Bản án số 75/2026/DS-PT ngày 04/02/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 75/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 75/2026/DS-PT ngày 04/02/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 75/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/02/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị V yêu cầu tuyên bố hợp dồng vô hiệu, HĐXX không chấp nhận yêu cầu của chị V
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
0TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 75/2026/DS-PT
Ngày 04 - 02 - 2026
“Yêu cầu tuyên bố văn bản phân
chia thừa kế hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Như Hiển
Ông Nguyễn Việt Hùng
- Thư phiên tòa: Nguyễn Ngọc Thương Hiền Thư Tòa án nhân
dân tỉnh Bắc Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà:
Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 02 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 445/2025/TLPT- DS ngày 12 tháng
12 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố văn bản phân chia thừa kế hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu” do bản án dân sự sơ thẩm số
58/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc
Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x phúc thẩm số:
237/2025/QĐ-PT ngày 31 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số
187/2026/QĐ-PT ngày 12 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chu Thị V, sinh năm 1988 (có mặt)
Địa chỉ: Bản Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị V: Luật sư Nguyễn Đức T
Công ty L, Địa chỉ: Số E đường L, phường B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt)
* Bị đơn:
1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963 (vắng mặt)
Địa chỉ: Bản La Xa, xã Đồng Kỳ, tỉnh Bắc Ninh
2. Ông Dương Văn Đ, sinh năm 1955 (có mặt)
3. Bà Đoàn Thị P, sinh năm 1957 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lưu Văn M, sinh năm 1990 (vắng mặt)
2
2. Chị Lương Thị H, sinh năm 1991 (vắng mặt)
3. Cụ Bế Thị C, sinh năm 1938 (vắng mặt)
4. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1966 (vắng mặt)
5. Chị Lưu Thị T3, sinh năm 1993 (vắng mặt)
6. Chị Lưu Thị Huệ P1, sinh năm 1995 (vắng mặt)
7. Anh Lưu Duy N, sinh ngày 15/8/2006 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Bản L, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.
8. Chị Lưu Thị T4, sinh năm 1991(vắng mặt)
Địa chỉ: khu Đồi Đỏ, xã Tân Yên, tỉnh Bắc Ninh
9. Chị Lưu Thị Y, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn T, phường N, thành phố Hải Phòng (thôn T, xã M, huyện K,
Hải Dương cũ).
10. Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Bắc Ninh - do ông Nguyễn Quốc O
Chuyên viên Phòng Kinh tế xã Đ đại diện theo ủy quyền. (vắng mặt)
11. Ngân hàng N2 Chi nhánh Y1 - B, Địa chỉ: Số A H, Y, tỉnh Bắc
Giang do Giám đốc Chi nhánh đại diện (vắng mặt)
Người kháng cáo: Ông Dương Văn Đ, bà Đoàn Thị P.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bn án dân s thẩm s 58/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vc 3 - Bc Ninh thì ni dung v án như sau:
Nguyên đơn chị Lưu Thị V trình bày:
Bố của chị là ông Lưu Văn N1 chết năm 2012, khi chết ông N1 không để lại
di chúc. Tài sản ông N1 nằm trong khối i sản chung của gia đình gồm thửa đất
số 5, tờ bản đồ số 21 diện tích 1.299m² mang tên chủ sử dụng hộ ông Lưu Văn
N1, trong đó, 400 đất 899 đất vườn, địa chỉ: Bản X, Đ, huyện
Y, tỉnh Bắc Giang (nay Bản Đ, Đ, tỉnh Bắc Ninh), được Ủy ban nhân dân
(sau đây viết tắt UBND) huyện Y, tỉnh Bắc Giang cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số BR 375562 cấp ngày 21/02/2014.
Sau khi ông N1 chết, mẹ và em trai chị là Nguyễn Thị T1, anh Lưu Văn
M quản lý, sử dụng thửa đất cho đến nay. Đầu năm 2022, các anh, chị, em trong
gia đình phân chia di sản thừa kế của ông N1 để lại mới biết T1 đã chuyển
nhượng cho ông Dương Văn Đ Đoàn Thị P 350m² đất 899 đất
vườn theo hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất ngày 12/03/2014 tại
UBND Đ, số vào sổ 12, quyển số 01/CT- SCT/HĐCN. T1 nói chỉ
chuyển nhượng phần đất chiều rộng 20m, chiều dài kéo đến hết đất, việc
chuyển nhượng không báo cho các con cụ Bế Thị C (mẹ của ông N1) biết.
Việc bán đất để gán trừ 200.000.000 đồng tiền mua cám chăn nuôi còn nợ ông Đ,
P. Chđến UBND Đ xin sao tài liệu về việc chuyển nhượng đất mới được
3
biết văn bản phân chia di sản thừa kế không đề ngày, tháng, đề năm 2013
được UBND xã Đ chứng thực vào ngày 04/11/2013. Trong văn bản phân chia di
sản thừa kế tchữ Lưu Văn M, Lưu Thị Y Lưu Thị V không phải chữ
của chị V, anh M và chị Y, đã người giả mạo chữ của ba người
không chữ của cụ Bế Thị C. T1 nói với chị việc làm hsơ do gia đình
P, ông Đ cán bộ địa chính làm, T1 chỉ lên giấy tờ về nhà
không biết diện tích đất đã chuyển nhượng cho P, ông Đ 1.249m². Chxác
định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T1 và vợ chồng ông Đ,
bà P ngày 12/03/2014 vô hiệu, không có giá trị pháp lý vì nó xuất phát từ văn bản
phân chia di sản thừa kế xác định thiếu người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ
nhất cụ Bế Thị C là mẹ đẻ ông N1 và có sự giả mạo chữ ký của 03 người con của
ông N1. Tại hợp đồng cũng sự nhầm lẫn, sai sót nghiêm trọng, T1 bên
chuyển nhượng nhưng lại vào bên nhận chuyển nhượng, ông Đ, P bên
nhận chuyển nhượng nhưng vào bên chuyển nhượng. Mặt khác tại Điều 2 của
hợp đồng quy định về giá chuyển nhượng và phương thức thanh toán ghi Giá
chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất nêu tại điều 1 của hợp đồng này là:
200.000.00 đồng, thanh toán bằng tiền mặt. Việc thanh toán u tại khoản 1 này
do hai bên tthực hiện chịu trách nhiện trước pháp luật nhưng thực tế T1
không được nhận tiền mặt số tiền 200.000.000 đồng bị ông Đ, P trừ luôn
vào tiền mà bà T1, ông N1 nợ tiền mua cám chăn nuôi của vợ chồng ông Đ, bà P.
Chị cho rằng việc nợ tiền hàng là một quan hệ dân sự khác không liên quan đến
việc mua bán đất, do đó việc trừ nợ tiền mua cám vào tiền bán đất bà T1 là không
đúng pháp luật (vì T1 cũng không đồng ý việc này) nên hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/03/2014 là vô hiệu do giả tạo, nó che cho
một giao dịch khác. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng giữa các
bên vẫn chưa tiến hành bàn giao quyền sử dụng đất, T1 ông M vẫn trên
đất, quản , sdụng thửa đất và i sản trên đất, chưa bao giờ vợ chồng ông Đ,
bà P quản lý và sử dụng thửa đất này. Chị yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản phân chia di sản thừa kế được UBND
xã Đ chứng thực ngày 04/11/2013, Số chứng thực 98, quyển số 01/TP/CC-
SCC/HĐGD vô hiệu.
2. Yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất
giữa Nguyễn Thị T1 vợ chồng ông Dương Văn Đ, Nguyễn Thị P2 ngày
12/03/2014 tại UBND Đ, số vào sổ 12, quyển số 01/CT SCT/HĐCN. Chị
không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:Văn bản
chia di sản thừa kế được chứng thực trái pháp luật do thiếu thành phần cụ C,
chị V, anh M và chị Y, ảnh hưởng nghiêm trọng quyền, lợi ích của người thừa kế.
Việc UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ cho ông Đ, P2 năm 2014 đối với thửa
số: 05; tờ bản đồ s21, diện tích 1249,0m² (350 m² đất ở, 899m² đất vườn) cũng
sự sai sót nghiêm trọng trong việc xác định vị trí thửa đất, đồ thửa đất
chiều rộng giáp ranh của thửa đất. Phần phía trước thửa đất số 05 tiếp giáp mặt
đường của được UBND huyện Y cấp năm 2000 cho hộ ông Lưu Văn M chiều
4
rộng 34m; phía sau thửa đất có chiều rộng 22m, nhưng khi đo vtách thửa
đất theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/03/2014 giữa
T1 và vợ chồng ông Đ, P2 để cấp lại GCNQSDĐ, cán bộ địa chính đã đo vẽ
đồ thửa đất sự sai sót nghiêm trọng về xác định vị trí thửa đất, cạnh tiếp giáp
của thửa đất. Chiều rộng phía sau thửa đất sau khi đo vẽ lại độ dài 30m -
tăng lên 8m so với đồ đo vthửa đất năm 2000 đã được UBND huyện Y cấp
GCNQSDĐ cho hộ ông u n M không đúng với thỏa thuận nên ông Đ
P2 không phải người ngay tình. Việc áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án
phải áp dụng Điều 138 Bộ luật dân sự năm 2005 chứ không áp dụng Điều 133 Bộ
luật dân sự năm 2015 nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa
T1 ông Đ P2 hiệu. Do vậy, đề nghị Hội đồng t xử chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 trình bày: thống nhất với lời khai của chị V
chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của chị V.
Bị đơn là ông Dương Văn Đ trình bày:
Ngày 12/3/2014, vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị
T1 diện tích 1.249 đất thuộc thửa đất số 05
1
, tờ bản đồ số 21. Giá chuyển
nhượng 200.000.000 đồng theo hợp đồng chuyển nhượng đã được chứng thực
cùng ngày tại UBND xã Đ. Diện tích 1.249 đất vợ chồng ông nhận chuyển
nhượng của T1 bao gồm 350 đất 899 m² đất cây lâu năm. Tài sản này
đã được UBND huyện Y ng nhận quyền sử dụng hợp pháp cho T1 tại
GCNQSDĐ số BR 376562 ngày 21/02/2014. Việc chuyển nhượng giữa bà T1 đối
với vợ chồng ông đã hoàn thành, vợ chồng ông đã được UBND huyện Y cấp
GCNQSDĐ số BR 375780 ngày 07/4/2014. Như vậy, tài sản T1 chuyển
nhượng cho vợ chồng ông là tài sản riêng của bà T1, đối tượng chuyển nhượng là
thửa đất số 05
1
, tờ bản đồ số 21 đã được cấp GCNQSDĐ. Tại thời điểm chuyển
nhượng, đất không tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị biên để bảo
đảm thi hành án. Đất vẫn đang trong hạn sdụng nên đảm bảo đầy đủ điều kiện
chuyển nhượng theo quy định tại Điều 106 Luật Đất đai năm 2003. Việc chuyển
quyền sử dụng đất đã hoàn thành, đất đã được đăng biến động tại cơ quan
thẩm quyền, vợ chồng ông bên nhận chuyển nhượng đã được cấp GCNQSDĐ
nên việc chuyển quyền sử dụng đất đã hiệu lực theo quy định tại Điều 692
BLDS năm 2005. Do vậy, ch V yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 12/3/2014 giữa bà T1 với vợ chồng ông vô hiệu là không
có căn cứ, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu này của chị V.
Đối với yêu cầu tuyên bố văn bản phân chia di sản thừa kế được UBND
Đ chứng thực ngày 04/11/2013 hiệu: Nguồn gốc thửa đất số 05, tờ bản đồ số
21 là tài sản của hộ gia đình T1 đã được cấp GCNQSDĐ số Q104585 ngày
18/12/2000 cho chủ sử dụng đất hộ ông Lưu Văn N1. Ông N1 chồng T1
đã chết ngày 05/02/2012 không để lại di chúc nên bà T1các con M, V và Y
đã thống nhất thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế. Theo nội dung thỏa thuận thì
cả 03 con của T1 đều đồng ý để T1 được shữu, sử dụng tài thửa đất nêu
trên. Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế đã được chứng thực tại UBND
5
Đ ngày 04/11/2013. Sau đó, T1 đã được cấp GCNQSDĐ. ChV khởi kiện
cho rằng văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế vô hiệu vì lý do không phải
chữ ký của anh M, chị V chị Y, cũng không có ý kiến của cụ Bế Thị C mẹ
đẻ ông N1 thì đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật đxem xét giải
quyết. Trường hợp văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế ngày 04/11/2003
hiệu một phần hoặc toàn bộ nhưng T1 đã chuyển quyền về tài sản cho vợ
chồng ông và việc chuyển giao đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật thì Hợp
đồng chuyển nhượng ngày 12/3/2014 không bị hiệu, thuộc trường hợp ngay
tình theo quy định tại Điều 133 BLDS. Việc T1 chuyển nhượng đất cho v
chồng ông đúng sự thật, cũng đã được quan thẩm quyền công nhận. Số
tiền chuyển nhượng 200.000.000 đồng là do hai bên thống nhất thỏa thuận
được bù trừ vào số tiền mua cám mà bà T1 còn nợ của vợ chồng ông. Số cám mà
T1 mua của vợ chồng ông để sử dụng vào việc chăn nuôi phát triển kinh tế của
cả hộ gia đình. Ngoài ra, ông Đ, bà P2 yêu cầu chị V bồi thường danh dự và nhân
phẩm đối với vợ chồng ông số tiền 2.000.000.000 đồng tiền theo vụ án cho
đến khi kết thúc vụ án 300.000 đồng x 2 người/ngày = 600.000 đồng/ngày.
Bị đơn bà Đoàn Thị P trình bày thống nhất với lời khai của ông Đ.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Lưu Thị Y, anh Lưu Văn
M, cụ Bế ThC đều trình bày: nhất tvới trình bày yêu cầu của chị V, không
ai yêu cầu giải quyết hậu quả của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
* Bà Nguyễn ThT2 trình bày: Chồng của bà ông Lưu Văn T5, chết năm
2021, ông T5 là em ruột của ông N1, con trai của cụ C. Nhà bà ở cùng bản La
Xa với ông N1. Do thửa đất ở của gia đình bà ở giữa bản, diện tích nhỏ không có
đất làm vườn nên ông N1 vừa bán vừa cho vợ chồng bà một phần đất xung quanh
thửa đất số 05 hiện nay đang tranh chấp giữa gia đình T5 và ông bà Phúc Đ1,
cụ thể: phần đất giáp đường thôn, một cạnh giáp thửa 05, một cạnh giáp thửa
đất của ông Trần Đức T6, vợ chồng bà mua của ông N1 với giá 60.000.000 đồng
năm 2011, diện tích chuyển nhượng cạnh mặt đường rộng 10m, cạnh sau
khoảng 05 m, do ranh giới với thửa đất của ông T6 không được thẳng, chiều sâu
hết đất, diện tích không nói rõ, hai bên chỉ thỏa thuận miệng chứ không lập văn
bản. Hai bên chưa đo đạc, khai để cấp GCNQSDĐ. Trên phần đất này đã
trồng bạch đàn từ năm 2011, đã thu hoạch được 2 chu kỳ, hiện nay vẫn còn gốc
cây như hôm Tòa án thẩm định thấy. phần phía sau thửa đất 05 (tính từ đường
vào) cùng năm 2011 ông N1 cũng cho vợ chồng bà 1 phần đất có hai mặt giáp đất
của ông T6, một mặt giáp thửa 05 một mặt giáp thửa đất rừng của ông N1
T5. Ông N1 chỉ nói miệng cho vợ chồng bà chứ không lập giấy tờ, không rõ diện
tích, kích thước là bao nhiêu. Trên phần đất này bà cũng đã trồng cây bạch đàn từ
năm 2018. Ở phần đồi cây giữa thửa đất số 05 và thửa đất có ngôi nhà của anh M
đất rừng của ông N1, nay đang mượn trồng bạch đàn. Sau khi đã cho, đã
chuyển nhượng đất cho bà rồi bà T5 vẫn làm GCNQSDĐ năm 2014 rồi
chuyển nhượng cho vợ chồng ông Phúc Đ1, trong đó diện tích, kích thước
thửa đất chồng lên phần đất đã cho bà, đã chuyển nhượng cho thì không
đồng ý. đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị V về việc yêu cầu tuyên bố hợp
6
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T5 cho ông Đ1 bà P hiệu. Bà
không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
* Chị Lưu Thị Huệ P1, chị Lưu Thị T4, chị Lưu ThT3 anh Lưu Duy N
trình bày: Các anh, chị nhất trí với ý kiến của T2 chị V, không ai yêu cầu
giải quyết hậu quả của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
* Đại diện UBND huyện Y (cũ) trình bày:
Về trình tự thủ tục về cấp giấy chứng nhận: Năm 2000, thực hiện chủ trương
cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình trên địa bàn huyện, UBND Đ đã triển
khai công tác thực hiện các thủ tục lập hồ để cấp GCNQSDĐ đồng loạt cho
các hộ gia đình, nhân đang sử dụng đất trên địa bàn xã. Hộ ông Lưu Văn N1
được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số Q 104585, vào số cấp GCNQSDĐ số
2073 QSDĐ/511- QĐUB ngày 18/12/2000 được quyền sử dụng thửa đất số 05, tờ
bản đsố 21, diện tích 1.299m² gồm 400m² đất 899 đất vườn, địa chỉ
thửa đất Bản L, Đ, huyện Y. Việc cấp GCNQSDĐ này theo trình tự thủ tục
cấp giấy chứng nhận lần đầu cho hộ gia đình đang sử dụng đất khai đề nghị
cấp GCNQSDĐ. UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận đảm bảo đúng quy định
của pháp luật về đất đai.
Ngày 21/02/2014, UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số BR 375562, vào sổ
cấp GCNQSDĐ số CH 00800 theo Quyết định số 169/QĐ-UBND ngày
21/02/2014, cấp cho Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963, địa chỉ: Bản L, xã Đ,
huyện Y được quyền sử dụng thửa đất số 05, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.299m²
gồm 400m² đất 899 m² đất vườn, địa chỉ thửa đất Bản L, Đ, huyện Y.
Việc cấp giấy chứng nhận này là đảm bảo đúng theo trình tự thủ tục đăng ký biến
động đất đai nhận thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất.
Ngày 07/4/2014, UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số BR 375780, vào sổ
cấp GCNQSDĐ số CH 01146 theo Hợp đồng chuyển nhượng số 12/TP/CC-SCT
HĐCN ngày 12/3/2014, cấp cho ông Dương Văn Đ, sinh năm 1955 và Đoàn
Thị P, sinh năm 1957, địa chỉ: Phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang được
quyền sử dụng thửa đất số 05
1
, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.249m² gồm 350m² đất
899m² đất CLN, địa chỉ thửa đất Bản L, Đ, huyện Y. Việc cấp giấy
chứng nhận này đảm bảo đúng theo trình tthủ tục đăng biến động đất đai
chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Việc Lưu Thị V yêu cầu Tòa án tuyên bố n bản phân chia thừa kế lập
ngày 04/11/2013 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/4/2014
đều được UBND xã Đ chứng thực là vô hiệu, vì V cho rằng chữ trong Văn
bản phân chia thừa kế để bà T1 được cấp GCNQSDĐ năm 2014 nêu trên giả
mạo chữ của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông N1, cần giám
định chữ ký trong văn bản phân chia thừa kế để có căn cứ giải quyết nội dung mà
bà V yêu cầu và căn cứ bà V đưa ra.
Về việc cấp GCNQSDĐ không đo đạc không đúng quy định của pháp
luật. Việc cấp GCNQSDĐ cấp cho hộ ông N1, T1 năm 2014 cạnh sau
22m nhưng khi chuyển nhượng cho ông Đ, P được cấp GCNQSDĐ với cạnh
7
sau là 30m là không căn cứ, cấp không đúng. Chủ sử dụng đất chuyển nhượng
phần đất đã được công nhận quyền sử dụng đất cạnh sau 22m. Việc cấp
GCNQSDĐ cho T1, ông Đ, bà P không tiến hành đo đạc thực địa mà chthực
hiện trích lục thửa đất trên GCNQSDĐ của ông N1, T1 để ra sơ đồ thửa đất.
Tuy nhiên, trích lục đã được chủ sử dụng đất, các bên đồng ý được Phòng T7
kiểm tra thực địa thẩm định sau đó mới cấp GCNQSDĐ.
* Đại diện UBND Đ (nay UBND Đ) trình bày: Hồ chứng thực
Văn bản phân chia thừa kế thửa đất số 05 của ông N1 tại UBND chỉ bản đã
cung cấp cho Tòa án giám định, ngoài ra không n bản nào khác. Khi chứng
thực văn bản không có cụ C tham gia, còn chị V, anh M và chị Y có tham gia hay
không thì không rõ. Khi làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho T1 ông Đ, P
năm 2014 không đo đạc thực địa.
* Ngân hàng N2 Chi nhánh Y1 - Bắc Giang II trình bày: Hiện nay
GCNQSDĐ cấp cho T1 năm 2014 đang được n chấp đvay vốn tại Ngân
hàng. Do không phải cho vay thế chấp Ngân hàng chgiữ GCNQSDĐ của
T1 nên Ngân hàng không ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Với nội dung trên, Bản án dân sự thẩm số 58/2025/DS-ST ngày
27/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh đã Căn cứ vào khoản 3
Điều 26; Điều 34, Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 165,
khoản 3 Điều 200, điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản
1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 108, Điều 109, Điều 122, Điều 127, Điều
128, khoản 2 Điều 138, Điều 676 Điều 685 Bộ luật dân s2005; Điều 500,
Điều 501, Điều 502, Điều 503 của Bộ luật dân sự; Điều 167, Điều 188 Luật đất
đai 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26; khoản 3 Điều 27 Nghị quyết
326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Thị V đối với Nguyễn Thị
T1, ông Dương Văn Đ và bà Đoàn Thị P.
- Tuyên bố văn bản phân chia di sản thừa kế được UBND Đ chứng thực
số 98, quyển số 01 ngày 04/11/2013 vô hiệu phần phân chia thửa đất số 5, tờ bản
đồ số 21, diện tích 1.299m
2
cho bà Nguyễn Thị T1.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng giữa Nguyễn Thị
T1 với ông Dương Văn Đ và bà Đoàn Thị P ngày 12/3/2014 chuyển nhượng thửa
đất số 5
1
, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.249m
2
gồm 350m
2
đất ở và 899m
2
đất trồng
cây lâu năm, chứng thực tại UBND xã Đ, số vào sổ 12, quyển số 01/CT-
SCT/HĐCN vô hiệu.
2. Về chi phí tố tụng: Chị Lưu Thị V phải chịu 5.520.000đồng chi phí tố
tụng. Xác nhận chị V đã nộp đủ chi phí.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo,.
8
Ngày 09 tháng 10 năm 2025, ông Dương Văn Đ, bà Đoàn Thị P kháng cáo
toàn bộ Bản án dân sự thẩm số 58/2025/DS-ST ngày 27/9/2025 do Bản
án xét xử không khách quan, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông bà.
Ông đã nhận chuyển nhượng đúng diện tích, đã được cấp GCNQSDĐ đúng
trình tự, thủ tục, đúng quy định của phát luật, từ năm 2014 đến nay không tranh
chấp gì. Toà án không xem xét về việc bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân
phẩm, ngày công chi ptheo kiện của ông, bà từ khi bắt đầu đến khi kết thúc
vụ án. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm công nhận văn bản phân chia thừa kế thửa
đất số 5 cho bà T1, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ
T1 cho ông, để xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị u Thị V đối
với bà Nguyễn Thị T1, ông Dương Văn Đ, bà Đoàn Thị P.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ, P giữ nguyên kháng cáo, chị V không
rút yêu cầu khởi kiện. Các bên không hoà giải, thoả thuận được việc giải quyết
tranh chấp.
Ông Đ, bà P trình y, tranh luận: Ông, đã mua tài sản của T1 ngay
tình, đã thanh toán tiền chuyển nhượng đất cho T1 bằng hình thức đối trừ
khoản tiền vợ chồng T1, ông N1 nợ tiền mua cám của ông bà. Số tiền mua
cám ông N1, bà T1 nợ hơn 300 triệu đồng, do không có tiền trả nên bà T1 đề nghị
ông lấy đất với giá 200.000.000 đồng. Khi đó với số tiền trên ông thể
mua được nhiều mảnh đất có giá trị hơn, nhưng do điều kiện kkhăn của T1
nên ông, mới đồng ý. Sau khi thoả thuận hai bên đã lập hợp đồng chuyển
nhượng đất tại UBND xã, đo đạc đất nhưng chỉ đo bằng thước dây. Theo
GCNQSDĐ thì gia đình T1 được cấp 1299m
2
trong đó 400m
2
đất
899m
2
đất vườn, nhưng khi đó hai bên thoả thuận để lại 50m
2
đất cho gia
đình T1 cạnh giáp với diện tích đất rừng nhà T1 đT1 đất ở, nên
diện tích đất T1 chuyển nhượng cho ông, 1.249m
2
, gồm 350m
2
đất
899m
2
đất vườn. Sau khi lập hợp đồng, đo đạc, bàn giao đất, các bên đã thực hiện
thủ tục đề nghị cấp GCNQSDĐ tại quan thẩm quyền theo quy định. T1
đã bàn giao đất, khi đó trên đất không bất cứ tài sản gì. Thửa đất cũng không
xây tường bao để phân định ranh giới với các hộ xung quanh. Do nhà ông
không gần nên chỉ thỉnh thoảng qua đất kiểm tra, xem xét. Sau khi chuyển
nhượng đất, gia đình bà T1 cũng không sử dụng phần diện tích đất chuyển
nhượng cho ông, bà nữa, đến nay không có bất cứ công trình, tài sản gì xây dựng
trên thửa đất đã chuyển nhượng cho ông, bà. Trên đất hiện một số cây trồng
nhưng của một sngười đã tự ý trồng trên đất của ông, bà. ViệcT1 chuyển
nhượng đất cho ông, bà, các con của bà T1 và các thành viên khác đều biết, chị V
biết chị V cũng nợ tiền ông, bà. Ông, không biết T1 các thành viên
khác trong gia đình đã văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế như thế
nào, chỉ biết khi nhận chuyển nhượng đất T1 đã được nhà ớc ng nhận có
toàn quyền sử dụng đối với thửa đất số 5, tờ bản đồ số 21 tại bản Đ, bà T1 chuyển
nhượng đất cho ông, trên stự nguyện, việc chuyển nhượng không phải
trên sở giả tạo, trái pháp luật. vậy, đề nghị HĐXX xem xét bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp cho ông, bà, chấp nhận kháng cáo của ông không chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị V.
9
Ông, bà có kháng cáo đề nghị xem xét về yêu cầu chV bồi thường danh dự,
nhân phẩm, công sức theo vụ kiện số tiền 2 tỉ đồng, nay ông, xin rút kháng
cáo về nội dung này. Ông Đ, bà P không tranh luận gì thêm.
Luật T trình bày, tranh luận: Nguyên đơn không đồng ý với kháng cáo
của bị đơn, căn cứ để không chấp nhận là vì ông N1 - chồng bà T1 chết không để
lại di chúc, để lại tài sản quyển sử dụng đất đối với diện tích 1299 m
2
đã được
cấp GCNQSDĐ. Gia đình chị V vẫn quản đất từ trước đến nay, trồng cây
trên đất, đến khi làm thủ tục để chia di sản của ông N1 để lại mới biết có văn bản
phân chia di sản thừa kế chữ ký ghi tên của mình tại UBND Đ. C mẹ
ông N1, người kế thừa quyền của ông N1 không văn bản trên, Chị V cũng
không văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 04/11/2013, do đó n bản trên
hiệu vi phạm Điều 109 Bộ luật dân sự 2005. Đối với hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa T1 vợ chồng ông Đ, P thì T1 khai bà
T1 chỉ chuyển nhượng 1 phần diện tích đất, T1 chưa nhận được tiền mua n
đất từ người mua, không có việc trừ nợ của việc mua bán cám. Bà T1 đề nghị giải
quyết tiền nợ mua bán cám một v án dân sự khác. Trình tự, thủ tục cấp
GCNQSDĐ cho ông Đ, bà P cũng không đúng quy định pháp luật căn cứ văn bản
trình bày ý kiến của UBND huyện Y, biên bản lấy lời khai của ông Q - Phó
Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Y thể hiện việc mua bán chỉ trên
giấy, dẫn đến diện tích mua bán thực tế không đúng với diện tích chuyển nhượng.
Về việc quản lý đất thì gia đình T1 vẫn quản lý, sử dụng đất từ trước đến nay,
ông Đ, P không quản sử dụng đất, T2 người nhà T1 trồng cây
trên đất nhưng ông Đ, P không biết, không diện tích kích thước thật của
diện tích đất tranh chấp, không chỉ đúng ranh giới đất khi thẩm định. Lời khai,
chứng cứ bị đơn về thông tin mua bán chưa ràng, số tiền mua bán chưa rõ, số
tiền ghi tại sổ mua bán cám chưa ràng, việc ghi thêm. Do đó, đề nghị Hội
đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Chị V trình bày: Khi gia đình chị đi làm thủ tục phân chia di sản thừa kế của
bố thì mới biết thửa đất của gia đình bà T1 đã chuyển nhượng không n đất
thổ cư, chỉ còn lại 50m
2
đất và T1 đã thế chấp Ngân hàng. Chị xác định chị
các em không tại văn bản phân chia thừa kế quyền sử dụng đất lập ngày
04/11/2013 tại UBND Đ, không biết việc mẹ tự ý chuyển nhượng đất. Phần
diện tích đất mẹ chị chuyển nhượng cho ông Đ, bà P hiện gia đình chị không xây
dựng công trình hoặc trồng cây gì, trên đất một số cây trồng là của gia đình
T2, do bà T2 trồng trên phần đất đã mua của bố, mchị được bố, mẹ chị cho.
Chị không biết bố, mẹ nợ tiền vợ chồng ông Đ, P. Do vậy, chị đề nghị không
chấp nhận kháng cáo của ông Đ, bà P và giữ nguyên bản ánthẩm. Chị nhất trí
với tranh luận của luật sư T.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát
biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ đến khi mở phiên tòa tại
phiên tòa,Thư ký, Hội đồng xét xử (viết tắt là: HĐXX) đã thực hiện đúng, đủ quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là: BLTTDS). Sau khi xem xét kháng cáo
của ông Đ, P, nội dung tranh chấp các tài liệu, chứng đã thu thập trong hồ
10
ván, đề nghị HĐXX phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 308, điều 309 của
BLTTDS chấp nhận kháng cáo của ông Đ, P, sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Thị V về việc tuyên bố n
bản phân chia di sản thừa kế được Ủy ban nhân dân Đ chứng thực số 98,
quyển số 01 ngày 04/11/2013 hiệu đối với phần phân chia thửa đất số 5, tờ
bản đsố 21, diện tích 1.299m
2
cho Nguyễn Thị T1; Không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của chị Lưu Thị V về việc tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng giữa Nguyễn Thị T1 với ông Dương Văn Đ Đoàn Thị P
ngày 12/3/2014 đối với thửa đất số 5
1
, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.249m
2
(gồm
350m
2
đất 899m
2
đất trồng cây lâu năm), được UBND Đ chứng thực, số
vào sổ 12, quyển số 01/CT- SCT/HĐCN vô hiệu.
Về án phí DSST: ChLưu Thị V được miễn án phí dân sự thẩm. Ông Đ,
bà P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:
[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa mặt ông Đ, P, V, luật bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp của V. Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt,
HĐXX căn cứ Điều 296 BLTTDS để xét xử vụ án.
[2]. Đơn kháng cáo của ông Đ, bà P đã nộp tại Toà án nhân dân khu vực 3 -
Bắc Ninh trong thời hạn, đúng quy định, các đương sự đều được miễn nộp tạm
ứng án phí phúc thẩm. Kháng cáo của ông Đ, P được HĐXX chấp nhận xem
xét theo thủ tục phúc thẩm.
[3]. Xét kháng cáo của ông Dương Văn Đ, Nguyễn Thị P2, yêu cầu khởi
kiện của chị Lưu Thị V, căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, lời
khai của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên toà, HĐXX thấy:
[4]. Thửa đất số 05, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.299m
2
gồm 400m
2
đất
899 m
2
đất vườn, địa chỉ Bản L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là Bản L, xã
Đ, tỉnh Bắc Ninh) đã được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số Q 104585, vào sổ
cấp GCNQSDĐ số 2073 QSDĐ/511-QĐUB ngày 18/12/2000 cho hộ Lưu Văn
N1. Tại thời điểm được cấp GCNQSDĐ thành viên hộ ông N1 gồm ông Lưu
Văn N1, Nguyễn Thị T1 (vợ) các con chị Lưu Thị V, anh Lưu Văn M,
chị Lưu Thị Y. Ngày 05/02/2012 ông N1 chết, khi chết không để lại di chúc,
hàng thừa kế thứ nhất của ông N1 tại thời điểm ông N1 chết cụ Bế Thị C (mẹ
ông N1), vợ con ông N1 là bà T1, Chị V, chị Y và anh M.
[5]. Đối với việc chị Lưu Thị V yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản phân chia
di sản thừa kế được UBND xã Đ chứng thực ngày 04/11/2013, Số chứng thực 98,
quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu:
[6]. Tại Văn bản phân chia tài sản thừa kế (không ghi ngày, tháng, năm
2013), được UBND xã Đ chứng thực số 98, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 04/11/2013 thể hiện nội dung các ông, bà Nguyễn Thị T1, Lưu Văn M, Lưu
11
Thị V, Lưu Thị Y những người thừa kế của ông Lưu Văn N1 thoả thuận việc
phân chia tài sản thừa kế của ông Lưu Văn N1 để lại là phần đất diện tích
37000m
2
đất sản xuất lâm nghiệp tại số thửa đất LN, XXXV-35, tờ bản đồ 01 LN
1299m
2
đất ở, đất trồng cây lâu năm tại thửa đất 05, tờ bản đồ 21 địa chỉ tại
thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, cụ thể phân chia toàn bộ các diện tích đất
trên cho bà Nguyễn Thị T1 quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật. Về hình
thức của văn bản được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật dân sự,
chứng thực của UBND Đ quan thẩm quyền. Tại văn bản các chữ
Nguyễn Thị T1, chị Lưu Thị V, chị Lưu Thị Y anh Lưu Văn M. Tuy
nhiên, chỉ có bà T1 đã thừa nhận đây đúng là chữ của bà. Đối với các c
còn lại, chị V, anh M, chị Y đều khẳng định chữ ký, chữ viết Lưu Thị V, Lưu Thị
Y Lưu Văn M trong văn bản phân chia là giả mạo, không phải do các anh, chị
viết. Tòa án đã tiến hành thu thập văn bản phân chia tài sản thừa kế lập ngày
04/11/2013 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện YUBND xã Đ để
trưng cầu giám định chữ của chị V, anh M chị Y nhưng các bản thu thập
được đều là bản phô tô, UBND xã Đ chứng thực vào bản phô tô này nên Cơ quan
giám định không giám định được. Do đó không căn cứ để xác định chị V, chị
Y và anh M có ký văn bản này hay không. Tuy nhiên, trong 02 văn bản phân chia
thừa kế này đều không có chữ ký của cụ Bế Thị C cũng không có văn bản hay tài
liệu, chứng cứ nào khác thể hiện cụ C từ chối di sản, hoặc đồng ý cho các đồng
thừa kế là T1, chV, chị Y, anh M được toàn quyền định đoạt phân chia di sản
thừa kế của ông N1 để lại. Như vậy văn bản phân chia tài sản thừa kế được
UBND xã Đ chứng thực ngày 04/11/2013 để phân chia cho Nguyễn Thị T1
toàn quyền sử dụng đối với thửa đất số 05, tờ bản đồ số 21 đã xâm phạm đến
quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, vi phạm quy định tại Điều 109; điểm a
khoản 1, khoản 2 Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005. Do đó Văn bản phân chia
tài sản thừa kế (không ghi ngày, tháng, năm 2013), được UBND xã Đ chứng thực
số 98, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/11/2013 b hiệu theo Điều
122, 127 Bộ luật dân sự năm 2005. Trong các tài sản phân chia theo văn bản này
thửa đất số 05, tờ Bản đồ số 21, diện tích 1299m
2
gồm đất 400m
2
đất
trồng cây lâu năm 899m
2
thửa đất diện tích 37000m
2
đất sản xuất lâm
nghiệp tại số thửa đất LN, XXXV-35, tờ bản đồ 01 LN. Tuy nhiên, đối với diện
tích đất lâm nghiệp các đương sự không yêu cầu nên HĐXX cấp sơ thẩm chỉ xem
xét tuyên vô hiệu đối với diện tích đất tại thửa đất số 05, tờ bản đồ số 21 là có căn
cứ.
[7]. Đối với việc chị Lưu Thị V yêu cầu Tòa án tuyên b kết hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/3/2014 vô hiệu:
[8]. Ngày 21/02/2014 Nguyễn Thị T1 được UBND huyện Y cấp
GCNQSDĐ số BR375562, số vào sổ cấp GCNQSĐ sCH00800, Quyết định số
169 ngày 21/02/2014 đối với thửa đất số 05, tờ bản đồ số 21, diện tích 1299m
2
trong đó 400m
2
đất và 899m
2
đất trồng cây lâu năm. Tại GCNQSDĐ ghi
nguồn gốc sử dụng nhận thừa kế quyền sử dụng đất, đồ thửa đất thể hiện
cạnh phía Bắc dài 34m; cạnh phía Đông dài 52m, cạnh phía Nam dài 22m; cạnh
phía Tây dài 42m. Như vậy, theo GCNQSDĐ trên thì T1 là chủ sử dụng đối
12
với thửa đất trên. Ngày 12/3/2014 Nguyễn Thị T1 ông Dương Văn Đ,
Đoàn Thị P kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất, nội dung của
hợp đồng thể hiện Quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T1 thửa đất số 05, tờ
bản đồ số 21, diện tích 1299m
2
(trong đó 400m2 đất ở và 899m2 đất vườn) tại
Bản L, Đ, huyện Y theo GCNQSDĐ số BR 375562 được chuyển nhượng cho
ông Dương Văn Đ, Đoàn Thị P phần diện tích gồm đất 350m
2
đất trồng
y lâu năm 899m
2
, tổng diện tích 1249m
2
tại thửa đất 5
1
, tờ bản đồ số 21. Giá
chuyển nhượng là 200.000.000 đồng. Hợp đồng trên được lập tại UBND Đ
được chủ tịch UBND chứng thực số 12, quyển số 01/CT-SCT/HĐCN ngày
12/3/2014. Cùng ngày 12/3/2014 Nguyễn Thị T1 đã đơn đề nghị đăng
biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với
đất với nội dung sau khi biến động là: Dương Văn Đ; Đoàn Thị P thửa đất số 5
1
,
tờ bản đ21, tổng diện tích 1249m
2
, trong đó 350m
2
đất ONT; 899m
2
đất CLN;
Diện tích đất còn lại: 50m
2
ONT. Lý do biến động: chuyển nhượng diện tích
1249m
2
đất ONT+CLN cho ông Dương Văn Đ, đúng quy định của pháp luật.
Ông Dương Văn Đ, Đoàn Thị P đã có đơn xin đề nghị cấp GCNQSDĐ, quyền
sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất nhận chuyển
nhượng của T1 nêu trên. Ngày 07/4/2014, ông Dương Văn Đ, Đoàn Thị P
được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số BR 575780 đối với thửa đất số 5
1
, tờ
bản đồ số 21, diện tích 1249m
2
, trong đó có 350m
2
đất 899m
2
đất trồng cây
lâu năm theo đúng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/3/2014.
Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Thị T1 ông
Dương Văn Đ Đoàn Thị P nêu trên được lập thành văn bản, chứng thực
của UBND xã Đ là đảm bảo về điều kiện hình thức của hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất theo điều 124, Điều 688, 689 BLDS năm 2005. Chủ thể tham
gia giao kết hợp đồng gồm bà T1, ông Đ, P đều đầy đủ năng lực hành vi
dân sự, hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, T1 đã được cấp GCNQSDĐ
với cách nhân, do đó quyền chuyển nhượng đối với thửa đất, diện tích
đất được nêu trong hợp đồng. Số tiền chuyển nhượng được ghi trong hợp đồng
200.000.000 đồng, chị V luật cho rằng T1 chưa được thanh toán, tuy
nhiên lời khai của T1 trong quá trình xét xđã thừa nhận lời khai của ông Đ,
P về việc đối trừ tiền mua đất vào tiền ông N1, bà T1 còn nợ tiền cám. Ông Đ,
P đã cung cấp giấy tờ đối chiếu, ghi nợ của T1, trong đó ghi nội dung
“đã trả ngày 12/3/2014, 200 triệu vào tiền trả đất 1249m
2”
, T1 không đưa ra
được chứng cứ nào khác để chứng minh việc bị ép buộc khi ký vào xác nhận này,
cũng không yêu cầu giám định đối với chữ ký, chữ viết của T1 tại văn bản,
do đó xác định bà T1 đã đồng ý bù trừ số tiền nợ mua cám 200.000.000 đồng vào
tiền mua đất khi hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông Đ, P. Sau khi
hợp đồng trên, các chủ thể quyền đã thực hiện việc đăng biến động tại
quan nhà nước thẩm quyền, được chỉnh được cấp GCNQSDĐ đất theo
đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, cụ thể ông Đ, P đã được cấp
GCNQSDĐ đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng, bà T1 được cấp
GCNQSDĐ đối với diện tích đẩt thổ còn lại 50m
2
. Như vậy, hợp đồng trên đã
đảm bảo các điều kiện có hiệu lực theo quy định tại Điều 121; 122, 124; 688, 689
BLDS 2005; Điều 105, 106, 127 Luật đất đai năm 2003.
13
[9]. Mặc việc lập văn bản phân chia tài sản thừa kế đối với phần di sản
của ông N1 để lại trong khối tài sản chung của h gia đình thiếu thành phần
người thừa kế theo pháp luật khiến văn bản trên bvô hiệu, tuy nhiên, thực tế
T1 là người đã được cấp GCNQSDĐ đối với toàn bộ thửa đất số 05, tờ bản đồ 21
thửa đất lâm nghiệp của gia đình, T1 đã thực hiện việc chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho P, ông Đ trên sở thoả thuận, tự nguyện, đến nay
không tài liệu, chứng cứ nào thể hiện việc ông Đ, P buộc T1 phải lập
biên bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 5, tờ bản đồ số
21 tại Bản L, Đ, huyện Y để T1 được cấp GCNQSDĐ sau đó chuyển
nhượng cho ông Đ, bà P một phần thửa đất như đã ghi trong hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/3/2014. Như vậy, ông Đ, P nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của Nguyễn Thị T1 từ năm 2014 đã được cấp
GCNQSDĐ do đó ông Đ, P được bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay
nh theo Điều 133 Bộ luật dân sự. Ngoài ra, trên thực tế, bà T1 các con của bà
T1 cũng không sử dụng, xây dựng bất cứ công trình hay trồng cây trên đất kể
từ thời điểm chuyển nhượng đất cho ông Đ, P cho đến nay. Chị V cũng khai
khi anh M xây nhà cũng không xây vào khu đất chuyển nhượng cho ông Đ, P,
điều đó cho thấy việc T1 chuyển nhượng thửa đất 5
1
, tờ bản đồ số 21
thật, các thành viên trong gia đình T1 đều biết, không ai phản đối. Chị V,
T1, mẹ con T2 khai thửa đất số 5, tờ bản đồ 21 trước đó ông N1 đã tặng cho
chuyển nhượng một phần cho vợ chồng ông T1, bà T2 (là em ông N1), tuy
nhiên, ngoài lời khai các đương sự không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng
minh. Như vậy, sở xác định việc nguyên đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị T1 và ông Dương Văn Đ,
Đoàn Thị P ngày 12/3/2014 vô hiệu là không có căn cứ.
[10]. Chị V các đồng thừa kế khác xác định T1 đã tự định đoạt tài sản
chung, tài sản thừa kế dẫn đến xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của chị V
các đồng thừa kế, trường hợp tranh chấp thì chị V các đồng thừa kế
quyền khởi kiện đối với T1 để yêu cầu hoàn trả những chi phí hợp bồi
thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Đối với các tài sản cây trồng trên
đất chuyển nhượng cho ông Đ, P, do các đương sự không ai yêu cầu giải
quyết nên cấp sơ thẩm không xem xét, trường hợp các đương sự có tranh chấp thì
có quyền khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
[11]. Đối với việc ông Đ, P kháng cáo yêu cầu xem xét việc chị V phải
bồi thường thiệt hại stiền 2.000.000.000 đồng. Tại phiên toà ông Đ, P đã rút
nội dung kháng cáo này, do đó HĐXX không xem xét.
[12]. Từ những căn cứ trên, HĐXX chấp nhận kháng cáo của ông Dương
Văn Đ, Đoàn Thị P, sửa bản án dân sự thẩm theo hướng không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của chLưu Thị V như ý kiến, đề nghcủa kiểm sát viên tỉnh
Bắc Ninh tại phiên toà.
[13].Về chi phí tố tụng: n cứ điều 157 BLTTDS, chị V phải chịu toàn bộ
chi phí tố tụng, số tiền là 5.520.000 đồng.
14
[14]. Về án phí: Căn cứ điều 147, Điều 148 BLTTDS; điểm đ khoản 1 Điều
12; Điều 26; Điều 27; Điều 29 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày
30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
+ Chị Lưu Thị V người dân tộc thiểu số, sinh sống vùng kinh tế - hội
đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
+ Ông Dương Văn Đ, bà Đoàn Thị P là người cao tuổi nên được miễn án phí
dân sự phúc thẩm,
[15]. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309; Đièu 147; Điều 148; Điều 157
BLTTDS; Các Điều: 108, 109, 121, 122, 124, 688, 689, 692 BLDS năm 2005;
Các Điều: 133; 500, 501, 502, 503 BLDS năm 2015; Điều 105; 106; 127 Luật đất
đai năm 2003; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26; Điều 27; Điều 29 Nghị quyết
326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
2. Chấp nhận kháng cáo của ông Dương Văn Đ, Đoàn Thị P. Sửa bản án
dân sự sơ thẩm số 58/2025/DS-ST ngày 27/9/2025 ca Toà án nhân dân khu vc
3 - Bc Ninh.
+ Chp nhn mt phn yêu cu khi kin ca ch Lưu Thị V v vic tuyên
b văn bản phân chia di sn tha kế đưc Ủy ban nhân dân Đ chng thc s
98, quyn s 01 ngày 04/11/2013 vô hiệu đối vi phn phân chia thửa đất s 5, t
bản đồ s 21, din tích 1.299m
2
cho bà Nguyn Th T1.
+ Không chp nhn yêu cu khi kin ca ch Lưu Thị V v vic tuyên b
Hợp đồng chuyển nhượng quyn s dng gia bà Nguyn Th T1 vi ông Dương
Văn Đ Đoàn Thị P ngày 12/3/2014 đi vi thửa đất s 5
1
, t bản đồ s 21,
din tích 1.249m
2
(gm 350m
2
đất 899m
2
đất trồng cây lâu năm), được
UBND xã Đ chng thc, s vào s 12, quyn s 01/CT-SCT/HĐCN vô hiệu.
+ V chi phí t tng: Ch Lưu Thị V phi chịu 5.520.000đồng chi phí t
tng. Xác nhn ch V đã nộp đủ chi phí.
+ Về án phí: Chị Lưu Thị V được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
+ Ông Dương Văn Đ, Đoàn Thị P không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
15
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- THADS tỉnh Bắc Ninh;
- TAND khu vực 3 – Bắc Ninh
- Các đương sự;
- Lưu HS; VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Hằng
Tải về
Bản án số 75/2026/DS-PT Bản án số 75/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 75/2026/DS-PT Bản án số 75/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất