Bản án số 02/2026/HNGĐ-PT ngày 10/02/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 02/2026/HNGĐ-PT ngày 10/02/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 02/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/02/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 02/2026/HNGĐ-PT
Ngày 10-02- 2026
V/v: Tranh chấp về chia tài sản sau
khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đoàn Thị Kim Thương.
Các Thẩm phán: Ông Trần Anh Tuấn;
Từ Thị Hải Dương.
- Thư phiên toà: Hồ Thị Hồng Hu- Thư Toà án nhân dân tỉnh
Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa:
Bà Chế Thị Bích Thủy- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 14/2025/TLPT- HNGĐ ngày 20
tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 13/2025/HN-ST ngày 11 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4- Quảng Trị, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 14/2025/QĐPT-HNGĐ
ngày 11 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Phan Thị Hồng T, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn X,
T, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành V, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn X, T,
tỉnh Quảng Trị; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Hữu H, địa chỉ:
Thôn X, xã T, tỉnh Quảng Trị, (Văn bản ủy quyền ngày 15/9/2025), tại phiên tòa
ông V trực tiếp tham gia, không ủy quyền.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật Nguyễn Xuân
V1, thuộc Văn phòng L, Đoàn Luật sư tỉnh Q; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Nguyễn Thị Ánh M, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn X, T, tỉnh
Quảng Trị; có mặt.
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn V3. Đại diện theo pháp luật: Lại Thị
V2, Giám đốc; địa chỉ: Thôn V, xã Q, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
+ Hộ kinh doanh vật liệu Đanh Tỷ: Ông Văn Đ, bà Dương Thị T1, địa
chỉ: Thôn M, xã L, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
3. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Thành V - là bị đơn trong vụ án.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Phan Thị Hồng T trình bày:
Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 15/2025/QĐCNTTLH ngày
14/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình cũ đã công
nhận thuận tình ly hôn giữa Bà và ông Nguyễn Thành V, về tài sản chung không
yêu cầu giải quyết. Sau khi ly hôn, T và ông V không tự thỏa thuận được về tài
sản chung nên T yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân giữa bà với ông V, gồm:
1. Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 237, tờ bản đồ số 21, diện tích
373,4m
2
, trong đó đất ở 150m
2
, đất trồng cây hàng năm khác (HNK) 223,4m
2
, tại
thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình cũ, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 921582 ngày 23/01/2017 mang tên ông Nguyễn Thành V
Phan Thị Hồng T.
2. Một căn nhà xây năm 2019, đặc điểm: nhà 1 tầng, đổ trần chưa lợp mái
gồm 1 phòng khách, 1 phòng thờ, 2 phòng ngủ, 1 phòng bếp, 1 phòng tắm vệ sinh,
nhà được xây trên thửa đất nêu trên. công sức đóng góp của con gái Nguyễn
Thị Ánh M số tiền 600.000.000 đồng cho bố, mẹ xây nhà.
3. 01 quán, có vệ sinh khép kín, được xây trên thửa đất nêu trên.
T yêu cầu: Chia tài sản chung vợ chồng theo quy định của pháp luật.
Nguyện vọng của bà T được nhận ½ quyền sử dụng đất ngôi nhà gắn liền phần
đất này. Xem xét công sức đóng góp của con gái Nguyễn Thị Ánh M trong việc
xây dựng ngôi nhà đỗ 1 tầng, để bảo đảm quyền lợi cho chị M.
Bị đơn ông Nguyễn Thành V trình bày:
Đối với thửa đất số 237, tờ bản đồ số 21 diện tích 373,4m
2
tài sản
riêng của ông. Năm 1989, ông kết hôn với bà Đặng Thị Kim O, cuối năm 1991
đến đầu năm 1992, ông mua mảnh đất lương thực giải thể. Hai vợ chồng con cái
sinh sống trên mảnh đất đó đến năm 1993, xây ngôi nhà mới sinh sống cho đến
cuối năm 1994, ông ly hôn O, theo thỏa thuận toàn bộ ngôi nhà mảnh đất
thuộc quyền shữu của ông V. Đến năm 1995, ông kết hôn với T (trước khi
kết hôn ông V nhà, một cửa hàng bán bi lốp xe phụ kiện cơ khí) về trong ngôi
nhà mảnh đất đó. Thửa đất 237, tờ bản đồ số 21 tài sản riêng của ông
trước hôn nhân, T yêu cầu chia ông không đồng ý, đề nghị Tòa án bảo vệ quyền
lợi cho ông.
Đối với ngôi nhà đổ 1 tầng thời gian xây năm 2019: Sau khi ông làm ăn
thua lỗ, bà T và con gái Ánh M góp vào xây nmới, còn nhà cũ xây năm 1993
thì pbỏ để xây mới. Về phần gỗ ông đóng góp giá khoảng 30.000.000 đồng.
Tổng tiền ông góp vào xây nhà 70.000.000 đồng; T và con gái Ánh M góp
tổng số tiền 410.000.0000 đồng.
Về dãy quán xây một gian có cho thuê đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Ngoài ra, còn khoản nợ mua vật liệu làm nhà năm 2019, ông V yêu cầu
chia:
+ Nợ chủ cửa hàng Đ1 ở thôn M, L, tỉnh Quảng Trị số tiền 50.000.000
3
đồng về đá lá nền.
+ Nợ Công ty V3 thôn L, xã Q số tiền 20.000.000 đồng về sắt.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Ánh M trình bày:
Ba, mẹ chị ông Nguyễn Thành V, Phan Thị Hồng T được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất diện tích 373,4m
2
tại thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng
Bình cũ. Một phần thửa đất đã được xây nhà vào năm 2019. Tiền xây nhà
công sức đóng góp của chị. Trong thời gian từ năm 2019 đến năm 2021, chị
thường xuyên gửi tiền về số tài khoản của bố và mẹ để trả tiền xây nhà và trả nợ
ngân hàng, tổng số tiền chị gửi về xây n705.769.000 đồng (có biên lai chuyển
tiền nộp kèm theo), trong đó gửi vào số tài khoản mẹ là 610.000.000 đồng.
Thời điểm xây nhà 2019, ông V làm ăn thua lỗ, phá sản. Để trả nợ, ông V
đã thế chấp sổ đỏ tại ngân hàng, chị M phải gửi tiền để trả nợ lãi ngân hàng,
lấy sổ đvề. Tại phiên tòa, ông V khai chỉ công nhận số tiền 410.000.000 đồng
do chị gửi về, mặc thực tế chị đã gửi nhiều hơn theo bảng sao kê, tuy nhiên chị
chấp nhận thống nhất số tiền như ông V đã thừa nhận.
Trong quá trình xây nhà, vì mcon chị tin tưởng nên đưa tiền để ông V chi
trả các khoản vật liệu, công thợ. Nhưng ông V lại không chịu trả cho bên bán vật
liệu. Nay ông V kê khai nợ vật liệu, đề nghị Tòa án kiểm tra các giấy tờ mua bán
do ông V nộp, làm rõ các khoản nợ vật liệu là nợ chung hay nợ riêng.
Đối với công sức của chị góp vào quá trình tạo lập tài sản nhà cửa, chị
nhường lại cho Phan Thị Hồng T, đnghị Toà án giao cho bà T được ngôi
nhà 1 tầng đổ mới xây năm 2019, vì bà T còn nuôi con gái út lớp 7 ăn học và chị
em chị có nơi để về.
Đại diện Công ty TNHH V3, bà Lại Thị V2 trình bày:
Năm 2019, ông V đến mua sắt tại Công ty TNHH V3 để làm nhà. Đến
thời điểm hiện tại, ông V vẫn còn nợ sắt số tiền 20.000.000 đồng. Hóa đơn ông V
nộp cho Tòa án đúng của Công ty lập nên. Nay yêu cầu ông V, T ng
trách nhiệm để trả cho Công ty.
Chủ cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng Đ, bà Dương Thị T1 và ông
Võ Văn Đ trình bày:
Năm 2019, 2020 ông V có đến cửa hàng Đanh T2 mua đá lát nền làm nhà.
Đến thời điểm hiện tại, ông V vẫn còn nợ số tiền 48.614.000 đồng. Hóa đơn ông
V nộp cho Tòa án đúng của hàng ông, bà lập nên. Nay yêu cầu ông V, bà T cùng
có trách nhiệm để trả cho ông, bà.
* Kết quả thẩm định tại chỗ: Thửa đất 237, tờ bản đồ số 21, diện tích 373,4
m
2
, trong đó đất tại nông thôn 150m
2
, đất trồng cây hàng năm khác (HNK)
223,4m
2
, tại thôn X, xã T, tỉnh Quảng Trị, hiện trạng trên thửa đất có các tài sản
sau: 01 Ngôi nhà 1 tầng, mái đổ bê tông diện tích 110,3m
2
; 01 Quán xây mái lợp
tôn diện tích 32,2m
2
; mái lợp tôn (trước và sau quán) tổng diện tích 51,5m
2
; hàng
rào (6,55 +10mm+22,57m+13,99m); 02 trụ cổng; cổng sắt (3,1m x 2,2m) 02
cây huê;
* Kết quả định giá tài sản:
+ Quyền sử dụng đất 373,4m
2
có giá trị 244.166.100 đồng, trong đó 150m
2
đất ở có giá trị 139.950.000 đồng và 223,4m
2
đất trồng cây hàng năm khác có giá
trị 104.216.100 đồng;
4
+ Ngôi nhà 01 tầng giá trị 647.240.400 đồng;
+ Các tài sản khác: 01 Quán xây mái lợp tôn giá trị 95.151.000 đồng; mái
lợp tôn (trước sau quán) giá trị 16.325.500 đồng; hàng rào giá trị 60.970.280
đồng; 02 trụ cổng giá trị 1.148.000 đồng; cổng sắt giá trị 7.024.600 đồng và 02
cây huê giá trị 310.800 đồng. Tổng giá trị 180.929.380 đồng.
Với những nội dung trên,
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 11
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4- Quảng Trị, đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản
1 Điều 228, Điều 244, Điều 246 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Điều 59, Điều 61, 62 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Thị Hồng T v
chia tài sản chung sau ly hôn với ông Nguyễn Thành V.
2. Chia cho ông Nguyễn Thành V được quyền sử dụng, sở hữu các tài sản
sau:
- Về quyền sdụng đất: Diện tích 175,9m
2
đất tại thửa đất 237, tờ bản đ
số 21 (trong đó có 75m
2
đất ở và 100,9m
2
đất HNK), tại X, xã T, tỉnh Quảng Trị,
tứ cận như sau:
Phía Bắc có kích thước 1,71m + 6,20m, giáp đường liên xã; phía Đông
kích thước 23,19m,giáp diện tích chia cho bà T thuộc thửa 237, tờ bản đồ số 21;
phía Nam kích thước 5,85m +1,22m, giáp thửa 248 tờ bản đồ số 21 Phía
Tây có kích thước 20,36m, giáp thửa 236 tờ bản đồ số 21.
(Theo sơ đồ kèm theo bản án là từ điểm 1- 2 - 13 - 14 - 12 - 1)
- Tài sản trên đất gắn liền với diện tích đất được chia cho ông V như trên,
gồm:
+ 01 Quán xây mái lợp tôn tổng diện tích 32,2m
2
+ Mái lợp tôn (trước và sau quán) tổng diện tích51,5m
2
+ Hàng rào (22,57m + 5.84m);
Tổng giá trị tài sản ông V được chia nhận hiện vật là: 261.136.030 đồng.
3. Chia cho Phan Thị Hồng T được quyền sử dụng, sở hữu các tài sản
sau:
- Về quyền sử dụng đất: Diện tích 197,5m
2
tại thửa đất 237, tờ bản đồ số
21(trong đóđất ở 75m
2
, đất HNK 122,5m
2
),tứ cận như sau:
Phía Bắc kích thước 8,13m giáp đường liên ; phía Đông kích thước
18,24m+3,20m, lần lượt giáp thửa số 10 và 13 tờ bản đồ số 21; phía Namkích
thước 8,15m giáp thửa 248 tờ bản đồ số 21 phía Tây kích thước 23,19m,
giáp diện tích chia cho ông V thuộc thửa 237, tờ bản đồ số 21.
(Theo sơ đồ kèm theo bản án là từ điểm 6-8-9-14-13-6)
- Tài sản trên đất gắn liền với diện tích đất được chia cho T như trên,
gồm:
+ 01 ngôi nhà ở 01 tầng, mái đổ bê tông diện tích 110,3m
2
+ 02 Trụ cổng + Cổng sắt (3,1m x 2,2m)
+ Hàng rào (8.15m + 10m + 6,55m)
5
+ 02 cây Huê.
Tổng giá trị tài sản bà T được chia nhận hiện vật là: 811.200.650 đồng.
4. Về nghĩa vụ nợ chung: Buộc ông Nguyễn Thành V, bà Phan Thị Hồng T
có nghĩa vụ trả nợ chung. Giao cho ông Nguyễn Thành V phải có trách nhiệm trả
nợ cho Công ty TNHH V3 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) và trả
cho ông Văn Đ, Dương Thị T1 số tiền 48.614.000 đồng (Bốn mươi tám
triệu, sáu trăm mười bốn nghìn đồng).
5. Thanh toán chênh lệch quyền nghĩa vụ: Buộc Phan Thị Hồng T
phải giao lại cho ông Nguyễn Thành V số tiền 162.055.430 đồng về hưởng giá trị
tài sản chênh lệch và số tiền 34.307.000 đồng về nghĩa vụ trả nợ. Tổng cộng T
phải giao lại cho ông V là 196.362.430 đồng.
6. Về án phí sơ thẩm:
Buộc Phan Thị Hồng T phải chịu số tiền 30.308.878 đồng về án phí
thẩm nhưng được trừ vào số tiền 11.400.000 đồng tạm ứng án phí T đã nộp
theo Biên lai số 0004102 ngày 20/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện
Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình cũ, số tiền còn lại T phải tiếp tục nộp để sung
vào Ngân sách nhà nước.
Buộc ông Nguyễn Thành V phải chịu số tiền 21.159.573 đồng về án phí sơ
thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, quyền yêu cầu
thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 23/9/2025, bị đơn ông Nguyễn Thành V kháng cáo bản án, đề nghị
cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo ớng xác định quyền sử dụng đất diện
tích 373,4m
2
tại thửa đất số 237, tờ bản đồ s21 tài sản riêng của ông V
trước thời kỳ hôn nhân. Tài sản chung với T là tài sản trên đất, gồm ngôi nhà
đổ bằng diện tích 110,3m
2
; 01 mái tôn 44m
2
01 nhà quán 32,2m
2
. Phân chia tài
sản giao nhà và quyền sử dụng đất cho ông V, ông V chia đôi giá trị ngôi nhà và
10% giá trị quyền sử dụng đất giao cho bà T. Số tiền con gái (Á) gửi về làm nhà
không phải 410.000.000đồng không coi đó công sức đóng góp của con.
Không buộc ông V chịu án phí sơ thẩm đối với giá trị quyền sử dụng đất có trước
khi kết hôn với bà T.
Ngày 12/12/2025, ông Nguyễn Thành V yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
thẩm định giá quyền sử dụng đất theo giá thị trường.
Theo Chứng thư thẩm định giá số 061/2025/1394/CT ngày 29/12/2025,
Công ty TNHH K - T.D.K cung cấp kết quả định giá quyền sử dụng đất: Đất
(ONT) 150m
2
x 2.100.000 đồng/m
2
= 315.000.000 đồng đất trồng cây hàng
năm (HNK) 223,4m
2
x 850.000 đồng/m
2
= 189.000.000 đồng. Tổng giá trị quyền
sử dụng đất 504.890.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị
đơn không rút kháng cáo, chị M cho rằng số tiền chị gửi về cho bố mẹ làm nhà là
góp công sức vào xây nhà để nơi bố mẹ và các chị em ở, chứ không cho bố mẹ,
các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết ván và đnghị
giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị có ý kiến như sau:
6
- Về tố tụng: Các Thẩm phán, Thư ký cấp phúc thẩm chấp hành đúng, đầy
đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng thực hiện
đúng quy định của Bộ luật tố tụng n sự đảm bảo quyền nghĩa vụ của mình
khi tham gia tố tụng.
- V nội dung: Bản án thẩm chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung vợ
chồng là thửa đất tài sản trên đất để chia theo phần là có căn cứ đúng quy định.
Tuy nhiên tại giai đoạn giải quyết theo trình tự phúc thẩm theo chứng thư thẩm
định giá thửa đất theo giá thị trường nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của
bị đơn sửa án sơ thẩm theo hướng tăng giá trị thửa đất để chia cho đương sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị HĐXX phúc thẩm chấp
nhận 1 phần kháng cáo của bị đơn sửa bản án thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST ngày
11/9/2025 của Tòa án Khu vực 4, tỉnh Quảng Trị.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị đơn không chịu án phí
phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các i liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Phan Thị Hồng T
yêu cầu chia tài sản chung của bà T với ông Nguyễn Thành V sau khi ông, bà đã
ly hôn, bị đơn ông Nguyễn Thành V cư trú tại xã T, tỉnh Quảng Trị, Tòa án nhân
dân khu vực 4 căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật
tố tụng dân sự thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ “Tranh chấp về chia tài sản
sau khi ly hôn” là đúng quy định của pháp luật.
[1.2] Sự vắng mặt của đương sự: Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, căn cứ
khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
[2.1] Xác định tài sản chung:
- Quyền sử dụng đất diện tích 373,4 m
2
(150m
2
đất ở; 223,4m
2
đất HNK) tại
thôn X, T, tỉnh Quảng Trị (trước đây X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình). Thửa
đất y, T xác nhận là tài sản của ông V trước khi kết hôn với bà năm 1995,
đến năm 2017, thửa đất mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu
và mang tên ông V, bà T. Mặc dù, thửa đất được xác định là tài sản riêng của ông
V có trước khi kết hôn với bà T, nhưng ông V tự nguyện nhập vào tài sản chung
và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chung vợ chồng,
do đó Tòa án cấp thẩm xác định quyền sử dụng đất diện tích 373,4 m
2
của thửa
đất 237, tờ bản đồ số 21 tại thôn X, X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình
theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 921582 ngày 23/01/2017 là tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân của ông V, bà T là có căn cứ.
Kết quả định giá theo giá thị trường diện tích đất 373,4m
2
giá trị
504.890.000 đồng.
- Ngôi nhà được xây trên thửa đất: Ngôi nhà được xây trên diện tích
110,3m
2
vào năm 2019, giá trị theo kết quả định giá 647.240.400 đồng. Ngôi
7
nhà này do ông V và T xây dựng, chị M đóng góp tiền xây nhà. Ông V thừa
nhận góp số tiền 70.000.000 đồng xác nhận chị M đóng góp 410.000.000 đồng,
tại phiên tòa thẩm chM thống nhất chấp nhận đóng góp số tiền này. Do đó,
Tòa án cấp thẩm xác định đây tài sản chung của ông V, T công sức
đóng góp của chị M để phân chia là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với các tài sản xây dựng khác trên thửa đất: Ông V, bà T xác nhận là
tài sản chung của ông bà gồm: 01 Quán xây mái lợp tôn, giá trị 95.151.000 đồng;
mái lợp tôn (trước sau quán), giá trị 16.325.500 đồng; hàng rào, giá trị
60.970.280 đồng; 02 trụ cổng trị giá 1.148.000 đồng; cổng sắt, giá trị 7.024.600
đồng và 02 cây huê, giá trị 310.800 đồng. Tổng giá trị 180.929.380 đồng.
[2.2] Phân chia tài sản:
- Đối với quyền sử dụng đất: Nguồn gốc thửa đất do ông V tạo lập trước
khi kết hôn với bà T o năm 1995, sau khi kết hôn T đã đến sinh sống trên
thửa đất, năm 2017, ông V nhập thửa đất vào tài sản chung ông V cùng T
đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tại phiên tòa thẩm cũng
như phiên tòa phúc thẩm, ông V không chứng minh được có sự thỏa thuận giữa
ông với T xác lập đó tài sản riêng của ông V. Quá trình sinh sống, T đã
có công sức tôn tạo, giữ gìn thửa đất cùng ông V từ đó đến nay, do đó Tòa án cấp
thẩm đã xem xét, đánh giá công sức của ông V nhiều hơn T chia cho ông
V được hưởng 70% giá trị thửa đất, T được 30% giá trị thửa đất phù hợp.
Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kết quả định giá thửa đất theo giá thị trường có
giá trị 504.890.000 đồng, ông V được chia 70% tương ứng số tiền 353.423.000
đồng, bà T được chia 30% tương ứng số tiền 151.467.000 đồng.
- Đối với ngôi nhà giá trị 647.240.400 đồng, Tòa án cấp thẩm xác
định theo phần, ông V T mỗi người nhận ¼ chị M nhận
2
/
4
giá trị ngôi
nhà là phù hợp với công sức đóng góp của từng người. Theo đó, chị M được chia
323.620.000đồng; ông V và bà T mỗi người được chia 161.810.000 đồng. Chị M
đồng ý giao phần giá trị tài sản của chị được chia cho bà T nên bà T được hưởng
485.430.000 đồng.
- Đối với các tài sản xây dựng khác trên thửa đất: Có tổng giá trị
180.929.380 đồng, ông V bà T cùng tạo lập, Tòa án cấp thẩm chia mỗi người
được hưởng 50% giá trị, theo đó ông V, bà T mỗi người chia 90.464.690 đồng là
phù hợp.
Như vậy: Tổng giá trị tài sản ông V được chia 605.697.690 đồng; T
được chia 727.361.690 đồng.
[2.3] Xem xét nhu cầu sử dụng nguyện vọng của ông V, T cho phù
hợp và đảm bảo cuộc sống của mỗi bên, T phụ nữ và sau khi ly hôn còn phải
nuôi con chưa thành niên nên Tòa án cấp thẩm giao cho T quyền sở hữu
ngôi nhà, gắn quyền sử dụng đất diện tích 197,5m
2
(75m
2
đất ở, 122,5m
2
đất trồng
cây) phần tài sản trên đất gồm phần ng rào xung quanh nằm trên phần đất
được giao (8.15m + 10m + 6,55m); trụ cổng; cổng sắt và 02 cây huê là phù hợp.
giá trị: Đất 261.625.000 đồng; nhà 647.240.400 đồng; hàng rào 28.355.600
đồng; cổng sắt 7.024.600 đồng; trụ cổng 1.148.000 đồng; 02 cây huê 310.800
đồng. Tổng giá trị tài sản bà T được giao 945.703.000 đồng (làm tròn).
8
Phần tài sản còn lại được giao cho ông V gồm quyền sử dụng đất 175,9m
2
(75m
2
đất ở, 100,9m
2
đất trồng cây); 01 Quán xây mái lợp tôn; mái lợp tôn (trước
sau quán) phần còn lại của ng rào xung quanh nằm trên phần đất được
giao (22,57m + 5.84m). giá trị: Đất 243.265.000đồng; 01 Quán xây 95.151.000
đồng; mái tôn 16.325.500 đồng hàng rào 32.614.680 đồng. Tổng giá trị tài sản
ông V được giao 387.356.000đồng (làm tròn).
Như vậy: Tài sản T được chia 727.361.000 đồng, ông V được chia
605.698.000 đồng. T được giao 945.703.000 đồng ông V được giao
387.356.000 đồng nên bà T có nghĩa vụ giao tiền chênh lệch chia tài sản cho ông
V là 218.342.000 đồng.
[2.4] Về nợ chung: Số tiền nợ Công ty TNHH V3 20.000.000 đồng ông
Văn Đ, Dương Thị T1 48.614.000 đồng, Tòa án cấp sơ thẩm xác định nợ
chung trong thời kỳ hôn nhân và buộc ông V, bà T mỗi bên chịu một nửa số tiền
34.307.000 đồng là phù hợp. Ông V tự nguyện trả nợ cho Công ty TNHH V3
ông Văn Đ, Dương Thị T1 nên buộc T phải có nghĩa vụ trả lại số tiền
này cho ông V.
[2.5] Về án phí chia tài sản: Ông V cho rằng toàn bộ quyền sử dụng đất
tài sản riêng của ông nên ông không phải chịu án phí, tuy nhiên Tòa án xác định
đó là tài sản chung giữa ông với T, do các bên không thỏa thuận được với nhau
về việc phân chia nên Tòa án tiến hành chia tài sản chung theo quy định của pháp
luật, căn cứ quy định tại khoản 5, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sdụng án phí và lệ phí Tòa án thì Tòa án cấp sơ thẩm
buộc ông V chịu án pchia tài sản theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản
ông được chia là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông V nộp Đơn xin miễn án phí theo trường hợp
người cao tuổi. Thấy rằng, ông V sinh ngày 04/5/1966, đến ngày 21/01/2026 (xét
xử phúc thẩm) là 59 tuổi 08 tháng 17 ngày. Điều 2 Luật người cao tuổi quy định:
Người cao tuổi được quy định trong Luật này công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi
trở lên”, căn cứ quy định của điều luật, thì ông V không đủ điều kiện được miễn
án phí.
[2.6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, chấp nhận một phần kháng cáo của
ông Nguyễn Thành V sửa một phần Bản án hôn nhân gia đình thẩm số
13/2025/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4,
tỉnh Quảng Trị về xác định lại giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường, phát
sinh sau khi Tòa án cấp thẩm xét xử do có đề nghị của bị đơn định giá lại
phần án phí dân sự sơ thẩm do chia lại giá trị quyền sử dụng đất nên không phải
lỗi của cấp sơ thẩm.
[3] Về án phí:
+ Án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Thành V phải chịu án phí của số tiền
được hưởng 605.698.000 đồng là 28.228.000 đồng, (20.000.000 đồng + 4% giá
trị vượt quá 400.000.000 đồng); bà Phan Thị Hồng T phải chịu án phí của số tiền
được hưởng 727.361.000 đồng 33.094.000 đồng, (20.000.000 đồng + 4% giá
trị vượt quá 400.000.000 đồng).
9
+ Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn được Tòa án chấp nhận một
phần nên không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm.
[4] Về chi phí tố tụng: Tại cấp phúc thẩm, ông V đã nộp số tiền định giá tài
sản 12.000.000 đồng, đã chi 7.000.000 đồng, đã nhận lại số tiền 5.000.000 đồng.
Trong số tiền 7.000.000 đồng đã chi, ông V, T mỗi người chịu 1 nửa, nên buộc
bà T có nghĩa vụ trả lại cho ông V 3.500.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng
cáo của b đơn ông Nguyễn Thành V sửa một phần Bản án thẩm số
13/2025/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4,
tỉnh Quảng Trị.
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Điều 148; Điều 165 và khoản 2 Điều
296 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 33; Điều 37 Điều 59 Luật hôn nhân gia
đình. Khoản 5, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Hồng T.
1. Về tài sản chung:
1.1. Giao cho ông Nguyễn Thành V quyền sử dụng đất diện tích 175,9m
2
(75m
2
đất ở; 100,9m
2
đất HNK) và sở hữu tài sản trên đất gồm 01 Quán xây mái
lợp tôn diện tích 32,2m
2
, mái lợp tôn (trước sau quán) diện tích 51,5m
2
phần
hàng rào (22,57m + 5.84m) bao quanh phần diện tích đất được giao cho ông V
của thửa đất số 237, tờ bản đồ số 21 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CĐ 921582 do Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 23/01/2017
mang tên Nguyễn Thành V, Phan Thị Hồng T tại thôn X, X, huyện Q, tỉnh
Quảng Bình cũ.
Thửa đất được giao vị trí: Cạnh phía Bắc giáp đường liên 1,71m +
6,20m; cạnh phía Đông giáp thửa đất giao cho bà T 23,19m; cạnh phía Nam giáp
thửa 248 dài 5,84m +1,22m và cạnh phía Tây giáp thửa 236 dài 20,36m.
(Vị trí đất được giao chú thích trên đồ chia thửa đất kèm theo bản án gồm
các điểm 1-2-13-14-11-12).
1.2. Giao cho Phan ThHồng T quyền sử dụng đất diện ch 197,5m
2
(75m
2
đất ở; 122,5m
2
đất HNK) sở hữu tài sản trên đất gồm ngôi nhà ở 01 tầng,
mái đổ bê tông diện tích 110,3m
2
, 02 trụ cổng, cổng sắt (3,1m x 2,2m), phần hàng
rào (8.15m + 10m + 6,55m) bao quanh phần diện tích đất được giao cho bà T và
02 cây huê thuộc thửa đất s237, tờ bản đồ số 21 theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 921582 do UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày
23/01/2017 mang tên Nguyễn Thành V, Phan ThHồng T tại thôn X, xã X, huyện
Q, tỉnh Quảng Bình cũ.
Thửa đất được giao có vị trí: Cạnh phía Bắc giáp đường liên xã 8,13m; cạnh
phía Đông giáp thửa đất số 10 thửa đất số 13 dài 18,24m+3,20m, cạnh phía
Nam giáp thửa đất số 248 dài 8,15m và cạnh phía Tây giáp thửa đất giao cho ông
V dài 23,19m.
10
(Vị trí đất được giao chú thích trên đồ chia thửa đất kèm theo bản án gồm
các điểm 6-8-9-14-13).
1.3. Nghĩa vụ thanh toán tiền chênh lệch chia tài sản: Buộc Phan Thị Hồng
T nghĩa vụ giao số tiền 218.342.000 (hai trăm mười tám triệu, ba trăm bốn
mươi hai nghìn) đồng cho ông Nguyễn Thành V.
2. Sau khi bản án hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Thành V Phan
Thị Hồng T quyền liên hệ quan Nnước thẩm quyền đlàm thủ tục cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất theo quy định pháp
luật.
3. Về nghĩa vụ trả nợ chung: Buộc ông Nguyễn Thành V nghĩa vụ trả cho
Công ty TNHH V3 số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng trả cho ông
Văn Đ, ơng Thị T1 số tiền 48.614.000 (Bốn mươi tám triệu, sáu trăm mười
bốn nghìn) đồng.
Phan Thị Hồng T nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Thành V số tiền
34.307.000 (ba mươi tư triệu, ba trăm lẻ bảy nghìn) đồng.
4. Về chi phí tố tụng: Phan Thị Hồng T nghĩa vụ hoàn trả cho ông
Nguyễn Thành V số tiền 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
khoản tiền gốc phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điu 468 bộ luật dân
sự năm 2015.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành ánhoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án n
sự.
5. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
+ Buộc bà Phan Thị Hồng T phải chịu số tiền 33.094.000 đồng nhưng được
trừ vào số tiền 11.400.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0004102
ngày 20/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng
Bình cũ, T n phải nộp số tiền 21.694.000 (hai mươi mốt triệu, sáu trăm chín
mươi tư nghìn) đồng.
+ Buộc ông Nguyễn Thành V phải chịu số tiền 28.228.000 đồng nhưng được
trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số
0000380 ngày 02/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị, ông V còn phải
nộp số tiền 27.928.000 (hai mươi bảy triệu, chín trăm hai mươi tám nghìn) đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thành V không chịu án phí dân sự
phúc thẩm.
6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
11
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- TAND KV4- Quảng Trị;
- THADS Quảng Trị;
- VKSND KV4- Quảng Trị;
- Các đương sự;
- Phòng KTNV;
- Tổ HCTP;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đoàn Thị Kim Thương
Tải về
Bản án số 02/2026/HNGĐ-PT Bản án số 02/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 02/2026/HNGĐ-PT Bản án số 02/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất