Bản án số 103/2026/DS-PT ngày 09/02/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 103/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 103/2026/DS-PT ngày 09/02/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 103/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/02/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 103/2026/DS-PT
Ngày 09 02 2026
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Văn Toàn.
Các Thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr, bà Lê Thị Thanh Huyền.
- Thư phiên tòa: Nông Thị Quỳnh Hoa - Thư Tòa án nhân n
tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông
Phan Văn Công - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 tháng 01 ngày 09 tháng 02 năm 2026, tại Tòa án
nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số:
519/2025/TLPT-DS ngày 01/12/2025 v việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”.
Do kháng cáo của bị đơn ông YM Ayǔn người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông YN Byă đối với Bản án thẩm số 25/2025/DS-ST ngày
12/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đắk Lắk.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 527/2025/QĐ-PT
ngày 29/12/2025 Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 03/2026/QĐPT-DS
ngày 20/01/2026 và Thông báo chuyển lịch phiên tòa số 130/2026/TB-CL ngày
30/01/2026, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Bùi Thế V, sinh năm 1982; địa chỉ: 161A/16 đường
H phường TA, thành phố B (nay là 161A/16 đường H, phường B), tỉnh Đắk
Lắk.
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Trần Thị Ngọc P, sinh năm
1981; địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường TN, thành phố B (nay tổ dân phố 6,
phường TN), tỉnh Đắk Lắk.
* Bị đơn: Ông YM Ayǔn, sinh năm 1966; Địa chỉ: Buôn B, xã EK, huyện
2
KP (nay là buôn B, xã EK), tỉnh Đắk Lắk.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Thị Ngọc T, sinh năm 1982; địa chỉ: 161A/16 đường H, phường
TA, thành phố B (nay là 161A/16 đường V, phường B), tỉnh Đắk Lắk.
2. Ông YR Mlô, sinh năm 1989; địa chỉ: Buôn C, C, huyện CM (nay
buôn C, xã C), tỉnh Đắk Lắk.
3. Ông YN Byă, sinh năm 2009; địa chỉ: Địa chỉ: Buôn B, EK, huyện
KP (nay là buôn B, xã EK), tỉnh Đắk Lắk.
- Người đại diện hợp pháp của ông YN Byă: Ông YM Ayǔn, sinh năm
1966; địa chỉ: Địa chỉ: Buôn B, EK, huyện KP (nay buôn B, EK), tỉnh
Đắk Lắk.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho anh YN: Luật Nguyễn Gia
T1 luật H - Văn phòng luật LH, thuộc đoàn luật tỉnh Tĩnh;
Địa chỉ: Số 58 đường D, phường TS, tỉnh Hà Tĩnh.
* Người kháng cáo: Bị đơn ông YM Ayǔn người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông YN Byă.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Bùi
Thế Vđại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 01/1/2024, ông Bùi Thế V có cho ông YM Ayŭn vay số tiền
520.000.000 đồng, khi vay ông YM thế chấp cho ông V 01 giấy chứng nhận
quyền sử dụng (GCNQSD) đất số BR 169599 (đối với thửa đất số 239, tờ bản đồ
số 31, diện tích 2.111m
2
, địa chỉ thửa đất: Thôn HB, xã HĐ, huyện KP, tỉnh Đắk
Lắk, cấp cho ông YM Ayŭn, theo biên nhận cầm đngày 01/1/2024, hẹn thời
gian trả ngày 10/3/2024. Ông V ông YM Ayŭn vào các giấy tờ. Khi
đến thời hạn trả thì ông YM đã không trả nợ mặc dù ông V đã nhiều lần đòi nợ.
Ngày 14/01/2025, ông YM lại xin gia hạn khoản nợ 520.000.000 đồng
viết giấy hẹn cam kết đến ngày 18/01/2025 sẽ trả hết nợ cho ông V, nếu không
trả đúng hẹn thì sẽ đến phòng công chứng để hợp đồng chuyển nhượng, sang
tên GCNQSD đất đã cầm đồ cho ông V. Tuy nhiên, đến nay ông YM vẫn chưa
thực hiện nghĩa vụ trả nợ như thỏa thuận, còn cố tình trốn tránh. Do đó, ông
V khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông YM Ayŭn trả cho ông Bùi Thế V stiền
nợ gốc là 520.000.000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông YM Ayŭn
trả cho ông Bùi Thế V 520.000.000 đồng nợ gốc lãi suất chậm trả (theo quy
3
định pháp luật tại Điu 357, khoản 2 Điu 468 ca BLDSm 2015 là 10%/năm),
tính từ ngày 19/01/2025 (do không thực hiện theo cam kết trả nợ vào ngày
18/01/2025) cho đến phiên tòa thẩm (ngày 12/9/2025), số tiền lãi tạm tính là:
34.075.000 đồng; Tổng cộng là: 554.075.000 đồng lãi suất trong quá trình thi
hành án trả hết nợ.
Đối với 01 GCNQSD đất BR 169599 cấp ngày 22/01/2014 (đối với thửa
đất số 239; tbản đồ số 31; diện tích 2.111m
2
, địa chỉ thửa đất: Thôn HB,
HĐ, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk, cấp cho ông YM Ayŭn) là do ông YM
giấy cầm cố, thế chấp đm tin khi vay tiền của ông V. Do đó, trường hợp
ông YM Ayŭn trả đủ số n(gốc + lãi) cho ông i Thế V thì ông V sẽ giao trả
lại 01 GCNQSD đất cho ông YM Ayŭn; Trường hợp ông YM Ayŭn không tr
số nợ trên tquá trình ông V yêu cầu thi hành án sẽ giao 01 GCNQSD đất này
cho cơ quan thi hành án để xử lý theo quy định pháp luật.
* Bị đơn ông YM Ayŭn trình bày:
Ngày 01/01/2024, tôi ông YR Mlô hẹn ông Bùi Thế V tại quán phê
để bàn bạc việc đi rút bìa đỏ của tôi tại ngân hàng. Sau đó, tôi thế chấp cho
ông V 02 bìa đỏ, trong đó GCNQSD đất số BR 169599 (đối với thửa đất số
239; tờ bản đồ số 31) để vay số tiền 200.000.000 đồng 01 bìa để lấy số tiền
300.000.000 đồng. Khi ông V đưa tiền thì tôi YR cùng nhận tiền (tôi yêu
cầu YR trả lại tiền cho tôi sau). Sau khi vay một thời gian thì tôi trả phần
300.000.000 đồng và một phần lãi để lấy 01 bìa đỏ về.
Ngày 14/01/2025, tôi viết Giấy hẹn cam kết trả nợ cho ông V, xin gia
hạn số nợ vay tiền còn lại là 520.000.000 đồng đến ngày 18/01/2015 trả hết; Nếu
không trả được nợ thì phải sang tên làm hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên
khi viết giấy này ông V đọc cho viết, ông V ép bảo ký, điểm chỉ (khi đó
không có ai làm chứng).
Thực tế đến thời điểm hiện nay tôi chỉ đồng ý trả n ông V số tiền
200.000.000đồng; Còn khoản 320.000.000đồng tôi đã trả nhưng hiện nay không
có tài liệu để cung cấp.
Ông V khởi kiện yêu cầu tôi phải trả số tiền 520.000.000đồng thì tôi không
đồng ý; Tôi chỉ có khả năng trả 200.000.000 đồng.
Về GCNQSD đất thì tôi cầm cố cho ông V chỉ để làm tin, khi giao
GCNQSD đất thì anh YN không biết, do đó đề nghị ông V trả lại cho bố con tôi.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc Trúc trình bày:
Trúc vợ của ông Bùi Thế V, số tiền 520.000.000 đồng mà ông V cho ông
YM Ayŭn vay là tài sản chung của ông V. Về nội dung vụ án, bà Trúc
4
nhất trí phần trình bày của ông V. Đề nghị Tòa án giải quyết, chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của ông Bùi Thế V.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông YR Mlô trình bày: Vào
khoảng năm 2023, i ông YM Ayŭn vay stiền 500.000.000 đồng của
ông Bùi Thế V, nhưng thực nhận 300.000.000 đồng. Đến năm 2024 đã trả
được cho ông V số tiền 300.000.000 đồng. Nay không còn khả năng (nghĩa vụ)
trả nợ.
- Ông YN Byă ý kiến: Tôi là con của ông YM Ayŭn bà HN Byă ã
chết). Tôi người được nhận thừa kế đối với GCNQSD đất số BR 169599 cấp
ngày 22/01/2014, thửa đất số 239, tờ bản đồ số 31, địa chỉ thửa đất tại
(nay EK), thừa kế sang tên cho tôi ngày 13/4/2023. Việc bố tôi ông YM
vay của ông Bùi Thế V số tiền bao nhiêu, như thế nào thì tôi không biết,
nhưng khi bố tôi mang GCNQSD đất số BR 169599 đi cầm cố cho ông V thì
không được sự đồng ý của tôi. Nay tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật,
yêu cầu ông V phải trả lại GCNQSD đất cho tôi; Nếu được thì tôi hỗ trợ bán đất
trả bớt tiền cho ông YM.
Tại Bản án thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 4 Đắk Lắk đã quyết định:
Căn c khon 3 Điều 26, điểm a khon 1 Điu 35, đim a khon 1 Điều 39,
Điu 147, khon 2 Điều 227, các Điu 228, 271, 273 ca Blut T tng dân s
2015;
Áp dụng Điều 280, Điu 357, khon 1 khon 4 Điu 466, khon 2 Điu 468
Bộ lt n s năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019
ớng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Áp dụng Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản và sử dụng án p l phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đã thay đổi bổ sung của nguyên đơn - ông
Bùi Thế V: Buộc ông YM Ayŭn nghĩa vụ trả cho ông Bùi Thế V số tiền:
554.075.000 đồng.
Kể t ngày có đơn yêu cu thi hành án ca ngưi đưc thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, n phi thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi ca s tiền còn phải
thi hành án theo mc lãi sut quy định ti Điều 357, Điều 468 B luật dân s 2015.
Trường hợp ông YM Ayŭn trả hết số nợ trên cho ông Bùi Thế V thì ông
Bùi Thế V phải giao trả lại 01 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất, số BR 169599 ngày
5
22/01/2014 (do UBND huyện KP cấp cho ông YM Ayŭn và HN Byă, điều
chỉnh biến động để thừa kế cho ông YM Ayŭn ông YN Byă ngày 13/4/2023)
cho ông YM Ayŭn, ông YN Byă;
Trường hợp ông YM Ayŭn không trả đủ số nợ trên thì quá trình các bên
yêu cầu thi hành án, ông Bùi Thế V phải giao trả lại 01 bản gốc Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất, sBR
169599 (do UBND huyện KP cấp ngày 22/01/2014 cho ông YM Ayŭn HN
Byă, điều chỉnh biến động để thừa kế cho ông YM Ayŭn ông YN Byă ngày
13/4/2023; đối với thửa đất số 239; tbản đồ số 31; diện tích: 2.111m
2
, địa chỉ
thửa đất tại: Thôn HB, , huyện KP, tỉnh Đăk Lăk; Mục đích sử dụng: Đất
trồng y lâu năm; Thời hạn sử dụng: Đến năm 2043; Nguồn gốc sử dụng: Công
nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền sử dụng đt) cho ông YM Ayŭn, ông YN
Byă; Đồng thời ông Bùi Thế V quyền đề nghị quan thi hành án cưỡng chế
tài sản của bên nghĩa vụ (ông YM Ayŭn) để thi nh án theo trình tự Luật thi
hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các
đương sự theo quy định của pháp luật.
* Kháng cáo:
Ngày 24/9/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông YN Byă
kháng cáo một phần bản án thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy một
phần bản án sơ thẩm phần liên quan đến Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
BR 169599; giữ nguyên quyền sdụng đất đã cấp cho ông YN Byă; Xác định
nghĩa vụ trả nợ thuộc về ông YM Ayŭn, không liên quan đến ông YN B.
Ngày 26/9/2025, bị đơn ông YM Ayŭn kháng cáo toàn bộ bản án thẩm
đề nghị tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông YR Mlô trách nhiệm trả nợ cho
ông V. Bởi lẽ: Ông YM không vay 520.000.000 đồng của ông V chỉ đứng
ra vay giúp ông YR Mlô số tiền 200.000.000 đồng thế chấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số BR 169599 làm tin.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện.
Bị đơn ông YM Ayŭn và người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông YN Byă
giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông YM Ayŭn chỉ thừa nhận vay số
tiền 143.000.000 đồng, đối với khoản tiền ông YR vay a án cấp
thẩm buộc ông YM trả không đúng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận kháng cáo của ông YM Ayŭn để sửa bản án sơ thẩm.
6
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông YR Mlô thừa nhận số tiền theo giấy Biên
nhận cầm cố với số tiền 377.000.000 đồng, ông đồng ý trả nợ cho ông V.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa
phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng
xét xThư đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các
đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các tài liệu, chứng cứ trong hồ
vụ án và tranh tụng tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử
căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Chấp nhận toàn b
kháng cáo của bị đơn ông YM Ayŭn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông YN Byă - Sửa Bản án thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 4 Đắk Lắk theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn để buộc ông YM Ayŭn phải trả ông V số tiền 143.000.000
đồng lãi suất phát sinh; Đồng thời, buộc nguyên đơn trả lại cho ông YM Ayŭn
và anh YN Byă giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 169599. Không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đối với yêu cầu buộc ông YM Ayŭn phải tr
số tiền nợ gốc 377.000.000 đồng và lãi suất phát sinh.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến đại diện Viện kiểm
sát:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Bị đơn ông YM Ayŭn người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông YN Byă nộp trong thời hạn luật định; ông
YN Byă được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, ông YM Ayŭn đã nộp tạm ứng án
phí. Do đó, Tòa án nhân nhân tỉnh Đắk Lắk thụ giải quyết theo thủ tục
phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa ngày 20/01/2026, các đương sự đề nghị Hội đồng xét xử tạm
ngừng phiên tòa để các đương sự hòa giải với nhau. Tuy nhiên, tại phiên tòa
hôm nay các đương sự đều vắng mặt do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ
án theo quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của ông YM Ayŭn và ông YN Byă, thì thấy:
[2.1] Theo đơn khởi kiện qtrình giải quyết vụ án nguyên đơn ông
Bùi Thế V cho rằng: Ông YM Ayŭn vay ông V 520.000.000đồng thế
chấp quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận QSDĐ số BR 169599 theo Biên
nhận cầm đồ đã được 2 bên vào ngày 01/01/2024. Ngay khi ký Biên nhận
7
cầm đồ ông V đã giao cho ông YM Ayŭn 520.000.000đồng. Khi quá hạn trả
tiền (ngày 10/3/2024) ông YM không trả được nợ mặc ông V đã đòi nhiều
lần nên ngày 14/01/2025 ông YM Ayŭn xin gia hạn đến ngày 18/01/2025 sẽ trả
nợ cho ông V. Do đó, ông V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông YM
Ayŭn trả 520.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên,
bị đơn lại cho rằng bị đơn chỉ vay nguyên đơn 200.000.000 đồng; còn số tiền
320.000.000 đồng đã trả và việc ông viết Giấy hẹn và cam kết ngày 14/01/2025
với mục đích xin gia hạn thời hạn trả nợ. Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại Biên nhận cầm cố ngày 01/01/2024” giữa ông Bùi Thế V với ông
YM Ayŭn Biên nhận cầm cố ngày 01/01/2024 giữa ông Bùi Thế V với ông
YR Mlô, thể hiện:
Ngày 01/01/2024, ông V nhận cầm đồ của ông YM Ayŭn 01 Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số BR169599 của thửa đất số 239, tờ bản đồ số 31 để
cho ông YM Ayŭn vay số tiền 143.000.000 đồng cho ông YR Mlô vay
377.000.000 đồng. Thời hạn 70 ngày kể từ ngày 01/01/2024 đến 10/3/2024.
Ngoài ra, các bên còn thỏa thuận quá thời hạn nêu trên ông YM Ayŭn
ông YR Mlô không đến thanh toán thì ông V được quyền phát mãi Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số BR169599 không cần sự đồng ý hoặc mặt
của ông YM Ayŭn và ông YR Mlô.
Tuy nhiên, đến hạn ông YM ông YR Mlô không trả được tiền cho ông
V nên ngày 14/01/2025, ông YM lập “Giấy hẹn cam kết” với nội dung:
“Hôm nay ngày 14/01/2025, tôi xin gia hạn số nợ 520.000.000 đồng đến
ngày 18/01/2025 sẽ đến phòng công chứng Hoàng Văn Việt - 32 Vụ, lúc 08
giờ 30 mang giấy xác nhận độc thân căn cước công dân của con trai YN
cùng vào thỏa thuận cam kết trả nhoặc hợp đồng chuyển nhượng tôi hoàn
toàn chịu trách nhiệm mọi vấn đề xảy ra nếu không đến đúng hẹn”. Ông YM
đã ký và điểm chỉ vào Giấy hẹn và cam kết trên.
Xét thấy, tại cấp sơ thẩm Tòa án triệu tập ông Rô Đa Mlô tham gia tố tụng
nhưng ông YR Mlô không hợp tác, chỉ đến làm việc 01 lần để làm bản tự
khai với nội dung: “Tôi và ông YMvay ông V 500.000.000 đồng nhưng thực
nhận 300.000.000 đồng, vào năm 2024 đã trả hết 300.000.000 đồng, hiện
nay không còn nợ ông V nữa”. Ngoài ra các buổi làm việc khác và phiên tòa
thẩm ông YR Mlô không tham gia gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông YR Mlô mặt thừa nhận chký, chữ
viết và dấu vân tay trong Biên nhận cầm cố ngày 01/01/2024, vay số tiền
377.000.000 đồng là do ông YR Mlô ký và viết ra, ông ồng ý trả nợ cho ông V.
Đây tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm. Ông YM Ayŭn cũng
8
thừa nhận chữ ký, chữ viết dấu vân tay trong các Biên nhận cầm cố ngày
01/01/2024 (vay 143.000.000 đồng) Giấy hẹn cam kết ngày 14/01/2025
do ông YM Ayŭn ký, viết, điểm chỉ không ý kiến về nội dung của
các văn bản nêu trên. Như vậy, đcăn cứ ngày 01/01/2024 ông YM Ayŭn
chỉ vay ông V số tiền 143.000.000 đồng; ông YR Mlô vay ông V số tiền
377.000.000 đồng. Để bảo đảm cho 02 khoản vay này thì ông YM Ayŭn cầm
cố cho ông V Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR169599 của thửa đất
số 239, tờ bản đồ số 31. Đồng thời, thỏa thuận trong thời hạn từ ngày
01/01/2024 đến ngày 10/3/2024 sẽ trả đủ số tiền nêu trên. Qhạn trên ông
YM ông YR vẫn không trả nợ cho ông V. Nên ngày 14/01/2025, ông YM
viết “Giấy hẹn cam kết” với mục đích xin gia hạn thời hạn trả nợ số tiền
520.000.000 đồng đến ngày 18/01/2025 ông YM cầm cGiấy chứng nhận
quyền sử dụng đất để bảo đảm cho 2 khoản nợ của ông YM ông YR. Ngoài
ra, giữa ông V và ông YM, ông YR không có bất cứ thỏa thuận chuyển giao nợ
từ ông YR sang cho ông YM để ông YM một mình đứng ra trả toàn bộ số nợ
520.000.000 đồng này.
Việc Tòa án cấp thẩm buộc ông YM trách nhiệm trả 520.000.000
đồng cho ông V là không có căn cứ. Do đó, cần chấp nhận một phần kháng cáo
của ông YM để sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 377.000.000 đồng chỉ chấp
nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để buộc bị đơn ông YM
trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 143.000.000 đồng nợ gốc lãi suất
phát sinh mới phù hợp.
Về lãi suất: Tại Biên nhận cầm cố ngày 01/01/2024 giữa ông V ông
YM không thể hiện nội dung thỏa thuận về lãi suất. Qtrình giải quyết ván,
nguyên đơn yêu cầu trả lãi theo quy định của pháp luật kể từ ngày 19/01/2025
đến ngày xét xử thẩm 12/9/2025 (07 tháng 23 ngày = 237 ngày). Do đó, căn
cứ quy định tại Điều 357; khoản 4 Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự cần
buộc ông YM trả cho ông V số tiền lãi của khoản vay từ ngày 19/01/2025 đến
ngày xét xử thẩm 12/9/2025 (07 tháng 23 ngày = 237 ngày), với stiền như
sau: (143.000.000đồng x 10%/năm x 237 ngày)/365 ngày = 9.285.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền nợ gốc lãi ông YM phải trả cho ông V
152.285.000 đồng.
[2.2] Xét việc cầm cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Căn cứ vào 02
Biên nhận cầm cố nêu trên thì căn cứ xác định đây là hợp đồng vay có thỏa
thuận biện pháp bảo đảm “Cầm cố tài sảntheo quy định tại Điều 463; Điều
309 của Bộ luật Dân sự. Mặc dù, theo quy định tại Điều 167; Điều 179 của
Luật đất đai năm 2013 không quy định người sử dụng đất quyền cầm cố
9
Quyền sử dụng đất, nhưng pháp luật không cấm người sử dụng đất thực hiện
quyền này. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận QSDĐ số BR 169599 ngày
22/01/2014 cấp cho ông YM Ayŭn và HN Byă được quyền sử dụng đối với
diện tích đất 2.111m
2
, thuộc thửa đất số 239, tờ bản đồ số 31 tại thôn HB,
HĐ, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 13/4/2023, Chi nhánh n phòng đăng
đất đai huyện KP đã chỉnh lý biến động “Để thừa kế quyền sử dụng đất cho ông
YM Ayŭn người đại diện theo pháp luật của ông YN Byă, sinh năm 2009”.
Khi ông YM cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 169599 cho ông
Bùi Thế V để vay tiền thì ông YN Byă không biết, không đồng ý với việc cầm
cố này. Do đó, việc cầm cố Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên
giao dịch dân sự hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật quy định tại Điều
123; Điều 130 của Bộ luật dân sự. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 131 Bộ luật
Dân sự thì các bên phải trả lại cho nhau những đã nhận nhưng Bản án
thẩm lại không tuyên buộc ông V trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
BR169599 cho ông YM Ayŭn ông YN Byă để ông V tiếp tục giữ Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BR169599 không căn cứ. Do đó, cần
chấp nhận kháng cáo của ông YM ông YN để sửa Bản án thẩm theo
hướng đã nhận định nêu trên.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông YM Ayŭn phải chịu 7.614.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn ông Bùi Thế V phải chịu 20.072.000 đồng án phí dân sự
thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông
YM Ayŭn và ông YN Byă không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cvào khoản 2 Điều 308 Bluật tố tụng n sự năm 2015:
Chấp nhận toàn bộ kháng o của bị đơn ông YM Ayŭn và người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ông YN Byă.
Sa Bản án thẩm s25/2025/DS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 4 – Đắk Lắk.
[1] Căn c khon 3 Điu 26, đim a khoản 1 Điu 35, đim a khoản 1 Điều
39, Điều 147, khon 2 Điu 227, các Điều 228, 271, 273 ca B lut T tụng dân s
2015;
10
n c Điu 123; Điều 130; Điều 131; Điều 309; Điu 357; Điu 463; khoản
4 Điu 466; Điu 468 của Bluật Dân sự m 2015;
n cĐiều 167; Điều 179 của Luật đất đai năm 2013
Áp dụng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ny 11/01/2019 ớng dẫn áp
dụng một squy định của pháp lut về i,i sut, phạt vi phạm;
Áp dụng Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1.1] Chấp nhận mt phần yêu cầu của nguyên đơn ông Bùi Thế V: Buộc
ông YM Ayŭn có nghĩa vụ trả cho ông Bùi Thế V tổng số tiền 152.285.000 đồng
(trong đó: 143.000.000 đồng nợ gốc và 9.285.000 đồng tiền lãi).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468
Bộ luật dân sự 2015.
[1.2] Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ôgn Bùi Thế V về
việc buộc ông YM Ayŭn phải trả số tiền 401.790.000 đồng (trong đó
377.000.000 đồng nợ gốc và 24.790.000 đồng tiền lãi).
[1.3] Ông Bùi Thế V trách nhiệm trả cho ông YM Ayŭn ông YN
Byă 01 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất số số BR 169599 ngày 22/01/2014 cấp cho ông YM
Ayŭn HN Byă được quyền sdụng đối với diện tích đất 2.111m
2
, thuộc
thửa đất số 239, tbản đồ số 31 tại thôn HB, HĐ, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk.
Ngày 13/4/2023, Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện KP đã chỉnh
biến động “Đthừa kế quyền sử dụng đất cho ông YM Ayŭn người đại diện
theo pháp luật của ông YN Byă, sinh năm 2009”.
[1.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông YM Ayŭn phải chịu
7.614.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn ông Bùi Thế V phải chịu 20.072.000 đồng án phí dân sự
thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận. Được khấu trừ vào
số tiền 12.400.000 đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai số 0003244 ngày
21/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện KP (nay Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 4), tỉnh Đắk Lắk. Ông V n phải tiếp tục nộp 7.672.000 đồng.
[2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông YM Ayŭn ông YN Byă không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông YM Ayŭn số tiền 300.000
11
đồng đã nộp tạm ứng theo Biên lai thu số 0001980 ngày 09/10/2025 tại Thi hành
án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi
hành án n sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Tòa pc thẩm TANDTC ti Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 4 Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 4 Đắk Lắk ;
- Các đương sự;
- Cổng thông tin điện tử Tòa án;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trịnh Văn Toàn
Tải về
Bản án số 103/2026/DS-PT Bản án số 103/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 103/2026/DS-PT Bản án số 103/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất