Bản án số 11/2026/DS-PT ngày 06/02/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp đất đai
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 11/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 11/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 11/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 11/2026/DS-PT ngày 06/02/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp đất đai |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Trị |
| Số hiệu: | 11/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 06/02/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | y án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 11/2026/DS-PT
Ngày 06/02/2026
Về “T/c quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thnh phn Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Thương.
Các Thẩm phán: Ông Trần Việt Trung;
Bà Từ Thị Hải Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Huệ- Thư k Ta n nhân dân tỉnh
Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa:
Bà Cao Thị Minh Nguyệt - Kiểm st viên.
Ngày 23 thng 01 năm 2026, tại trụ sở Ta n nhân dân tỉnh Quảng Trị xét
xử phúc thẩm công khai vụ n thụ l số 84/2025/TLPT-DS ngày 10 thng 11 năm
2025, về việc“Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản n dân sự sơ thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 30 thng 9 năm 2025
của Ta n nhân dân khu vực 4, tỉnh Quảng Trị, bị khng co.
Theo Quyết định đưa vụ n ra xét xử phúc thẩm số 87/2025/QĐ-PT ngày
11 thng 12 năm 2025, giữa cc đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Viết D, sinh năm 1984 và bà Trần Thị H, sinh
năm 1988; địa chỉ: Thôn L, xã S, tỉnh Quảng Trị.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H1, địa chỉ:
Thôn T, xã S, tỉnh Quảng Trị (Văn bản ủy quyền ngày 19/01/2024); có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phan Đình C, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm
1974; địa chỉ: Thôn L, xã S, tỉnh Quảng Trị.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Bà Lê Thị D1, địa chỉ: địa chỉ:
Thôn X, xã S, tỉnh Quảng Trị (Văn bản ủy quyền ngày 09/12/2025); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Trần Văn S, địa
chỉ: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
3. Người kháng cáo: Ông Phan Đình C và bà Nguyễn Thị G là bị đơn trong
vụ n.
NỘI DUNG VỤ ÁN
2
Nguyên đơn ông Trn Viết D và bà Trn Thị H trình bày:
Năm 2015, vợ chồng ông D, bà H đấu trúng gi thửa đất số 57, tờ bản đồ số
3, địa chỉ tại thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình nay là thôn L, xã S, tỉnh
Quảng Trị với diện tích 240m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD
064021 được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện L ký ngày 03/11/2015. Phía Tây
Nam gip với thửa đất số 58; phía Đông Bắc liền kề với thửa đất số 56. Sau khi
được giao đất, vợ chồng đi làm ăn xa, lúc về pht hiện ông C, bà G xây dựng lấn
chiếm vào phần đất của ông D, bà H diện tích khoảng 180m
2
, trị gi khoảng
180.000.000đồng; UBND xã N đã tổ chức hoà giải nhưng không thành.
Ông D, bà H khởi kiện yêu cầu Toà n giải quyết: Buộc ông C và bà G phải
tho dỡ toàn bộ công trình đã xây dựng tri php luật trên thửa đất ông, bà được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trả lại phần đất xây dựng lấn chiếm nhằm
đảm bảo đủ diện tích đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 064021
được UBND huyện L cấp ngày 03/11/2015.
Bị đơn ông Phan Đình C và bà Nguyễn Thị G trình bày:
Năm 2010, vợ chồng ông C, bà G nhận chuyển nhượng của em vợ là Nguyễn
Đình N thửa đất và căn nhà hiện tại đang ở. Đến năm 2014, nhận chuyển nhượng
của anh Lê Viết T hai lô đất có chiều dài mặt đường là 30 mét. Đến năm 2015,
anh C1 địa chính xã N, anh N1 thôn trưởng thôn Liêm T1 và mẹ anh D là bà B
với chị D2 chị anh D và Nguyễn K cầm dây đo. Anh C1 và anh N1 bắt từ hàng
rào ông C kéo lên 30 mét của hai nền hai thẻ đỏ 53 và 54. Sau khi đo, bà B mẹ
của anh D trồng tràm để làm biên giới, cn ông C kêu xe đổ đất làm mặt bằng để
làm nhà. Trước lúc làm, ông C có gọi anh D và anh T2 lên cầm thước đo cắm cọc
khi đó ông C mới làm nhà. Làm móng năm 2018, đầu năm 2019 xây và ở cho đến
nay không có ai tranh chấp. Khi anh D gọi người đo đạc lại thì lệch định vị, anh
D nói ông C làm nhà trên đất của anh. Hiện trạng thực tế sử dụng ông C, bà G
không xây lấn đất của ông D và bà H, bị đơn đã làm cc biện php cần thiết trong
khả năng của mình và nghiệp vụ của cc cn bộ xã để xc định vị trí xây dựng
nhà không ảnh hưởng đến thửa đất người khc.
Việc căn cứ theo chỉnh l địa chính để thực hiện thẩm định bởi chỉnh l địa
chính là không đúng, trong chỉnh l địa chính đã xc định sai vị trí cc thửa đất,
đề nghị Toà n xem xét tính hợp php của chỉnh l địa chính này.
Căn cứ theo biên bản thẩm định, ông C sử dụng đúng phần đất của mình
theo hiện trạng thực tế sử dụng, thửa đất của ông D, bà H không đúng vị trí thửa
đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D, bà H tại thửa đất số 57, tờ bản
đồ số 03 đã cung cấp chỉ thể hiện diện tích, chiều dài cc cạnh, không thể hiện toạ
độ, vị trí thửa đất. Do đó, không xc định được vị trí thửa đất của ông D, bà H.
Căn cứ vào Sổ mục kê số Q01 ngày 22/10/2018 xc định là thửa đất vắng chủ. Do
đó, chưa đủ cơ sở để thực hiện chỉnh l địa chính đối với thửa đất 56, tờ bản đồ
số 03.
Đề nghị Toà n xem xét kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền trích lục hồ
sơ chỉnh l địa chính làm căn cứ để xem xét tính hợp php của chỉnh l địa chính
và cập nhật chỉnh l địa chính, xc định vị trí cc thửa đất số 52, tờ bản đồ số 02;
thửa đất số 53, 54 tờ bản đồ số 03 tại thôn L, xã S, tỉnh Quảng Trị. Thửa đất 57,
3
tờ bản đồ 03 không có Biên bản bàn giao đất trên thực địa, đề nghị Hội đồng xét
xử xc định lại vị trí cc thửa đất 52, 53, 54 và 57 tại thôn L, xã N trước đây. Bị
đơn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Với những nội dung trên,
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2025/DSST ngày 30 tháng 9 năm 2025,
Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Quảng Trị đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 4 Điều 68, khoản 1 Điều 147, cc Điều 157, 158, 165, 166, điểm b khoản
2 Điều 227 và khoản 2 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân
sự; cc Điều 163, 164, 166, 274, 275 và 276 của Bộ luật dân sự; cc Điều 26, 235
và 236 của Luật đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
mức n phí, lệ phí Ta n, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn ông Trần Viết D và
bà Trần Thị H về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất. Buộc ông Phan Đình C và
bà Nguyễn Thị G ph dỡ toàn bộ ngôi nhà 1 tầng kết cấu móng bê tông cốt thép,
kết hợp móng tường xây đ hộc, tường xây bao quanh bằng gạch dày 18cm tô trt
hoàn chỉnh. Mi bằng bê tông cốt thép, nền lt gạch Ceramic, cửa xin pha, cầu
thang lt đ tự nhiên chưa có lan can. Khu vệ sinh và bếp trong nhà đầy đủ, hệ
thống điện chìm và hệ thống nước đầy đủ, diện tích 128,6m
2
và đoạn tường rào
móng xây đ hộc, tường xây bờ lô, trụ bê tông cốt thép, chiều cao 1,6 mét; chiều
dài 14,85 mét (trên sơ đồ k hiệu 2 - 11), xây dựng tri phép trên thửa đất số 57,
tờ bản đồ số 03; trả lại nguyên trạng thửa đất 57, tờ bản đồ số 03; địa chỉ thửa đất:
Thôn L, xã S, tỉnh Quảng Trị theo giấy CNQSD đất số CD 064 021 do Ủy ban
nhân dân huyện L, tỉnh Quảng Bình cấp cho ông Trần Viết D và bà Trần Thị H
ngày 03/11/2025.
Tổng gi trị tài sản tranh chấp: 692.245.900 đồng; trong đó toàn bộ ngôi
nhà 1 tầng trị gi 676.950.400 đồng, đoạn tường rào trị gi 15.295.500 đồng.
2. Ông Trần Viết D và bà Trần Thị H được quyền sử dụng, định đoạt thửa
đất số 57, tờ bản đồ số 03; địa chỉ thôn L, xã S, diện tích 240m
2
đất ở tại nông
thôn theo giấy CNQSD đất số CD 064021 được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh
Quảng Bình cấp ngày 03/11/2025. Thửa đất có tứ cận: Phía Tây Bắc tiếp gip
thửa đất số 29 tờ bản đồ số 11, có chiều dài 15 mét, trên sơ đồ k hiệu 9 đến
10;Phía Đông Bắc tiếp gip thửa đất số 56, tờ bản đồ số 03, có chiều dài 16 mét,
trên sơ đồ k hiệu 6 đến 9; Phía Đông Nam tiếp gip đường giao thông, có chiều
dài 15 mét, trên sơ đồ k hiệu 1 đến 6;Phía Tây Nam tiếp gip gip thửa đất số
58, tờ bản đồ số 03, có chiều dài 16 mét, trên sơ đồ k hiệu 1 đến 10.
Ngoài ra, bản n sơ thẩm cn quyết định về n phí, chi phí tố tụng, quyền,
nghĩa vụ thi hành n và quyền khng co theo quy định của php luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 07/10/2025, bị đơn ông Phan Đình C và bà Nguyễn Thị G khng co
toàn bộ bản n sơ thẩm theo hướng hủy bản n sơ thẩm với l do Ta n cấp sơ
thẩm chưa thực hiện đầy đủ việc thu thập tài liệu chứng cứ, không tiến hành đo
đạc cc thửa đất của bị đơn để xc định diện tích tranh chấp. Đồng thời trưng cầu
4
cơ quan chuyên môn đo đạc, xc định lại vị trí cc thửa đất của bị đơn, xc định
lại diện tích đất tranh chấp, đưa Ngân hàng và những người đã chuyển nhượng
đất cho ông C vào tham gia tố tụng với tư cch là người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan.
Tại phiên ta phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không
rút khng co, cc đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ n và đề nghị xét xử theo quy định của php luật.
Phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:
- Về thủ tục tố tụng: Trong qu trình giải quyết vụ n cũng như tại phiên
ta, Thẩm phn, Thư k, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng theo trình tự thủ tục
do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa
vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực
hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đề
nghị: Không chấp nhận khng co của ông Phan Đình C và bà Nguyễn Thị G về
việc hủy bản n sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Ta n sơ thẩm giải quyết lại. Về
n phí dân sự phúc thẩm: Khng co của bị đơn không được chấp nhận nên ông
Phan Đình C và bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng n phí dân sự phúc
thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
l và sử dụng n phí và lệ phí Ta n. Cc quyết định khc của bản n sơ thẩm
không có khng co, không bị khng nghị có hiệu lực php luật kể từ ngày tuyên
n sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào cc tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên ta, kết quả
tranh tụng tại phiên ta, kiến của Kiểm st viên, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ php luật tranh chấp: Ông Trần Viết D, bà Trần Thị H khởi
kiện yêu cầu ông Phan Đình C, bà Nguyễn Thị G tho dỡ toàn bộ tài sản mà bị
đơn xây dựng tri phép để trả lại diện tích đất đã được nhà nước cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn. Ta n cấp sơ thẩm xc định quan hệ
“Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật
tố tụng dân sự là đúng php luật.
[1.2] Thẩm quyền giải quyết: Thửa đất tranh chấp tại thôn L, xã S, tỉnh
Quảng Trị, Ta n nhân dân khu vực 4, tỉnh Quảng Trị căn cứ quy định tại Điều
35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết là đúng thẩm
quyền.
[2] Xét nội dung khng co của bị đơn:
[2.1] Về nguồn gốc và qu trình sử dụng đất của nguyên đơn: Thửa đất số
57, tờ bản đồ số 03, diện tích 240m² tại thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình
(nay là thôn L, xã S, tỉnh Quảng Trị) được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng
đất cho ông Trần Viết D và bà Trần Thị H thông qua hình thức trúng đấu gi
5
quyền sử dụng đất theo Quyết định số 6130/QĐ-UBND ngày 16/9/2015 của
UBND huyện L và được UBND huyện Lệ Thủ
y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 064021 ngày 03/11/2015 mang
tên ông Trần Viết D và bà Trần Thị H.
Năm 2016, Phng Tài nguyên và Môi trường huyện L phối hợp với UBND
xã N tiến hành bàn giao thửa đất trên thực địa cho ông Trần Viết D, bà Trần Thị
H. Sau khi nhận bàn giao đất, ông D và bà H chưa xây dựng nhà ở.
[2.2] Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định gi tài sản:
+ Kết quả thẩm định tại chỗ: Trên thửa đất tranh chấp, ông C, bà G xây
dựng nhà 1 tầng hoàn thiện, khu vệ sinh và bếp trong nhà đầy đủ, hệ thống điện
chìm và hệ thống nước đầy đủ, diện tích 128,6m
2
; hệ thống tường rào.
+ Kết quả định gi tài sản tranh chấp: Nhà 1 tầng hoàn thiện, diện tích
128,6m
2
x 5.264.000 đồng/m
2
= 676.950.400 đồng. Tường rào dài 14,85 mét x
1.030.000 đồng/mét = 15.295.500 đồng. Tổng gi trị tài sản tranh chấp:
692.245.900 đồng.
[2.3] Năm 2015, ông D, bà H tham gia đấu gi quyền sử dụng đất, kết quả
trúng đấu gi thửa đất số 57 và 58 tờ bản đồ số 3 tại thôn L, xã N, huyện L, tỉnh
Quảng Bình (cũ) và được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, sau khi có kết
quả đấu gi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành bàn giao đất trên thực địa, có xc
định tọa độ, mốc giới, ranh giới, kích thước cụ thể, đảm bảo đầy đủ căn cứ php
l xc lập quyền sử dụng đất hợp php cho ông D, bà H.
Đến năm 2018, ông C, bà G tiến hành xây dựng nhà ở tại vị trí thửa đất số
57, tờ bản đồ số 03 đã được Nhà nước giao cho ông D, bà H. Ông C, bà G cho
rằng việc xây dựng được thực hiện trên thửa đất số 53, tờ bản đồ số 3, diện tích
240m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 373988 do UBND huyện
L cấp ngày 03/9/2014 cho ông C, bà G. Tuy nhiên, phía bị đơn không cung cấp
được tài liệu, chứng cứ chứng minh vị trí thực tế của thửa đất số 53 ngoài thực
địa.
Ông C cho rằng, năm 2010 ông nhận chuyển nhượng đất và nhà của ông
Nguyễn Đình N của thửa đất số 52, năm 2018, khi ông làm nhà (đang tranh chấp)
ông bắt từ hàng rào của thửa đất số 52 kéo lên 30 mét (thửa 53 và 54 mỗi thửa có
cạnh chiều ngang 15m), như vậy thửa đất tranh chấp nằm trong thửa đất của ông
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thấy rằng: Thửa đất số 52 của ông
C theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có cạnh chiều ngang 10m, kết quả
thẩm định đo đạc hiện trạng thì ông C xây hàng rào bao quanh thửa số 52 có cạnh
chiều ngang 20m; mặt khc thửa đất số 52 hiện không xc định được tọa độ, do
đó, ông C căn cứ vào thửa đất số 52 để xc định thửa đất số 53 và thửa đất số 54
là không chính xác.
Ngoài ra, ông C cho rằng khi xây dựng có mời ông D và ông T2 đo đạc,
cắm cọc xc định ranh giới, thấy rằng việc đo đạc, cắm cọc này không được lập
thành văn bản, không có xc nhận của cơ quan chuyên môn và không được cc
bên thống nhất, ông D không thừa nhận việc xc định ranh giới như bị đơn trình
bày, do đó không có cơ sở để chấp nhận theo hiện trạng sử dụng.
6
Theo văn bản của UBND huyện L (cũ), cc thửa đất số 52, 53, 54 thuộc tờ
bản đồ số 3 đứng tên ông Phan Đình C và bà Nguyễn Thị G hiện không xc định
được vị trí trên bản đồ địa chính, không xc định được tọa độ, mốc giới ngoài thực
địa. Trong khi đó, php luật đất đai quy định người sử dụng đất có nghĩa vụ xc
định rõ ranh giới thửa đất của mình; trường hợp ranh giới, mốc giới không rõ ràng
thì phải liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đo đạc, xc định lại trước khi
xây dựng công trình trên đất. Việc ông C, bà G không thực hiện nghĩa vụ này mà
vẫn tiến hành xây dựng nhà ở là thiếu thận trọng, dẫn đến hậu quả xây dựng trên
đất của người khc.
Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 29/5/2024 xc định ngôi
nhà và cc tài sản gắn liền với đất do ông C, bà G xây dựng nằm cơ bản trên thửa
đất số 57, tờ bản đồ số 3 thuộc quyền sử dụng của ông D, bà H. Như vậy, có đủ
cơ sở xc định ông C, bà G đã xây dựng công trình tri phép trên đất của người
khc. Ta n cấp sơ thẩm xử buộc ông C, bà G tho dỡ ngôi nhà và cc tài sản
khc để trả lại diện tích đất lấn chiếm là có căn cứ, đúng php luật.
[2.4] Ông Phan Đình C cho rằng ông xây nhà để cho con là chị Lê Thị N2 ở,
thấy việc ông C, bà G cho ở chỉ bằng lời nói, không lập thành văn bản. Vợ chồng
ông C và chị N2 không phải là người đứng tên quyền sử dụng đất, chị N2 không
trực tiếp xây dựng công trình, không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc được
tặng cho quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu nhà ở theo quy định của php luật,
không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của chị N2 và cc con đối với thửa đất và
tài sản gắn liền với đất đang tranh chấp.
Do đó, có căn cứ xc định chị Lê Thị N2 cùng các cháu Nguyễn Thị Huyền
T3 và Nguyễn Duy K1 không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong
vụ n, việc Ta n cấp sơ thẩm không đưa những người này tham gia tố tụng là
phù hợp quy định của php luật.
[2.5] Ông Phan Đình C cho rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
thửa đất số 53 và thửa đất số 54 hiện ông đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP C3,
Ta n cấp sơ thẩm không đưa Ngân hàng vào tham gia tố tụng với tư cch là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm tố tụng. Thấy rằng: Hiện nay,
thửa đất tranh chấp là thửa đất số 57 tờ bản đồ số 3, không có liên quan đến thửa
đất số 53 và thửa đất số 54 của ông C, nên không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp php của Ngân hàng, Ta n cấp sơ thẩm không đưa Ngân hàng vào tham gia
tố tụng trong vụ n là đúng quy định của php luật, do đó không chấp nhận phần
khng co này của bị đơn.
[3] Từ những phân tích, đnh gi nêu trên, Hội đồng xét xử chấp thuận
kiến của Viện kiểm st nhân dân tỉnh Quảng Trị, không chấp nhận khng co của
bị đơn; giữ nguyên bản n sơ thẩm.
[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định gi tài sản
tranh chấp số tiền 10.200.000 đồng, nguyên đơn đã nộp tạm ứng 5.000.000 đồng,
bị đơn đã nộp tạm ứng 5.200.000 đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp
nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định gi
tài sản. Ông C, bà G phải hoàn trả cho ông D, bà H số tiền 5.000.000 đồng.
7
[5] Về n phí: Khng co của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu
n phí dân sự phúc thẩm theo quy định của php luật, tuy nhiên ông Phan Đình C
là người cao tuổi nên được miễn n phí, bà Nguyễn Thị G chịu n phí phúc thẩm
theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận khng
co của bị đơn ông Phan Đình C và bà Nguyễn Thị G; giữ nguyên bản n dân sự
sơ thẩm.
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 166; Điều 170 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 26; khoản 1 Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng n phí, lệ phí
Ta n, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Viết D và bà
Trần Thị H.
Buộc ông Phan Đình C và bà Nguyễn Thị G tho dỡ cc công trình xây
dựng nhà ở, tường rào, tài sản, cây cối nằm trên phần diện tích 240m
2
đất thuộc
thửa đất số 57, tờ bản đồ số 03 tại thôn L, xã S, tỉnh Quảng Trị theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CD 064021 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Quảng
Bình (cũ) cấp ngày 03/11/2015 cho ông Trần Viết D và bà Trần Thị H, gồm:
(Kèm theo Kết quả thẩm định thực địa thửa đất số 57, tờ bản đồ số 3 ngày
29/5/2024 và Sơ đồ thửa đất số 56,57,58,59 tờ bản đồ số 3)
2. Về chi phí tố tụng: Ông Phan Văn C2, bà Nguyễn Thị G có nghĩa vụ
hoàn trả cho ông Trần Viết D, bà Trần Thị H số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp
cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền
phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi
hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về n phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phan Đình C được miễn n phí. Bà Nguyễn
Thị G phải chịu 150.000 đồng n phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho ông Trần Viết D và bà Trần Thị H tiền tạm ứng n phí đã nộp
4.500.000 đồng theo Biên lai số 0004284 ngày 17/01/2024 của Chi cục Thi hành
n dân sự huyện Lệ Thủy nay là Phng Thi hành n dân sự khu vực 4 - Quảng
Trị.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Đình C được miễn n phí dân sự phúc
thẩm, bà Nguyễn Thị G phải chịu 150.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm
ứng n phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000571 ngày
8
07 thng 10 năm 2025 của Thi hành n dân sự tỉnh Quảng Trị. Hoàn trả cho bà
Nguyễn Thị G số tiền tạm ứng n phí cn lại là 150.000 đồng.
4. Cc quyết định khc của bản n sơ thẩm có hiệu lực php luật kể từ ngày
hết thời hạn khng co, khng nghị.
Bản n phúc thẩm có hiệu lực php luật kể từ ngày tuyên n./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- TAND KV4- Quảng Trị;
- THADS Quảng Trị;
- VKSND KV4- Quảng Trị;
- Cc đương sự;
- Phòng KTNV;
- Lưu hồ sơ vụ n.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đoàn Thị Kim Thương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm