiền trên thì vợ chồng anh Ý, chị T
không đồng ý mà yêu cầu bà L phải có nghĩa vụ trả số tiền trên cho bà B.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, B không đồng ý bà L
nhận trách nhiệm trả số nợ trên; vì theo bà B số nợ này vào ngày 04/12/2023 đã được
bà L chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng chị T, anh V và được bà B đồng ý để
vợ chồng anh V, chT nhận trách nhiệm trả nợ thay. Xét yêu cầu của đương sự thấy
rằng: Căn cứ khoản 1 Điều 283 BLDS về việc thực hiện nghĩa vụ thông qua người
thứ ba quy định:Khi được bên quyền đồng ý, bên nghĩa vụ thể ủy quyền
cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với
bên quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ…” căn cứ khoản 1 Điều 370 BLDS về chuyển giao nghĩa vụ quy định: Bên
nghĩa vụ thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên
quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên nghĩa vụ
4
hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ..”. Từ những quy định
nêu trên, việc L chuyển giao nghĩa vụ trả nợ của mình cho vợ chồng chị T, anh V
đã được v chồng anh V, ch T chấp nhận nên đã viết giấy vay tiền ngày
04/12/2023; đây được xem là một thỏa thuận mới về việc bàn giao nghĩa vụ trả nợ và
được bên quyền bà Đoàn Thị B đồng ý. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn căn cứ nên được HĐXX chấp nhận, buộc vợ chồng chị Phan Thị T anh
Nguyễn V phải nghĩa vụ trả cho Đoàn Thị B stiền còn nợ 188.000.000
đồng.
[2.2.] Về lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu tính lãi với lãi suất 08%/năm, tính từ
tháng 5 năm 2024 đến nay (11 tháng) với số tiền 16.544.000 đồng. Xét thấy, theo
quy định tại khoản 4 Điều 466 của Bộ luật dân sự quy định về nghĩa vụ trả nợ của
bên vay thì: “Trường hợp vay không lãi khi đến hạn bên vay không trả nợ
hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất
theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự trên số tiền chậm trả tương
ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định
khác”. Như vậy, yêu cầu trả lãi của B phợp với quy định của pháp luật nên
chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét căn cứ Điều 280, 283, 370,
Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
Đoàn Thị B; buộc vchồng anh Nguyễn V chị Phan Thị T phải nghĩa vụ trả
cho Đoàn Thị B tổng số tiền là 204.544.000 đồng.
[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 280, 283, 370
Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
Hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đoàn Thị B đối với anh
Nguyễn V và chị Phan Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
1. Buộc vợ chồng anh Nguyễn V chị Phan Thị T phải nghĩa vụ trả cho
Đoàn Thị B tổng stiền 204.544.000 đồng (Hai trăm lbốn triệu, năm trăm bốn
mươi bốn nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi
hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí dân sự thẩm: 10.227.200 đồng (Mười triệu hai trăm hai ơi
bảy nghìn hai trăm đồng), buộc vợ chồng anh Nguyễn V chị Phan Thị T phải
chịu. Hoàn trả cho Đoàn Thị B số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 5.175.000
(Năm triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
5
phí Tòa án số 0014937 ngày 14/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự quyền làm đơn kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể tngày tuyên án (ngày 28/4/2025), đương sự vắng mặt tại phiên tòa
hoặc không mặt khi tuyên án do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính
từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp l.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND thị xã Điện Bàn;
- Chi cục THADS thị xã Điện Bàn;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
(Đã )
Võ Văn Thể
6
7
8
Tải về
Bản án số 72/2025/DS-ST Bản án số 72/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 72/2025/DS-ST Bản án số 72/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất