Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT ngày 04/02/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT ngày 04/02/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 04/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/02/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Võ Thị Thanh B ly hôn, chia tài sản chung với ông Nguyễn Trưong T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
——————————
Bản án số: 04/2026/HN-PT
Ngày: 04/02/2026
V/v “Ly hôn và tranh chấp chia tài sản
chung khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGA VIỆT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh phúc
——————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Đỗ Thị Thúy Năng.
Các Thẩm phán: Ông Ngô Hà Nam;
Bà Thái Thị Phi Yến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Lương Thị Chung - Kiểm sát viên.
Vào ngày 04 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà
Nẵng xét xử phúc thẩm ng khai vụ án thụ số: 37/2025/TLPT- HNGĐ ngày 20
tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn”.
Do Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số: 146/2025/HN-ST ngày 15
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - thành phố Đà Nẵng bị kháng
cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 43/2025/QĐXXPT-
HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2026/QĐ -TA
ngày 14 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Võ Thị Thanh B, sinh năm 1982; Địa chỉ: A T, phường H,
thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trương T, sinh năm 1975; Địa chỉ: A T, phường H,
thành phố Đà Nẵng; Địa chỉ liên hệ: Tầng F, tòa nhà Q, B N, phường X, thành phố
Hồ Chí Minh. Có mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1/ Công ty TNHH G; Địa chỉ trụ sở: A T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk
lắk;
Người đại diện theo pháp luật:Võ Thị Thanh B - chức vụ: Giám đốc. Có
mặt.
3.2/ Bà Ngô Thị C, sinh năm 1957 và ông Võ Văn N, sinh năm 1954
Cùng địa chỉ: F T, phường H, thành phố Đà Nẵng.
2
Người đại diện theo uỷ quyền của ông C và bà N: Bà Nguyễn Thị Lê N1, sinh
năm 2003; Địa chỉ: Phường S, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xét xử vắng mặt.
3.3/ Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ trụ sở: 2 N, phường X, thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Triệu K Chức vụ Trưởng phòng
Dịch vụ khách hàng - Ngân hàng TMCP S- Chi nhánh S1, sinh năm 1978; Địa chỉ:
B đường N, phường H, thành phố Đà Nẵng (Theo giấy ủy quyền số: 20/GUQ-CNSH
ngày 13/01/2026 của Giám đốc Ngân hàng TMCP S- Chi nhánh S1). đơn xét xử
vắng mặt.
3.4/ Công ty TNHH T6; Địa chỉ trụ sở: A T, phường H, thành phố Đà Nẵng;
Người đại diện theo pháp luật: Bà Võ Thị Thanh B - chức vụ: Giám đốc. Có mặt.
3.5/ Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1988 và bà Văn Thị H, sinh năm 1992.
Cùng địa chỉ tại: F T, phường H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo uỷ
quyền:Trần Lê Khánh L, sinh năm 1996; Địa chỉ: A N, phường H, thành phố Đà
Nẵng. Có đơn xét xử vắng mặt.
3.6/ Ông Trương Hải T1; Địa chỉ: 0 C, phường B, tỉnh Đăklăk;
Người đại diện theo uỷ quyền: Nguyễn Thanh T2, sinh năm 2002; Địa chỉ:
Tổ dân phố T, xã T, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xét xử vắng mặt.
3.7/ Ông Văn Á; Địa chỉ: A T, phường B, tỉnh Đăk Lăk. đơn xét xử
vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:
* Nguyên đơn bà Võ Thị Thanh B trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà B và ông Nguyễn Trương T tự nguyện kết hôn vào
năm 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Đà
Nẵng - nay phường H thành phố Đà Nẵng, theo Giấy đăng ký kết hôn số 30/2019
ngày 04/4/2019. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn bà B và ông T cùng
02 con riêng của bà B sống cùng nhau tại Căn hộ N, phòng 607, Block A để tiện cho
việc học của các con. Đến tháng 1/2020 bà B và ông T chuyển về sống tại A T, quận
H, thành phố Đà Nẵng, nhà đất này thuộc sở hữu của ông Võ Văn N2 và bà Ngô Thị
C là cha mẹ của bà B.
Vợ chồng bà B ông T sống hạnh phúc đến tháng 6/2019 thì phát sinh mâu
thuẫn. Nguyên nhân theo B do ông T thường hay ghen tuông cớ, gán ghép,
vu khống với hàng chục người đàn ông bạn bè, đồng nghiệp, thậm chí cả
những người chưa thân quen. Mặc vậy vẫn cố gắng chịu đựng nghĩ đây
căn bệnh ông T phải mang khi bị phản bội đau đớn cuộc hôn nhân trước đó với
vợ cũ. đã xem ông T ‘bệnh nhân” để cảm thông bqua hết lần này đến lần
khác. Nhiều lần hai bên gia đình khuyên bảo nhưng vẫn không khắc phục được mâu
thuẫn. Tháng 3/2025 đã không thể chấp nhận được yêu cầu được ly hôn. Đến
nay tình cảm vợ chồng của đối với ông T không còn nên đề nghị Toà án giải
quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Trương T.
- Về con chung: xác định bà và T không có con chung.
- Về tài sản chung nợ chung: Tại đơn khởi kiện Thị Thanh B không
yêu cầu tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Trương T bổ
3
sung yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời khôn nhân, ý kiến
trình bày như sau: Theo văn bản sửa đổi, bổ sung ý kiến về việc giải quyết tài sản
chung ngày 06.5.2025 và văn bản ý kiến về việc giải quyết tài sản trong vụ án hôn
nhân gia đình ngày 25.6.2025 của ông Nguyễn Trương T cho rằng tài sản chung của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trị giá 15.500.000.000 đồng và đề nghị chia theo tỷ
lên 50/50 phần ông T nhận là 7.750.000.000 đồng bà có ý kiến như sau:
- Đối với thửa đất số A4-05, tờ bản đồ số TMB, diện tích 153 m
2
tọa lạc tại
địa chỉ: Khu đô thị S - Đ, phường Đ, thị Đ, tỉnh Quảng Nam (Nay phường Đ,
thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số CT14668 do Ủy ban nhân dân tỉnh Q cấp ngày
18/4/2017 cho Thị Thanh B ông Nguyễn Trương T đứng tên. Theo chứng
thư thẩm định giá số 434/2025/78 ngày 26/8/2025 của Công ty TNHH T7 giá trị
2.006.442.000 đồng, bà đồng ý mỗi người được ½ giá trị. đồng ý giao thửa đất
này cho ông T sở hữu, sử dụng.
- Đối với thửa đất số 499, tờ bản đồ số 4, diện tích 268 m
2
tọa lạc tại địa chỉ:
P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi (Nay phường T, tỉnh Quảng Ngãi) theo Giấy
chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất
số CH00330 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 18/1/2012 cho
Thị Thanh B ông Nguyễn Trương T đứng tên. Đây là tài sản chung của vợ
chồng, đồng ý chia cho ông T ½. Theo chứng tthẩm định giá số 434/2025/78
ngày 26/8/2025 của Công ty TNHH T7 giá trị 950.596.000 đồng. Bà đề nghị giao
thửa đất này cho bà sở hữu, sử dụng.
- Đối với các thửa đất số 352, tờ bản đsố 30, diện tích 3624,8 m
2
tọa lạc địa
chỉ tại thôn S, D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số C30466 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 10/11/2020 do bà Võ Thị Thanh B đứng tên.
- Thửa đất số 350, tờ bản đồ số 30, diện tích 3119,2 m
2
tọa lạc địa chỉ tại thôn
S, D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số C30465 do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh Đ cấp ngày 10/11/2020 do bà Võ Thị Thanh B đứng tên.
- Thửa đất số 176, tờ bản đồ số 66, diện tích 1172 m
2
tọa lạc địa chỉ tại D,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số CH04828 do Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh
Đắk Lắk cấp ngày 02/2/2024 do bà Võ Thị Thanh B đứng tên.
Theo chứng thư thẩm định gsố 434/2025/78 ngày 26/8/2025 của Công ty
TNHH T7 thì các thửa đất số 350, 352 và thửa số 76 có giá trị 973.668.000 đồng. Bà
đề nghị giao 03 thửa đất này cho bà sở hữu, sử dụng.
Như vậy, tổng giá trị thị trường đối với 3 tài sản trên tại thời điểm tháng 8 năm
2025 là: 3.930.706.000 đồng. Qua quá trình toà án tiến hành hoà giải, thống nhất
về giá trị thẩm định giá nói trên. đồng ý chia đôi mỗi người được hưởng 50%
trên tổng giá trị tài sản trên. Ông Nguyễn Trương T được nhận thửa đất số A4-05 trị
giá 2.006.442.000 đồng. B được nhận: thửa đất s499, các thửa đất số 350, 352
và thửa số 76 có tổng giá trị là 1.924.264.000 đồng, đề nghị ông T phải thối trả phần
chênh lệch giá trị tài sản được nhận cho tương ứng với số tiền 41.089.000
đồng.
4
- Đối với phần vốn góp và tài sản hình thành trong việc đầu tư dự án điện mặt
trời của Công ty TNHH G, ông T cho rằng đây tài sản chung trong thời khôn
nhân yêu cầu chia ½ giá trị tài sản tương đương 4.250.000.000 đồng đề nghị
được nhận tiền mặt hoặc phần góp vốn bà không đồng ý với yêu cầu này của ông T
chia tài sản 50/50 đối với 80% vốn góp tại Công ty TNHH G, bởi hiện nay,
chỉ làm thcho mẹ là bà Thị C1 với cách người đại diện theo pháp luật
của Công ty TNHH G. Vợ chồng không còn bất kỳ quyền lợi nào từ công ty do
phần vốn góp sau khi chuyển nhượng, ông T đã được nhận ½ giá trị. Nên việc ông T
yêu cầu chia là không cósở vì hiện tại tài sản này không còn là tài sản chung của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nữa, bà sẽ trình bày cụ thể trong phần trình bày của
người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH G.
- Đối với hợp đồng cho Công ty TNHH G thuê đất, tiền thuê đất theo hợp đồng
trả hằng năm vào tháng 11, đây tài sản hình thành trong tương lai, hiện nay các
bên vẫn đang thực hiện đúng hợp đồng không tranh chấp đối với hợp đồng
thuê này nên khi nào đến hạn công ty chuyển tiền thuê thì schuyển 50% tiền
thuê đất cho ông T.
- Về nợ chung: Bà B không yêu cầu toà án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Trương T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất với trình bày của B vthời gian kết
hôn, địa điểm kết hôn nơi chung sống của vợ chồng sau khi kết hôn. Sau khi kết
hôn vợ chồng chung sống tại căn hộ N, P đường C, quận S, thành phố Đà Nẵng. Đến
năm 2020 ông chuyển đến sinh sống tại A T, thành phố Đà Nẵng nhà của cha
mẹ vợ ông. Trong quá trình chung sống, ông bà sống hạnh phúc đến năm 2019 ông
phát hiện B mối quan hệ khác bên ngoài mâu thuẫn còn do quản kinh tế
chung trong gia đình. Nay bà B yêu cầu ly hôn với ông, ông thống nhất thuận tình ly
hôn.
- Về con chung: Ông xác định ông và bà B không có con chung.
- Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án ông yêu cầu chia tài sản
chung cụ thể như sau:
+ Theo Văn bản sửa đổi, bổ sung ý kiến về việc giải quyết tài sản trong vụ án
ly hôn của ông Nguyễn Trương T đề ngày 06.5.2025, ông T yêu cầu toà án chia đôi
tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 18.000.000.000 đồng, mỗi
người được nhận 50% trên tổng giá trị tài sản 9.000.000.000 đồng. Ông đề nghị
được nhận tài sản như sau:
Thửa đất số A4-05, tờ bản đồ số: TMB: diện tích 153m2 Khu đô thị S Điên
Nam Đ - P. Đ - TX Đ, Tỉnh Quảng Nam, trị giá 1.500.000.000 tỷ.
Thửa đất số 499, tờ bản đồ số 4; diện tích 268m2 trong đó 100m2 đất
nông thôn 168m2 đất trồng cây hàng năm khác, tại P, H. Đ, T. Q, trị giá
khoảng 500.000.000 đồng.
40% tổng giá trị tài sản của Công ty TNHH G nhận bằng phần góp vốn tương
đương 40% vốn trên đăng ký kinh doanh như thực tế đã góp vốn, nhận bằng tiền mặt
hoặc tài sản khác tương đương là hơn 6.000.000.000 đồng
+ Theo bản tự khai của ông Nguyễn Trương T đề ngày 09.5.2025, ông thay đổi
yêu cầu về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau:
5
Ông đề nghị toà án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân. Ông tạm tính tổng giá trị tài sản chung 15.500.000.000 đồng. Ông đề
nghị được nhận 50% giá trị tài sản tương ứng số tiền 7.750.000.000 đồng, cụ thể
ông đề nghị như sau:
Thửa đất số A4-05, tờ bản đồ số: TMB; diện tích 153m2 Khu đô thị S tại Khu
đô thị M Điện Nam Đ - phường Đ - thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, trị giá 1.500.000.000
đồng. Ông đề nghị nhận thửa đất trên thối trả cho B 50% giá trị số tiền
750.000.000 đồng.
Thửa đất số 499, tờ bản đồ số 4; diện tích 268m2 trong đó 100m2 đất
nông thôn 168m2 đất trồng cây hàng năm khác, tại P, huyện Đ, tỉnh Quảng
Ngãi, trị giá khoảng 500.000.000 đồng. Ông đnghị nhận thửa đất trên thối trả
cho bà B 50% giá trị bằng số tiền là 250.000.000 đồng.
- Tiền đầu tài sản hình thành từ Dự án Điện mặt trời áp mái của Công ty
TNHH G, MST 6001703662, đăng lần đầu ngày 16/10/2020 tại địa chỉ A T,
phường T, thành phố B, tỉnh Đăklăk. Người đại diện theo pháp luật: Thị
Thanh B - chức vụ: giám đốc. Ông B góp vốn 80% giá trị phần góp vốn của
công ty 12.000.000.000 đồng. Ông đề nghị nhận 50% giá trị tài sản góp vốn
6.000.000.000 đồng bằng cổ phần vốn góp hoặc tiền mặt.
- đất 8000m2 tại địa chỉ Thôn T, D, Huyện K, tỉnh Đăk Lăk. Hiện 3
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà B đang giữ mua năm 2020 nguồn gốc ttiền
bán Căn hộ Nesthome của ông. Ông tạm tính giá trị tài sản y 1.500.000.000
đồng. Ông đề nghị giao thửa đất trên cho B shữu, sử dụng, B nghĩa vụ
thối trả cho ông số tiền là 750.000.000 đồng.
Tại biên bản hoà giải ngày 04.9.2025 ông cùng B thống nhất gcác tài sản
theo Chứng thư thẩm định giá số 434/2025/78 ngày 26.8.2025 của Công ty TNHH
T7 có tổng giá trị thị trường ước tính đối với 3 tài sản trên tại thời điểm tháng 8 năm
2025 là: 3.930.706.000 đồng. Đồng thời thống nhất thoả thuận về chia đôi các tài
chung cụ thể như sau:
- Ông T được nhận thửa đất số A4-05, tờ bản đồ số: TMB, địa chỉ Khu đô thị S
tại đô thị mới Điện Nam Đ, phường Đ, thị Đ, tỉnh Quảng Nam (N phường Đ,
thành phố Đà Nẵng) trị giá 2.006.442.000 đồng.
- Bà B được nhận các thửa đất số 350, thửa đất số 352, cùng tờ bản đồ số 30 và
thửa 176 tờ bản đồ số 66, địa chỉ Thôn T, D, huyện K, tỉnh Dăk Lăk (Nay Thôn
T, Xã D, tỉnh Dăk Lăk) có giá trị: 973.668.000 đồng và thửa đất số 499, tờ bản đồ số
4, tại Xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi (Nay phường T, tỉnh Quảng Ngãi) giá trị:
950.596.000 đồng. Như vậy tổng tài sản bà B được nhận là 1.924.264.000 đồng.
Ông Nguyễn Trương T tự nguyện thối trả phần chênh lệch giá trị tài sản được
nhận cho bà B tương ứng với số tiền 41.089.000 đồng. Số tiền 41.089.000 đồng
này được khấu trừ vào số tiền thuê đất năm 2025 theo Hợp đồng thuê quyền sử dụng
đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất ngày 15.11.2020 B
phải trả cho ông T.
Đối với yêu cầu chia tài sản chung là tiền đầu tư và tài sản hình thành từ Dự án
Điện mặt trời áp mái của Công ty TNHH G, MST 6001703662, đăng lần đầu
ngày 16/10/2020 tại địa chỉ A T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk lắk. Người đại
diện theo pháp luật: Thị Thanh B - chức vụ: giám đốc. Ông B góp vốn
6
80% giá trị phần góp vốn của công ty là 12.000.000.000 đồng. Ông đề nghị nhận
50% giá trị tài sản góp vốn 6.000.000.000 đồng bằng cổ phần vốn góp hoặc tiền
mặt.
- Ông yêu cầu được chia số tiền Công ty TNHH G thuê đất mỗi năm
100.000.000 đồng, phần ông được nhận 50.000.000 đồng/năm. Nếu bà B không
trả tiền thuê đất hàng năm cho ông thì ông đề nghị bà B phải trả một lần tiền thuê đất
cho ông số tiền là 450.000.000 đồng.
Tại phiên toà sơ thẩm ông đề nghị tổng cộng tài sản chung của vợ chồng là các
lô đất đã được được thẩm định giá tổng số tiền là 3.930.706.000 đồng và 80% giá trị
phần góp vốn của công ty 12.000.000.000 đồng. Tổng tài sản chung
15.930.706.000 đồng ông T đề nghị được nhận 50% giá trị tài sản chung
7.965.353.000 đồng đề nghị được nhận tất cả các tài sản các đất đã được
thẩm định giá trị 3.930.706.000 đồng, B còn phải thối trả cho ông T số tiền
chênh lệch là 4.034.647.000 đồng
- Về nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
+ Bà Võ Thị Thanh B là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH G
trình bày:
- Đối với phần vốn góp tài sản hình thành trong đầu dự án điện mặt trời
của Công ty TNHH G, ông T cho rằng đây tài sản chung trong thời khôn nhân
yêu cầu chia ½ giá trị tài sản tương đương 4.250.000.000 đồng đề nghị được
nhận tiền mặt hoặc phần góp vốn bà không đồng ý với yêu cầu này của ông T là chia
tài sản 50/50 đối với 80% vốn góp tại Công ty TNHH G, bởi lẽ:
Năm 2020, Nhà nước khuyến khích đầu điện mặt trời và bán lại vào mạng
lưới điện quốc gia thông qua các chính sách ưu đãi về giá, thủ tục quy trình theo
Quyết định s13/2020/QĐ-TTg ngày 06/4/2020 về chế khuyến khích phát triển
điện mặt trời tại Việt Nam. Trên sở đó, 02 thành viên còn lại đã thành lập
Công ty TNHH G để đầu tư dự án điện mặt trời với vốn điều lệ 3.000.000.000
đồng.
Ngoài ra, để đầu xây dựng hệ thống điện mặt trời Công ty TNHH G, ngày
01/12/2020, bà có nhờ bố mẹ bà là bà Ngô Thị Công Võ Văn N đứng ra thế chấp
thửa đất số 134, tờ bản đồ số 8 toạ lạc địa chỉ tại A T, phường H, thành phố Đà
Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền shữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số CV 116570 do Sở Tài nguyên Môi trường thành phố Đ cấp
ngày 25/11/2020 do ông Văn N Ngô Thị C chủ sở hữu để bảo đảm
khoản vay cho bà theo Hợp đồng tín dụng số 202025877754 tại Ngân hàng TMCP S
Chi nhánh S1 với số tiền vay 10.000.000.000 đồng. Khoản tiền vay này được
giải ngân theo tiến độ đầu tư của Công ty TNHH G.
nhờ ông Văn Đ (em trai bà) Văn Thị H đứng ra vay giúp theo
Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2020/5594547/HĐngày 10/11/2020 giữa bên
thế chấp là ông Văn Đ cùng vợ Văn Thị H Ngân hàng TMCP Đ1 Chi
nhánh H1 với số tiền là 1.000.000.000 đồng. Số tiền này, ngày 11/11/2020 ông Đ đã
chuyển khoản từ tài khoản số 56010001544406 của Ngân hàng TMCP Đ1 vào tài
khoản của ông Nguyễn Trương T với số tài khoản 0041000190108 của Ngân hàng
TMCP N4 do ông Nguyễn Trương T là chủ tài khoản với 04 giao dịch chuyển khoản
7
(lần 1, lần 2 lần 3 mỗi lần với stiền 299.999.999 đồng lần 4 với số tiền
99.000.000 đồng). Sau đó, ông T nộp vào Công ty TNHH G 1.000.000.000 đồng
này vào ngày 12/11/2020.
Ngày 13/11/2020, ông T rút tiền mặt số tiền 1.000.000.000 đồng từ Công ty
TNHH C2 (nay đã đổi tên thành Công ty TNHH T6) với số tài khoản
56010001368688 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1. Số tiền này thuộc sở hữu
của Công ty TNHH C2 gồm 04 thành viên là: Thị Thanh B, Đắc T3,
Nguyễn Thị Minh T4 ông Nguyễn Trương T, mỗi thành viên có 25%. Tuy nhiên,
trên thực tế số tiền góp vốn vào Công ty TNHH C2 chỉ là người đứng ra góp
vốn và kinh doanh.
Cùng ngày 13/11/2020, ông T nộp tiền mặt với số tiền 1.000.000.000 đồng
ông T đã rút để chuyển vào tài khoản của C3 với nội dung chuyển tiền
Thị Thanh B nộp tiền góp vốn”. Theo đó, ông T không đóng góp phần ksố tiền
góp vốn nào vào Công ty TNHH G.
Từ thời điểm thành lập Công ty G đến nay ông T không đóng góp bất kỳ công
sức từ việc quản lý, tạo thu nhập, tăng giá trị tài sản của Công ty TNHH G
toàn bộ việc quản lý, điều hành, tạo thu nhập, tăng giá trị tài sản là do B làm toàn
bộ.
Sau này, khi Công ty làm ăn thua lỗ, không đủ tiền để thực hiện nghĩa vụ
thanh toán trả n cho C, B bà C đã thoả thuận thống nhất chuyển
nhượng phần góp vốn trong công ty cho C theo Hợp đồng chuyển nhượng phần
vốn góp trong công ty ngày 26/8/2022. Cụ thể, B chuyển nhượng toàn bộ phần
góp vốn hiện có trong Công ty TNHH G với phần vốn chuyển nhượng 80% vốn điều
lệ, trị giá 2.400.000.000 đồng cho bà C.
Sau khi chuyển nhượng 80% phần góp vốn cho bà C, ngày 30/11/2020 Công ty
TNHH G đã chuyển lại cho ông T số tiền 1.200.000.000 đồng với 03 giao dịch, mỗi
giao dịch 400.000.000 đồng từ số tài khoản 040098948998 của Ngân hàng TMCP S
đến số tài khoản 40100000195166 của Ngân hàng TMCP Đ2 do ông Nguyễn
Trương T chủ tài khoản. Vợ chồng bà không còn bất kỳ quyền lợi nào từ công ty
do phần vốn góp sau khi chuyển nhượng, ông T đã được nhận ½ giá trị. Nên việc
ông T yêu cầu chia không sở hiện tại tài sản này không còn tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nữa
+ Bà Nguyễn Thị Lê N1 người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan là Võ Văn NNgô Thị C trình bày:
Năm 2020, con gái của ông N C Thị Thanh B đã góp vốn thành
lập Công ty TNHH G (viết tắt Công ty G). Để tiền đầu dự án xây dựng hệ
thống điện mặt trời của Công ty G, B đã nhờ vợ chồng ông N C đứng ra
bảo đảm khoản vay giữa bà B với Ngân hàng TMCP S Chi nhánh S1 theo Hợp
đồng tín dụng số 202025877754 ngày 01/12/2020. Số tiền vay 10.000.000.000
đồng (Bằng chữ: Mười tỷ đồng), bảo đảm khoản vay bằng tài sản riêng của vợ
chồng ông N bà C là nhà đất tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số 8, địa chỉ A T, phường
B, quận H, thành phố Đà Nẵng (nay phường H, thành phố Đà Nẵng) theo Giấy
chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất
số CV 116570 do Sở T cấp ngày 25/11/2020. Đến năm 2022, Công ty G làm ăn thua
lỗ nên để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng ông N C, B đã chuyển
8
nhượng toàn bộ phần vốn góp của mình có giá trị 2.400.000.000 đồng (Bằng chữ:
Hai tbốn trăm triệu đồng) cho Ngô Thị C theo Hợp đồng chuyển nhượng phần
vốn góp ký ngày 26/08/2022. Trên cơ sở đó, bà C đã trở thành cổ đông sáng lập mới
của Công ty G, nắm giữ 80% vốn điều lệ theo Quyết định số 01/QĐ-HDTV của Hội
đồng thành viên Công ty TNHH G ngày 26/08/2022. Bà B hiện nay được Công ty G
thuê làm đại diện theo pháp luật cho Công ty chkhông còn thành viên góp vốn
cho Công ty.
Theo đó, việc B chuyển nhượng cho C đúng theo quy định của pháp
luật doanh nghiệp (tại Khoản 7 Điều 53 Luật Doanh nghiệp 2020) và đã được Sở Kế
hoạch Đầu tư tỉnh Đ sửa đổi, bổ sung thông tin về thành viên góp vốn trên Giấy
chứng nhận đăng doanh nghiệp mã số 6001703662 của Công ty G. Việc chuyển
nhượng đã được thực hiện xong, hiện nay B không còn vốn góp tại Công ty G,
nên ông T yêu cầu chia phần vốn góp không sở. Do đó, ông N C không
đồng ý với yêu cầu chia tài sản chung của ông Nguyễn Trương T phần vốn góp
của Công ty G.
+ Trần Khánh L người đại diện theo uỷ quyền của Văn Thị H
ông Võ Văn Đ trình bày như sau:
Năm 2020, chị ruột của ông Đ Thị Thanh B đã thành lập Công ty
TNHH G (viết tắt Công ty G). Để tiền đầu dự án xây dựng hệ thống điện
mặt trời của Công ty G, bà B đã nhờ vợ chồng ông Đ và bà H vay Ngân hàng TMCP
Đ1 Chi nhánh H1 stiền 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng) theo
Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2020/5594547/HĐBĐ ngày 10/11/2020. Sau đó vào
ngày 11/11/2020, theo hướng dẫn của B, ông Đ đã chuyển khoản số tiền trên từ
tài khoản của Ngân hàng TMCP Đ1 vào tài khoản của ông Nguyễn Trương T với 04
giao dịch chuyển khoản (lần 1, lần 2 lần 3 mỗi lần với số tiền 299.999.999 đồng
lần 4 với số tiền 99.000.000 đồng). Ngày 12/11/2020, ông T đã nộp toàn bộ số
tiền trên vào Công ty G.
Theo đó, số tiền ông T nộp vào Công ty G thực chất tiền do vợ chồng
ông Đ H vay từ ngân hàng để cho bà B mượn nhằm phục vcho việc kinh
doanh của Công ty G. Ông T chỉ người chuyển tiền, trên thực tế không đóng
góp tài sản cho Công ty G. Do đó, việc ông T yêu cầu chia tài sản chung của vợ
chồng ông T và bà B là phần vốn góp của Công ty G là không có cơ sở.
+ Tại bản trình bày ý kiến ngày 03.9.2025 người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan - ông Lê Văn Á trình bày:
Ngày 29/8/2025, ông nhận được Thông báo về việc bổ sung người tham gia
tố tụng số 52/2025/TB-TA ngày 25/08/2025 và Thông báo số 52/TB-TA ngày
27/8/2025 về việc mở phiên họp giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải
của Tòa án nhân dân khu vực 1, thành phố Đà Nẵng đã bổ sung ông vào tham gia tố
tụng của vụ án trên với cách người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đối với
yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông Nguyễn Trương T, ông Á
trình bày ý kiến như sau:
Đối với phần vốn góp và tài sản hình thành trong đầu tư dự án điện mặt trời của
Công ty TNHH G, với tư cách là một thành viên góp vốn của Công ty, ông có ý kiến
như sau: Vào năm 2020, ông cùng với bà Võ Thị Thanh B và ông Trương Hải T1 đã
thành lập Công ty TNHH G (viết tắt Công ty G) với vồn điều lệ 3.000.000.000
9
đồng (Bằng chữ: Ba tỷ đồng chẵn). Tại thời điểm này để được Dự án Công ty
phải thuê đất của một cá nhân mới đủ điều kiện cần để cấp phép đầu tư xây dựng Dự
án. Đồng thời tại thời điểm này Ngân hàng không hỗ trợ cho vay vốn chính dự án
nên phải sử dụng tài sản đảm bảo để thế chấp. Do đó, bà B đã dùng tài sản là nhà đất
bố mẹ ruột của mình đề vay vốn tương ứng với tỷ lvốn góp 80%. Còn lại, ông
ông Trương Hải T1 mỗi người nắm giữ số vồn góp 300.000.000 đông (Bằng
chữ: Ba trăm triệu đồng chẵn), tương ứng với tỷ lệ 10% tổng số vốn điều lệ. Để đầu
xây dựng hệ thống điện mặt trời của Công ty G, B đã vay của Ngân hàng
TMCP S - Chi nhánh S1 số tiền 10.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười tỷ đồng
chẵn), có bảo đảm khoản vay bằng tài sản riêng của bố mẹ bà B là ông Văn N
Ngô Thị C. Đến năm 2022, Công ty G làm ăn không hiệu quả nên để thực hiện
nghĩa vụ trả nợ cho C, B đã chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của mình
cho bà C theo Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp ký ngày 26/08/2022. Trên cơ
sở đó, bà Ngô Thị C đã trở thành cổ đông sáng lập mới của Công ty G, nắm giữ 80%
vốn điều l theo Quyết định số 01/QĐ-HĐTV của Hội đồng thành viên Công ty
TNHH G ngày 26/08/2022. B hiện nay được Công ty G thuê làm đại diện theo
pháp luật cho Công ty chứ không còn thành viên góp vốn cho Công ty. Theo đó,
việc B chuyển nhượng cho C đúng theo quy định của pháp luật doanh
nghiệp (tại Khoản 7 Điều 53 Luật Doanh nghiệp 2020) đã được Sở Kế hoạch
Đầu tỉnh Đ sửa đổi, bổ sung thông tin về thành viên góp vốn trên Giấy chứng
nhận đăng doanh nghiệp số 6001703662 của Công ty G. Từ trước đến nay
ông Á ông T1 chỉ làm việc trực tiếp với bà B C không làm việc với ông
Nguyễn Trương T. Việc chuyển nhượng đã được thực hiện xong, hiện nay bà B
không còn vốn góp tại Công ty G, nên ông T yêu cầu chia phần vốn góp là không có
sở. Do đó, ông không đồng ý với yêu cầu chia tài sản chung phần vốn góp tại
Công ty G của ông Nguyễn Trương T. Do điều kiện ông đang sinh sống xa nên
ông đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1, thành phố Đà Nẵng giải quyết, xét xử vụ án
vắng mặt ông. Ông không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án nói trên.
+ Tại phiên toà, ông Nguyễn Ngọc D - Người đại diện theo uỷ quyền của
Ngân hàng TMCP S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Năm 2020 Ngân hàng TMCP S chi nhánh S1 cho Công ty TNHH G vay
vốn khi thành tập công ty, tài sản thế chấp nhà đất của ông N C đứng ra
bảo đảm khoản vay với Ngân hàng TMCP S Chi nhánh S1 theo Hợp đồng tín dụng
số 202025877754 ngày 01/12/2020. Số tiền vay 10.000.000.000 đồng (Bằng chữ:
Mười tỷ đồng), có bảo đảm khoản vay bằng tài sản riêng của vợ chồng ông N bà C là
nhà đất tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số 8, địa chỉ A T, phường B, quận H, thành
phố Đà Nẵng (nay phường H, thành phố Đà Nẵng) theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CV 116570 do
Sở T cấp ngày 25/11/2020. nợ tính đến ngày 10.9.2025 5.766.312.000 đồng.
quá trình vay vốn bên vay thực hiện trả gốc lãi đúng theo hợp đồng không
vi phạm gì. Đến nay các bên tranh chấp ly hôn và chia tài sản Ngân hàng không có ý
kiến gì. Đối với khoản vay Ngân hàng vẫn đề nghị các bên tiếp tục thực hiện hợp
đồng như đã cam kết. Ngoài ra Ngân hàng không có ý kiến gì khác.
Với nội dung trên, Bản án thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng
căn cứ vào:
10
- Căn cứ Điều 51; Điều 55; Điều 59; Điều 62 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 2 khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật
tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của UBTVQH Khoá 14 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn chia tài sản
chung” của bà Võ Thị Thanh B đối với ông Nguyễn Trương T.
2. Xử:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thoả thuận thuận tình ly hôn của
Võ Thị Thanh B với ông Nguyễn Trương T.
2.2. Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
2.3. Về tài sản chung:
2.3.1. Giao cho ông Nguyễn Trương T được nhận tài sản là thửa đất số A4-05,
tờ bản đsố: TMB, địa chỉ Khu đô thị S tại đô thị mới Đ - Đ, phường Đ, thị Đ,
tỉnh Quảng Nam (N phường Đ, thành phố Đà Nẵng) theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CH733238 do Ủy
ban nhân dân tỉnh Q cấp ngày 18.4.2017 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Thị
Thanh B ông Nguyễn Trương T trị giá 2.006.442.000 đồng. Ông Nguyễn Trương
T phải thối trả phần chênh lệch giá trị tài sản được nhận cho B tương ứng với số
tiền là 41.089.000 đồng (Được khấu trừ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí
thẩm định giá).
2.3.2. Giao cho bà Võ Thị Thanh B được nhận các tài sản là:
+ Thửa đất số 350, tờ bản đồ số 30 địa chỉ Thôn S, D, huyện K, tỉnh Đắk
lắk (Nay Thôn S, D, tỉnh Đắk lắk) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở tài sản khác gắn liền với đất số CV777033 do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 10.11.2020 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của
Thị Thanh B.
+ Thửa đất số 352, tờ bản đồ số 30, địa chỉ Thôn S, D, huyện K, tỉnh Đắk
lắk (Nay Thôn S, D, tỉnh Đắk lắk) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở tài sản khác gắn liền với đất số CV777034 do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 10.11.2020 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của
Thị Thanh B.
+ Thửa 176 tờ bản đồ số 66, địa chỉ Thôn S, xã D, huyện K, tỉnh Đắk lắk (Nay
Thôn S, D, tỉnh Đắk lắk) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất số DN447116 do Ủy ban nhân dân huyện K
cấp ngày 02.02.2024 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Võ Thị Thanh B.
+ Thửa đất số 499, tờ bản đồ số 04, tại P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay
phường T, tỉnh Quảng Ngãi) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất số BE004025 do Ủy ban nhân dân huyện Đ
cấp ngày 18.01.2022 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Trương T
Võ Thị Thanh B.
Ông Nguyễn Trương T được quyền liên hệ với quan nhà nước thẩm
quyền để được chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất đối với: Thửa đất số A4-05, t
11
bản đồ số: TMB, địa chỉ Khu đô thị S tại đô thị mới Đ - Đ, phường Đ, thị Đ, tỉnh
Quảng Nam (Nay phường Đ, thành phố Đà Nẵng).
Thị Thanh B được quyền liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền
để được chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất đối với: Thửa đất số 350, tờ bản đồ số
30 địa chỉ Thôn S, D, huyện K, tỉnh Đắklắk (Nay Thôn S, D, tỉnh Đăklăk);
Thửa đất số 352, tờ bản đs30, địa chỉ Thôn S, D, huyện K, tỉnh Đắklắk (Nay
Thôn S, D, tỉnh Đắklắk); Thửa 176 tbản đồ số 66, địa chỉ Thôn S, D, huyện
K, tỉnh Đắklắk (Nay Thôn S, D, tỉnh Đắklắk) Thửa đất số 499, tbản đồ số
04, tại Xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi (Nay phường T, tỉnh Quảng Ngãi).
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 10.000.000 đồng và chi phí thẩm định
giá 96.400.000 đồng ông Nguyễn Trương T đã tạm ứng (đã thu chi phí xong).
Thị Thanh B tự nguyện hoàn trả chi phí xem xét thẩm định tại chỗ chi phí
thẩm định giá đối với tài sản tranh chấp 53.200.000 đồng (Năm mươi ba triệu hai
trăm nghìn đồng) cho ông Nguyễn Trương T được ông T thối trả phần chênh lệch
giá trị tài sản được nhận cho B tương ứng với số tiền 41.089.000 đồng, nên
B còn phải hoàn trả cho ông T 53.200.000 đồng - 41.089.000 đồng = 12.111.000
đồng.
2.4 Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng Bà Võ Thị Thanh B
phải chịu theo quy định của pháp luật. Án pchia tài sản chung B phải chịu
tương ứng đối với phần tài sản 1.965.353.000 đồng bà được nhận 70.960.590
đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Thị Thanh B đã nộp 300.000
đồng theo biên lai thu số 0005264 ngày 14.3.2025 của Chi cục Thi hành án dân sự
quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (Nay Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng).
Số tiền án phí hôn nhân gia đình thẩm án phí chia tài sản còn lại B nộp
là 70.960.590 đồng.
Án phí chia tài sản chung ông T phải chịu tương ứng đối với phần tài sản
1.965.353.000 đồng ông được nhận là 70.960.590 đồng. Ông Nguyễn Trương T
đã nộp 58.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí chia tài sản theo biên lai thu số
0005502 ngày 08/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố
Đà Nẵng (Nay Thi hành án dân sthành phố Đà Nẵng) Số tiền án phí chia tài sản
còn lại ông T phải nộp là 12.310.590 đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án
thông báo về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 25/9/2025, nguyên đơn Thị Thanh B
kháng cáo toàn bBản án hôn nhân gia đình số 146/2025/HNGĐ-ST ngày 15
tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng xem xét lại toàn bộ vụ
án theo hướng:
- Giao thửa đất số A4-05, tờ bản đồ số TMB; Địa chỉ: Khu đô thS, phường
Đ, thành phố Đà Nẵng, giá trị 2.006.442.000 đồng theo chứng thư thấm định
giá ngày 26/08/2025 cho ông T quản lý, sử dụng đề nghị ông T thối trả cho bà số
tiền chênh lệch là 333.189.400 đồng.
- Giao thửa đất số 499, tờ bản đồ số 4; Địa chỉ: phường T, tỉnh Quảng Ngãi,
có giá trị là 950.596.000 đồng theo chứng thư thấm định giá ngày 26/08/2025 cho
B được quản lý, sử dụng.
12
- B yêu cầu được nhận 80% gtrị tài sản ông T được nhận 20% giá trị
i sản đối với thửa đất số 350, thửa đất số 352, cùng tờ bản đồ s30 thửa đất số
176, tờ bản đồ số 66 địa chỉ tại thôn T, D, tỉnh Đắk Lắk, giá trị
973.668.000 đồng theo chứng thư thẩm định giá ngày 26/08/2025 giao những tài
sản nói trên cho bà B được quản lý, sử dụng.
Ngày 18/9/2025, bị đơn ông Nguyễn Trương T kháng cáo toàn bộ Bản án hôn
nhân gia đình số 146/2025/HN-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Toà án
nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng xem xét lại toàn bộ vụ án theo hướng:
- Hủy phần bản án sơ thẩm về chia tài sản chung.
- Xác định nhập toàn bộ tài sản chung gồm 03 đất tài sản tranh chấp
(trị giá khoảng dưới 4.000.000.000 đồng) và phần vốn góp Công ty G vào để chia tài
sản chung giữa ông và bà B.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng vốn góp ngày 26/8/2022 hiệu, hoặc
tính phần tài sản ông cho rằng B đã tẩu tán bằng giá trị (khoảng 12.000.000.000
đồng) vào khối tài sản chung trước khi chia.
- Xem xét nguồn gốc 03 đất tài sản tranh chấp nguồn gốc trước hôn
nhân (trong đó 2 lô đất chia cho bà B là từ tiền bán căn hộ riêng của ông T), gộp vào
tổng khối tài sản chung chia công bằng theo tỉ lệ 50-50 trên tổng khối tài sản.
- Thu thập chứng cứ bổ sung: 1-Báo cáo tài chính kế toán của C4 tại quan
thuế từ khi thành lập đến nay; 2-Sao tài khoản ngân hàng toàn bộ dòng tiên giao
dịch của C4; 3-Thu thập các hồ chứng từ vay vốn của Công ty G tại ngân hàng;
4-Hồ sơ chuyển nhượng vốn doanh nghiệp đăng ký tại cơ quan nhà nước.
- Áp dụng khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân gia đình, xét đến lỗi của B
trong hôn nhân và tẩu tán tài sản, chia khối tài sản chung.
- Xem xét hoàn cảnh thực tế ông T đã bán căn hộ riêng, dùng tiền góp vào
khối tài sản chung đầu tư, ông T đề nghị nhận theo giá trị 50% 9.000.000.000
đồng, gồm:
+ Đất 153m
2
tại phường Đ, thành phố Đà Nẵng (nguồn gốc trước hôn nhân
khoảng 2.000.000.000 đồng)
+ Đất 8000m
2
tại D, tỉnh Đắk Lắk (nguồn gốc trước hôn nhân khoảng
1.000.000.000 đồng)
+ Đất 268m
2
tại T, tỉnh Quảng Ngãi (nguồn gốc trước hôn nhân khoảng
1.000.000.000 đồng)
+ Phần chênh lệch 4.000.000.000 đồng bằng tiền mặt, hoặc tài sản giá trị
tương đương.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Thị Thanh B giữ nguyên đơn khởi kiện bđơn ông
Nguyễn Trương T giữ nguyên yêu cầu phản tố, các đương sự giữ nguyên nội dung
kháng cáo và không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia
phiên tòa:
- Về thủ tục ttụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, những
người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015.
13
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn
Thị Thanh B bị đơn ông Nguyễn Trương T, giữ nguyên Bản án hôn nhân
gia đình sơ thẩm số 146/2025/HNGĐ-ST ngày 04/9/2025 của Toà án nhân dân
khu vực 1 - Đà Nẵng.
Do kháng cáo của nguyên đơn Thị Thanh B bị đơn ông Nguyễn
Trương T không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí theo quy
định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi xét xử thẩm, các ngày 18 25/9/2025 nguyên đơn Thị
Thanh B bị đơn ông Nguyễn Trương T đơn kháng cáo toàn bộ Bản án hôn
nhân gia đình thẩm số 146/2025/HNGĐ-ST ngày 04/9/2025 của Toà án nhân
dân khu vực 1 - Đà Nẵng. Xét thấy kháng cáo của nguyên đơn bị đơn trong hạn
luật định, hợp lệ nên giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đơn xét xử vắng mặt, nên
HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.
[2]
Xét nội dung kháng cáo ông Nguyễn Trọng T5:
[2.1] Xét kháng cáo của ông T5 về việc cấp thẩm không nhập toàn bộ tài
sản gồm 80% vốn góp vào Công ty là 12 tỷ và 05 thửa đất trị giá 3,9 tỷ đồng để chia,
là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đề nghị hủy án, nhận thấy:
- Ngày 16/10/2020, Công ty được cấp Giấy chứng ĐKDN do bà B là người
đại diện theo pháp luật thành viên góp vốn 2,4 tỷ chiếm tỷ lệ 80%, (không
tên ông T5).
- Ngày 26/8/2022, B đã chuyển nhượng toàn bộ 80% vốn góp cho Ngô
Thị C với giá 2,4 t B cho rằng đã chuyển khoản cho ông T5 1,2 t
(50%).
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông T5 cho rằng, đối với nguồn gốc số tiền góp vốn 2,4 tỷ đồng vào Công ty,
thứ nhất là do ngày 16/11/2020 ông T5 và bà B có vay 1,2 tỷ theo Hợp đồng cho vay
từng lần tại Ngân hàng TMCP Đ2 Chi nhánh Đ3 và ông T5 dùng tài sản riêng của
ông quyền sử dụng đất tại thửa số 9, tờ bản đồ số 17, tại N, thành phố Q do
UBND tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận cho ông ngày 11/3/2019 thế chấp cho Ngân
hàng. Ngày 19/11/2020, đã chuyển vào tài khoản của Công ty TNHH G, ghi nội
dung nộp tiền góp vốn. Ngày 12/11/2020, ông T5 chuyển vào tài khoản Công ty
TNHH G 1.000.000.000 đồng. Ngày 13/11/2020, Công ty TNHH C2 (do ông T5 đại
diện theo pháp luật) cũng chuyển vào tài khoản Công ty TNHH G 1.000.000.000
đồng.
Đối với số tiền bà B cho rằng nhờ ông Văn Đ vay 1.000.000.000 đồng sau
đó chuyển cho ông thì không liên quan đến số tiền như ông trình bày trên.
Đối với việc B tý chuyển nhượng phần vốn góp cho mẹ bà B ông không
biết. B chuyển cho ông 1,2 tỷ đồng, đây tiền B nói ông đi trả nợ cho Ngân
hàng TMCP Đ2 Chi nhánh Đ3 đã vay trước đó.
14
B cũng thừa nhận khi chuyển 1,2 tỷ đồng cho ông T5 cũng không thông
báo cho ông T5 đây là tiền chuyển nhượng phần vón góp vào Công ty TNHH G,
dùng số tiền này để trả nợ một phần, phần còn lại ông T5 dùng vào việc sửa nhà cho
cha mẹ ông T5.
Từ những viện dẫn chứng cứ tài liệu nêu trên cùng với lời khai của các bên
đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, thể thấy phần vốn góp 2,4 tđồng của ông T5
B vào Công ty sở, cấp thẩm nhận định chưa schứng minh
tài sản chung của vợ chồng tách ra giải quyết sau không đúng pháp luật, nên
HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông T5, cần hủy một phần bản án
thẩm về việc chia tài sản chung của ông T5 bà B đối với phần vốn góp vào
Công ty TNHH G và giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 1- thành phố Đà Nẵng
giải quyết lại vụ án theo thủ tục thẩm về việc chia tài sản chung của ông Nguyễn
Trương T và bà Võ Thị Thanh B là phần vốn góp vào Công ty TNHH G.
[2.2] Xét kháng cáo của ông T về tiền thuê đất:
Ngày 15/11/2020, ông T B cho Công ty TNHH G thuê 02 thửa đất
350 352, diện tích 6.744 m
2
(đất trồng cây lâu năm), thời hạn thuê 20 năm, giá
thuê là 2 tỷ/20 năm, tiền thuê thanh toán hàng năm, tính từ khi hợp đồng hiệu lực
15/11/2020.
Trong quá trình giải quyết tại cấp thẩm, các bên không tranh chấp, B
xác định đây tài sản hình thành trong tương lai, hiện nay các bên vẫn đang thực
hiện hợp đồng, khi nào đến hạn Công ty chuyển tiền thuê đất thì B sẽ chuyển
50% tiền thuê đất cho ông T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Thị Thanh B tự nguyện cam kết hàng năm kể
từ năm 2025, sau khi Công ty TNHH G trả tiền thuê đất theo Hợp đồng đã kết
100.000.000 đồng/01 năm, bà Thị Thanh B trích trả cho ông Nguyễn Trương T
50% tiền thuê đất là 50.000.000 đồng/01 năm. Xét sự tự nguyện của bà B không
trái pháp luật, nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện trên của bà B.
[2.3] Xét kháng cáo của ông T và bà B về việc chia lại tỷ lệ tài sản:
Ông T cho rằng về việc chia đất 268 m
2
tại T, Quảng Ngãi trị giá
1.000.000.000 đồng đất 800m
2
đất tại Dur Kmal D trị giá 1.000.000.000 đồng
cho bà B nguồn gốc ttiền bán căn hộ của ông trước hôn nhân (bán nhập
chung vào khối tài sản chung). Tòa không xem xét yêu tố nguồn gốc, dẫn đến chia
tỷ lệ 50/50 là không công bằng.
B yêu cầu chia lại tỷ lệ tài sản chung đối với 03 thửa đất 350, 352 176,
B nhận 80%, ông T 20%. Với lý do, ngày 30/9/2020 nguồn tiền mua 03 thửa đất trên
do vay 1.800.000.000 đồng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 Chi
nhánh H1 được giải ngân ngày 29/9/2020. Việc tất toán khoản vay cho Ngân
hàng dựa vào nguồn tiền được từ việc Phùng Thị N3 nhờ mua đứng tên
giúp thửa đất số 140, tbản đồ số 15, diện tích 500 m
2
tại Tịnh A, thành phố Q, sau
nhiều chuyển nhượng tiếp theo cho đến khi tất toán xong khoản vay cho Ngân hàng
đều xuất phát từ nguồn tài sản của N3, không phải tài sản riêng của bà hay ông
T.
HĐXX nhận thấy: Tại phiên hoà giải ngày 04.9.2025 và tại phiên tòa sơ thẩm,
B ông T đều thống nhất 05 thửa đất đang tranh chấp tài sản chung của vợ
chồng, thỏa thuận về g trị của 05 thửa đất theo Chứng thư thẩm định giá s
15
434/2025/78 ngày 26.8.2025 của Công ty TNHH T7 3.930.706.000 đồng thỏa
thuận mỗi người được nhận 50% g trị tài sản. Cấp thẩm quyết định trên sự
thống nhất và thỏa thuận của ông T và bà B là đúng pháp luật.
Tại giai đoạn phúc thẩm, tuy bà B cung cấp tài liệu chứng cứ mới về việc
chuyển nhượng bất động sản như trên.
Tuy nhiên, HĐXX xét thấy không căn cứ thay đổi tỷ lchia tài sản chung
như nội dung kháng cáo của ông T B, nên không chấp nhận kháng cáo của
B ông T, giữ nguyên quyết định của Bản án thẩm về việc chia tài sản chung
của vợ chồng đối với 05 thửa đất.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo ông T được chấp nhận một phần, nên ông T không phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm.
Kháng cáo của bà B không được chấp nhận, nên bà B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4]
Các phần quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 296; khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 59;
Điều 62 của Luật hôn nhân gia đình; điểm a, b khoản 5 Điều 27; Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của UBTVQH Kh 14 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án..
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Võ Thị Thanh B.
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Trương T. Hủy một phần Bản
án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 146/2025/HN-ST ngày 04/9/2025 của Toà án
nhân dân khu vực 1 - thành phố Đà Nẵng về việc chia tài sản chung của ông Nguyễn
Trương T và bà Võ Thị Thanh B là phần vốn góp vào Công ty TNHH G.
Chuyển hồ cho Tòa án nhân dân khu vực 1- thành phố Đà Nẵng giải quyết
lại vụ án theo thủ tục thẩm về việc chia tài sản chung của ông Nguyễn Trương T
và bà Võ Thị Thanh B là phần vốn góp vào Công ty TNHH G.
Xử:
1. Về tài sản sản chung:
1.1 Giao cho ông Nguyễn Trương T được nhận tài sản là thửa đất số A4-05, tờ
bản đồ số: TMB, địa chKhu đô thị S tại đô thị mới Đ - Đ, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh
Quảng Nam (N phường Đ, thành phố Đà Nẵng) theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất sCH733238 do Ủy
ban nhân dân tỉnh Q cấp ngày 18.4.2017 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Thị
Thanh B ông Nguyễn Trương T trị giá 2.006.442.000 đồng. Ông Nguyễn Trương
T phải thối trả phần chênh lệch giá trị tài sản được nhận cho B tương ứng với số
tiền là 41.089.000 đồng (Được khấu trừ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí
thẩm định giá).
1.2. Giao cho Võ Thị Thanh B được nhận các tài sản là:
+ Thửa đất số 350, tờ bản đồ số 30 địa chỉ Thôn S, D, huyện K, tỉnh Đắk
lắk (Nay Thôn S, D, tỉnh Đắk lắk) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở tài sản khác gắn liền với đất số CV777033 do Sở Tài nguyên
16
Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 10.11.2020 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của
Thị Thanh B.
+ Thửa đất số 352, tờ bản đồ số 30, địa chỉ Thôn S, D, huyện K, tỉnh Đắk
lắk (Nay Thôn S, D, tỉnh Đắk lắk) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở tài sản khác gắn liền với đất số CV777034 do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 10.11.2020 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của
Thị Thanh B.
+ Thửa 176 tờ bản đồ số 66, địa chỉ Thôn S, xã D, huyện K, tỉnh Đắk lắk (Nay
Thôn S, D, tỉnh Đắk lắk) theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất số DN447116 do Ủy ban nhân dân huyện K
cấp ngày 02.02.2024 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Võ Thị Thanh B.
+ Thửa đất số 499, tờ bản đồ số 04, tại P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay
phường T, tỉnh Quảng Ngãi) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất số BE004025 do Ủy ban nhân dân huyện Đ
cấp ngày 18.01.2022 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Trương T
Võ Thị Thanh B.
Ông Nguyễn Trương T được quyền liên hệ với quan nhà nước thẩm
quyền để được chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất đối với: Thửa đất số A4-05, t
bản đồ số: TMB, địa chKhu đô thị S tại đô thị mới Đ - Đ, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh
Quảng Nam (Nay phường Đ, thành phố Đà Nẵng).
Thị Thanh B được quyền liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền
để được chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất đối với: Thửa đất số 350, tờ bản đồ số
30 địa chỉ Thôn S, D, huyện K, tỉnh Đắklắk (Nay Thôn S, D, tỉnh Đăklăk);
Thửa đất số 352, tờ bản đs30, địa chỉ Thôn S, D, huyện K, tỉnh Đắklắk (Nay
Thôn S, D, tỉnh Đắklắk); Thửa 176 tờ bản đồ số 66, địa chỉ Thôn S, D, huyện
K, tỉnh Đắklắk (Nay Thôn S, D, tỉnh Đắklắk) Thửa đất số 499, tbản đồ số
04, tại Xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi (Nay phường T, tỉnh Quảng Ngãi).
2. Về tiền thuê đất:
Ghi nhận sự tự nguyện của Thị Thanh B về việc hàng năm kể từ năm
2025, sau khi Công ty TNHH G trả tiền thuê đất theo Hợp đồng đã kết
100.000.000 đồng/01 năm, bà Võ Thị Thanh B có nghĩa vụ trích trả cho ông Nguyễn
Trương T 50% tiền thuê đất là 50.000.000 đồng/01 năm.
3. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng chi phí thẩm định
giá 96.400.000 đồng ông Nguyễn Trương T đã tạm ứng (đã thu chi phí xong).
Thị Thanh B tự nguyện hoàn trả chi phí xem xét thẩm định tại chỗ chi phí
thẩm định giá đối với tài sản tranh chấp 53.200.000 đồng (Năm mươi ba triệu hai
trăm nghìn đồng) cho ông Nguyễn Trương T được ông T thối trả phần chênh lệch
giá trị tài sản được nhận cho B tương ứng với số tiền 41.089.000 đồng, nên
B còn phải hoàn trả cho ông T 53.200.000 đồng - 41.089.000 đồng = 12.111.000
đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi
hành án chậm thực hiện các nghĩa vụ thì còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi
suất thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất theo quy định tại
khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy
17
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền chậm thi hành án tại
thời điểm thanh toán.
4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng Thị Thanh B
tự nguyện chịu, được trừ vào stiền tạm ứng án phí Thị Thanh B đã nộp là
300.000 đồng theo biên lai thu số 0005264 ngày 14.3.2025 của Chi cục Thi hành án
dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu
vực 1). Bà B đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Án phí chia tài sản chung:
Võ Thị Thanh B phải chịu là 70.960.590 đồng.
Ông Nguyễn Trương T phải chịu là 70.960.590 đồng.
6. Đối với số tiền 58.500.000 đồng mà ông Nguyễn Trương T đã nộp tạm ứng
án phí chia tài sản theo biên lai thu số 0005502 ngày 08/5/2025 tại Chi cục Thi hành
án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (Nay Phòng Thi hành án dân sự
khu vực 1) sẽ được giải quyết khi Tòa án nhân dân khu vực 1, thành phố Đà Nẵng
thụ lại giải quyết về việc chia tài sản chung là phần góp vốn của ông Nguyễn
Trương T và bà Võ Thị Thanh B vào Công ty G.
7. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Trương T không phải chịu, hoàn lại số tiền tạm ứng án phí
300.000 đồng ông T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số
0002583 ngày 30/9/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Thị Thanh B phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án
phí 300.000 đồng B đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số
0003106 ngày 08/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Đà Nẵng;
-THADS TP.Đà Nẵng;
- Phòng THADS khu vực 1;
- TAND khu vực 1 (Kèm theo
hồ sơ vụ án);
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Thúy Năng
Tải về
Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT Bản án số 04/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất