Bản án số 88/2026/DS-PT ngày 05/02/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 88/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 88/2026/DS-PT ngày 05/02/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 88/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/02/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị M Giữ nguyên Bản dân sự sơ thẩm số 142/2025/DS-ST ngày 25/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thanh Huyền và bà Nguyễn Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Trung Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Mai Liên - Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 618/2025/TLPT-DS ngày 17/12/2025
về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 142/2025/DS - ST ngày 25/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 43/2026/QĐ - PT ngày
ngày 08 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Cao Thị Y, sinh năm 1951
Địa chỉ: SH, Đường B, Thôn B (xã C cũ), phường B, tỉnh Đắk Lắk có mặt
2. Bị đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1953
Địa chỉ: Số C, Đường B, Thôn B (xã C ), phường B, tỉnh Đắk Lắk Vắng
mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng: chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1994; địa chỉ: số B Đường
A, phường B, tỉnh Đắk Lắk có mặt
Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Cao Thị Y
trình bày:
Do quen biết Y cho bà Trần Thị M vay tiền trong ngày 13/4/2024 hai lần,
lần 1 vay số tiền 80.000.000 đồng, lần 2 vay số tiền 110.000.000 đồng. Tổng cộng
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 88/2026/DS - PT
Ngày 05 02 2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
190.000.000 đồng. Thời gian trả trong ngày 02 ngày. Không tính lãi suất. Khi vay
hai bên lập giấy vay tiền Trần Thị Mỹ K ghi họ tên trong giấy. Đến
ngày 24/6/2025 thì bà M trả cho Y được 20.000.000 đồng.
Trong giấy vay dòng chữ “…Thu T không trả Trần Thị Mỹ chiệu trách
nhiệm….”, nội dung này do M viết M vay tiền sau đó đưa cho con dâu
Thu T. Y ko biết Thu T ai, Y xác định chỉ cho M vay tiền đưa tiền
cho bà M.
Bà Y đã nhiều lần yêu cầu M trả nợ nhưng bà M không thực hiện nghĩa vụ
trả nợ. Hiện nay Cao Thị Y đề nghị Toà án giải quyết buộc Trần Thị Mỹ T1
cho Cao Thị Y số tiền gốc 170.000.000 đồng tiền lãi theo quy định của pháp
luật với mức lãi suất 10%/năm từ ngày 15/4/2024 cho đến khi trả nợ xong.
* Tại cấp sơ thẩm Bị đơn Trần Thị M đã được đã được Toà án tống đạt các
văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không đến Toà án làm việc trình
bày ý kiến, quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không tiến
hành hoà giải được.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 142/2025/DSST ngày 25 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 463, 465, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015;
Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị Y.
Buộc Trần Thị M phải trả cho Cao Thị Y tổng số tiền là: 194.649.999
đồng. Trong đó số tiền gốc 170.000.000 đồng. Tiền lãi tính đến ngày xét xử
thẩm (ngày 25/9/2025) là 24.649.999 đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo
của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 19 tháng 10 năm 2025 bị đơn Trần Thị M kháng cáo Bản án sơ thẩm
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét theo thủ tục phúc thẩm, sửa bản án theo
hướng chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn và bác khoản tiền 110.000.000
đồng vì bà M không vay.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện
và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ
thẩm,
Bị đơn vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo trình bày: khi
vay tiền thì M không vay, số tiền này con dâu Nguyễn Thị Thu T hỏi vay
nhưng do nguyên đơn yêu cầu M nhận. T chứng kiến sự việc viết
giúp giấy vay tiền, đối với số tiền vay 80.000.000 đồng là đúng. Sau đó T lên vay
thêm số tiền 110.000.000 đồng và tự viết thêm trong giấy vay.
3
Nguyễn Thị Thu T trình bày việc vay tiền thì bà có chứng kiến và viết giấy
vay giúp mẹ (bà M), số tiền này bà M vay giúp tôi và M giấy vay, nhận tiền rồi
đưa cho tôi nhưng sau đó tôi bị lừa nên không trả tiền cho bà M đúng hạn để bà M
trả cho bà Y mà chỉ trả được khoản tiền 20.000.000 đồng vào ngày 24/6/20204. Tôi
đề nghị được thoả thuận để trả khoản nợ 170.000.000 đồng y thay mẹ tôi cho
Y.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu
quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký Tòa án, các đương sự đã tuân thủ đúng theo các quy định của Bộ luật t
tụng dân sự.
Về nội dung: Ngày 05/11/2025, bà Nguyễn Thị Thu T (con dâu bà M) đơn
trình bày cho rằng T chính là người vay số tiền 190.000.000 đồng của Y, bà
người cầm số tiền vay này, quá trình vay bà đã trả cho bà Y được số tiền 20.000.000
đồng và bà sẽ chịu trách nhiệm trả nợ cho Y. Việc bà M cũng như T không có
mặt nên cấp sơ thẩm đã không biết để làmđược nội dung vay mượn tiền cụ thể
như thế nào. Nhận thấy cần thiết đưa bà Nguyễn Thị Thu T vào tham gia tố tụng với
cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Khoản 4 Điều 68
BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2025 cần tiến hành đối chất giữa Cao Thị Y,
Trần Thị M và bà Nguyễn Thị Thu T để làm rõ về việc ai là người vay tiền từ
Y, M T; mỗi người vay của bà Y số tiền cụ thể bao nhiêu nhằm căn
cứ giải quyết vụ án khách quan và đúng thực tế, đây là tình tiết mới phát sinh ở cấp
phúc thẩm nên cần hủy bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp
thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung. Việc M kháng cáo theo hướng đề
nghị Tòa án chấp nhận một phần đơn khởi kiện của bà Cao Thị Y, chấp nhận trả cho
Y số tiền 80.000.000 đồng căn cứ để chấp nhận. Do đó đề nghị Hội đồng
xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật ttụng dân sự sửa đổi, bổ sung
năm 2025:
- Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bà Trần Thị M.
- Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 142/2025/DS-ST ngày 25/9/2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk chuyển hồ vụ án cho Tòa án cấp sơ
thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án, kết quả
tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn gi trong thời hạn luật định và
người cao tuổi, đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, nên được thụ lý giải quyết
theo thủ tục phúc thẩm là phù hợp.
4
Đối với sự có mặt của các đương sự: tại phiên toà phúc thẩm bị đơn kháng cáo
nhưng vắng mặt đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó HĐXX căn cứ quy định khoản
3, Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Xét kháng cáo của bị đơn Trần Thị M, Hội đồng xét xử xét thấy: Vào
ngày 13/4/2024 Trần Thị M nhận vay Cao Thị Y số tiền 190.000.000
đồng, thời hạn trả là 01 ngày, không thoả thuận lãi suất. Tuy nhiên đến hạn trả nợ
nhưng không trả là vi phạm nghĩa vụ. Đến ngày 24/6/2024 đã trả được 20.000.000
đồng còn khoản tiền 170.000.000 đồng chưa trả. Quá trình giải quyết tại cấp thẩm
M từ chối nhận văn bản tố tụng vắng mặt tại phiên toà. Do đó Tán cấp sơ
thẩm đã tiến hành giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với nội dung trình bày
của bị đơn tại đơn kháng cáo cho rằng chỉ vay bà Y stiền 80.000.000 đồng nên chỉ
đồng ý trả khoản nợ này, còn số tiền 110.000.000 đồng bà M không vay nên không
đồng ý trả. Tuy nhiên, theo lời trình bày của người làm chứng cũng con dâu
của bđơn Nguyễn Thị Thu T tnội dung vay tiền giữa M Y vào
ngày 13/4/2024 thì bà có chứng kiến, chữ viết trong giấy vay là của bà T viết giúp,
số tiền vay là 190.000.000 đồng là đúng. Thực tế là bà M vay giúp cho bà T nên ký
nhận nợ trong giấy vay Trần Thị M, M nhận tiền xong đưa cho T. Do khó
khăn nên không trả đúng hạn cho Y toàn bộ số tiền vay chỉ trả được
20.000.000 đồng, khoản tiền 170.000.000 đồng chưa trả thì T xin trả dần. Nguyên
đơn xác nhận người vay Trần Thị M chứ không phải Nguyễn Thị Thu T,
đồng thời bà M đã ký nhận trong giấy vay ngày 13/4/2024 nên bà khởi kiện yêu cầu
M trả khoản tiền 170.000.000 đồng lãi suất theo quy định của pháp luật.
không đồng ý cho bà T nhận trả thay cho bà M.
Như vậy, căn cứ giấy vay tiền lời khai của người làm chứng thể hiện vào
ngày 13/4/2024 bà Trần Thị M có vay Cao Thị Y số tiền 190.000.000 đồng, ngày
24/6/2024 trả được 20.000.000 đồng. Khi đến hạn M không thực hiện nghĩa vụ
trả nợ là vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Do đó, cấp
thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là cón cứ, đúng pháp luật. Tại
cấp phúc thẩm bị đơn kháng cáo nhưng không mặt tại Toà án để tiến hành làm
việc, đối chất để làm rõ nội dung, đồng thời vắng mặt tại phiên toà, không cung cấp
thêm tài liệu chứng cứ nào mới chứng minh cho kháng cáo của mình là căn cứ
nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
[3]. Về án phí dân sphúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên bà Trần
Thị M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà M là người cao tuổi và
đơn xin miễn tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị M
- Giữ nguyên Bản dân sự thẩm số 142/2025/DS-ST ngày 25/9/2025 của T
án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk
5
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 463, 465, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015;
Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị Y.
Buộc Trần Thị M phải trả cho Cao Thị Y tổng số tiền là: 194.649.999
đồng. Trong đó số tiền gốc 170.000.000 đồng. Tiền lãi tính đến ngày xét xử
thẩm (ngày 25/9/2025) là 24.649.999 đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357 của B luật Dân sự 2015.
[2] Về án phí:
[2.1] Về án phí dân sự thẩm: Bị đơn bà Trần Thị M phải chịu 9.732.000
đồng (làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn Cao Thị Y không phải chịu án phí án dân sự sơ thẩm theo quy
định.
[2.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Trần Thị M được miễn án phí dân s
phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thị hành
án hoặc bị cương chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 Điều 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tài Điều
30 Luật thi hành án dân sự.”
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- VKSND tỉnh Đắk Lắk; THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 1;
- Phòng THADS Khu vực 1;
- Các đương sự; ( Đã ký)
- ........;
- Lưu.
Nguyễn Thị Nhung
Tải về
Bản án số 88/2026/DS-PT Bản án số 88/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 88/2026/DS-PT Bản án số 88/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất