Bản án số 69/2025/DS-PT ngày 14/02/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 69/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 69/2025/DS-PT ngày 14/02/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Số hiệu: 69/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/02/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn vợ chồng ông Y Nhu A, bà H Ran N. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 23/5/2024 và ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Phạm Ngọc Thái
Các Thẩm phán:
Ông Trương Công Thi
Ông Võ Ngọc Thông
- Thư phiên tòa: ông Nguyễn Thế Trường, Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên t:
bà Phạm Thị Nguyệt Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc thẩm
công khai vụ án dân sự thụ 184/2024/TLPT-DS ngày 01/10/2024 về việc:
Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Do bản án dân sự thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 23/5/2024 ngày
15/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s364/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 01
năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Y Nhu A, H Ran N; cùng địa chỉ: buôn A, C,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk;
Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Đình T; địa chỉ: D M, phường H,
quận H, thành phố Đà Nẵng.
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Bản án số: 69/2025/DS-PT
Ngày 14/02/2025
V/v Tranh chp quyn s dng
đất yêu cu hy Giy chng
nhn quyn s dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Y N1 và bà H R: Luật sư
Hoàng Trọng T1 Luật Nguyễn M; địa chỉ: D M, phường H, quận H,
thành phố Đà Nẵng.
- Bị đơn: ông Phan Q, Đặng Thị V; cùng địa chỉ: buôn Đ, C, huyện
K, tỉnh Đắk Lắk;
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bđơn: ông Hoàng Văn L-
Luật sư Chi nhánh Văn phòng L4 tại K, Đoàn luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: Thôn H, xã
P (nay là TDP G, thị trấn P), huyện K, tỉnh Đắk Lắk;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh Đ; địa chỉ: Số D P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Lương Trung H, Phó Giám đốc phụ
trách Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện K; địa chỉ: thôn N, C, huyện
K, tỉnh Đắk Lắk;
Do có kháng cáo của nguyên đơn ông Y Nhu A, bà H Ran N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa người đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Huy H1 trình bày:
Vợ chồng nguyên đơn thửa đất số 26, tờ bản đồ số 17, diện tích 6250m
2
,
toạ lạc tại buôn A, C, huyện K, được UBND huyện K cấp giấy CNQSDĐ số
CE 095320, cấp ngày 26/8/2016, mang tên ông Y Nhu AH Ran N, có vị trí
tứ cận: phía đông giáp đường liên xã; phía tây đất ông Q, V; phía nam giáp đất
bà H Mach Kđo; phía bắc giáp đường đất và ông Q (góc nhọn).
Năm 1996 nguyên đơn về buôn Mới (buôn E) sinh sống, làm việc, lợi dụng
việc nguyên đơn không mặt trên đất một thời gian dài nên bị đơn đã lấn
chiếm diện tích đất khoảng 1.900m
2
của nguyên đơn, diện tích lấn chiếm có vị trí
tứ cận: phía bắc là góc nhọn kéo theo bờ ranh; phía tây giáp đất ông Q, V; phía
đông từ góc nhọn kéo theo chiều đường đi về phía nam; phía nam kéo từ đất ông
Q về phía đông (đường đi).
Hiện nay phần đất tranh chấp đã được xem xét thẩm định tại chỗ, nguyên
đơn đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đất có vị tứ cận là: phía đông
giáp đường liên thôn; phía tây giáp phần đất ông Q, V đang sử dụng; phía nam
giáp phần đất anh Y N1, chị H R đang sử dụng; phía bắc giáp đất ông T2, bà H4,
diện ch 2.103,1m
2
. Trên đất bđơn lấn chiếm hiện 02 cây lồng mức, 07 cây
cà phê, 14 cây tiêu trồng trên trụ sống.
Sau khi phát hiện việc bị đơn lấn chiếm đất thì nguyên đơn đã yêu cầu bị
đơn trả lại đất nhưng không được, sviệc tranh chấp đã được Ủy ban nhân dân
C hòa giải nhưng không thành. Nhận thấy việc bị đơn lấn chiếm đất làm ảnh
hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Vì vậy, nguyên đơn anh Y N1 chị H R
khởi kiện yêu cầu bđơn ông Q, bà V phải trả lại diện ch đất đã lấn chiếm
diện tích như kết quả xem xét, thẩm định chỗ, đối với các cây trồng trên đất
3
nguyên đơn đồng ý trả giá trị bằng tiền cho bị đơn theo kết quả định giá. Nguyên
đơn đồng ý kết quả định giá tài sản.
Ngoài ra nguyên đơnu cầu bđơn phải chứng minh được nguồn gốc đất
mua từ ông N2 có đúng không bởi vì theo người làm chứng là ông Y Tăng M1
chủ đất ban đầu thì diện tích đất đã bán cho ông Bùi N2 không phải vị trí giáp
đường đất nhỏ trước đây (hiện nay là con đường liên thôn nằm phía Đông của
phần đất tranh chấp).
Bị đơn đưa ra các yêu cầu phản tố không căn cứ nên nguyên đơn
không chấp nhận diện tích đất tranh chấp đã được cấp giấy CNQSDĐ cho
nguyên đơn, nguồn gốc ràng, được nhận chuyển nhượng hợp pháp, những
chủ đất đều đã đăng được cấp giấy CQNSDĐ sau đó mới chuyển
nhượng cho nguyên đơn.
Hiện nay quyền sử dụng đất của thửa đất số 26 tờ bản đồ số 17 nêu trên
không còn thế chấp tại Ngân hàng TMCP P do nguyên đơn đã trả hết nợ theo sao
kê dư nợ hợp đồng tính đến này 15/5/2023.
Quá trình từ năm 2000 thì bố mẹ chị H Ran ông Y T3 H R1
khiếu nại nhiều lần liên quan đến diện tích đất đang tranh chấp, được y ban nhân
dân xã C giải quyết nhưng không thành.
Nguyên đơn anh Y Nhu A chị H Ran N trình bày: thống nhất với ý
kiến trình bày của người đại diện theo uỷ quyền và không có ý kiến bổ sung.
Bị đơn ông Phan Bá Q trình bày:
Vào năm 1999 gia đình tôi nhận chuyển nhượng của ông Bùi N2, địa
chỉ: buôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, 01đất tại buôn A (nay là buôn A),
đất diện tích 5000m
2
(sau khi đo đạc thực tế 5.488,4m
2
). Khi nhận chuyển
nhượng chúng tôi đã xác định ranh giới, cột mốc ràng đối với phần đất giáp với
các hộ xung quanh.
Sau khi nhận chuyển nhượng vợ chồng tôi đã trồng cà phê, tiêu và một số
cây khác trên thửa đất, sử dụng ổn định không tranh chấp với ai từ năm 1999 cho
đến nay. Vừa rồi trong quá trình sử dụng lô đất trên gia đình có nhổ cây trồng, thu
gom gốc cây, rễ cây để trồng mới thì H Ran N đến thửa đất tranh chấp không
cho sử dụng, cho rằng phần diện tích đất này là của H Ran N đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất tranh chấp có diện tích 1851m
2
,
thuộc một phần thửa đất số 13, tờ bản đồ số 112.
Ví trí tứ cận của diện tích đất tranh chấp như sau:
- Phía Đông giáp với đường, chiều dài 70,5m;
- Phía Tây giáp với đất ông Y Hoa N3 chiều dài 57m;
- Phía Nam giáp đất H Ran N, dài 116m;
- Phía Bắc giáp đất H4, dài 73,5m.
Sự việc tranh chấp trên tôi đã làm đơn kiến nghị lên UBND C đề nghị
giải quyết, Ủy ban nhân dân C đã hòa giải, phân tích cho thấy giấy chứng nhận
4
quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Y GRắk A1bà H Li N4 (nay là bà H Ran N
sử dụng) chồng lấn lên phần đất của gia đình tôi đang sử dụng ổn định, đồng thời
H Ran N không căn cứ nào khác để chứng minh phần đất diện tích
1.851m
2
(hiện trạng 2.103,1m
2
)
của H Ran N. Diện tích đất tranh chấp
theo hiện trạng đã được Toà án xem xét, thẩm định tại chỗ, diện tích đất nguyên
đơn lấn chiếm vị ttứ cận phía tây giáp phần đất hiện nay vợ chồng tôi đang
sử dụng, phía nam giáp phần đất anh Y N1, chị H R đang sử dụng, phía bắc giáp
đất ông T2, bà H4, diện tích là 2.103,1m
2
. Tôi đồng ý kết quả xem xét thẩm định
tại chỗ của Toà án.
Nhận thấy, việc H Ran N cố tình lấn chiếm sử dụng đất trái phép đối với
phần đất vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng trước đó tông Bùi Nghĩa L1 xâm
phạm nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của chúng tôi. Vậy, để đảm
bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình tôi, nay tôi đnghị Tòa án nhân dân
huyện Krông Búk giải quyết, buộc:
- Buộc H Ran N trả lại phần đất lấn chiếm trái phép có diện tích như kết
quả xem xét, thẩm định tại chỗ
cho gia đình tôi, theo kết quả trích đo thửa đất của
Công ty TNHH D chi nhánh Đ là 2.103,1m2) cho ông vợ chồng tôi.
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 095320 mang
tên ông Y Nhu A2, H Ran N cấp ngày 26/5/2016 cấp chống lấn lên đất của gia
đình tôi.
- Theo đơn yêu cầu phản tố tôi có yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền s
quyền sử dụng đất số 1389/2016/BĐ ngày 25/11/2016 giữa ông Y Nhu A2, bà H
Ran NNgân hàng TMCP P - Chi nhánh Đ nhưng đến nay do H Ranh Y
N1 đã trả nợ cho Ngân hàng nên tôi xin thay đổi yêu cầu phản tố theo hướng
không yêu cầu giải quyết về nội dung này.
Ngoài ra tôi xin trình bày thêm việc chúng tôi chuyển nhượng đất từ ông
N2 thì nhiều người đều biết. Tôi không hề biết, không được thông báo, không ký
giáp ranh trong quá trình đo đạc thửa đất phần diện tích đất đang tranh chấp,
việc cấp giấy CNQSDĐ cho nguyên đơn trong đó có phần diện tích đất lấn chiếm
của gia đình tôi. Phần đất tranh chấp hiện nay trong quá trình quản lý, sử dụng thì
vợ chồng tôi đều được hưởng quyền lợi như hỗ trợ hạn hán, được nhận đền khi
nhà nước thu hồi đất để làm đường. Sự việc vợ chồng tôi quản lý, sử dụng phần
đất tranh chấp đều được những người đã sinh sống, làm rẫy gần gia đình tôi làm
chứng, chúng tôi đã sử dụng ổn định từ năm 1999, đã trồng phê, các loại cây
trồng khác trên đất nếu đất của nguyên đơn thì sao nguyên đơn không phản đối.
Từ năm 1999 đến nay trong quá trình quản lý, sử dụng đất thì không hề bị khiếu
nại hay tranh chấp cũng không quan nhà nước thẩm quyền giải quyết
tranh chấp.
Bị đơn bà Đặng Thị V trình bày:
5
Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của chồng tôi là ông Phan Bá Q và không
có ý kiến bổ sung gì thêm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Tôi thống nhất ý kiến trình bày của bị đơn ông Q, V không bổ sung
thêm.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Đ trình bày:
1. Căn cứ pháp và trình tự thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đối với thửa
đất số 26, tờ bản đồ số 17, diện tích 6250.0 m
2
, được Sở Tài nguyên Môi trường
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 095320, ngày 26/8/2016 cho ông
Y Nhu AH Ran N nguồn gốc từ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
của ông Y Grăk A3.
- Căn cứ thành phần hồ kèm theo Công văn số 133/CNKBU ngày
02/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K về việc cung cấp
thông tin tài liệu thì Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện K xét thấy hồ
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Y Grăk A3 cho ông Y Nhu A
H Ran N hợp lệ, đủ điều kiện cấp GCN quy định tại khoản 1 Điều 188 Luật đất
đai năm 2013; khoản 2 Điều 79 Nghị định số 43/2014/-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai khoản 2 Điều
17 Thông 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T6 quy định về giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với
đất.
Trong quá trình tiếp nhận, xử và trả kết quả hồ thì Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai huyện K không tiếp nhận bất văn bản, ý kiến nào của
người sử dụng đất và cơ quan có thẩm quyền về việc tranh chấp đất đai hay việc
quyền sử dụng đất bị biên để đảm bảo thi hành án liên quan đến giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
2. Qua kiểm tra hồ địa chính, đối chiếu, chồng ghép đồ thửa đất được
cấp GCNQSD đất bản đồ địa chính thì Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
huyện K nhận thấy như sau:
- Căn cứ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Y Grăk A3,
H Li N4 ông Y Nhu A, H Ran N được UBND C chứng thực ngày
06/6/2016 thì tại khoản 2 Điều 6 về nội dung cam đoan của các bên thì bên B (ông
Y Nhu A H Ran N) cam đoan nội dung: “2.2 Đã xem xét kỹ, biết về
thửa đất nêu tại Điều 1 của hợp đồng này các giấy tờ về quyền sử dụng đất”
thì việc xác định trách nhiệm và thông tin về thửa đất đã được các bên thống nhất
và ký vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Căn cứ GCNQSD đất số CE 095320 được Sở T cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông Y Nhu AH Ran N ngày 26/8/2016 thì tại thửa
đất số 26, tờ bản đồ số 17 (cũ), diện tích 6250.0 m
2
theo chồng ghép bản đồ địa
6
chính mới được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh pduyệt năm 2010 bản đ
số hóa (cũ) thì thửa đất số 26, tờ bản đồ số 17 (cũ) thuộc một phần thửa đất số 13
và một phần thửa đất số 14 tờ bản đồ số 122 (mới), cụ thể như sau:
+ Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 17 (cũ) một phần diện tích khoảng 1832.7
m
2
thuộc một phần thửa đất số 13, tờ bản đồ số 122 (mới).
+ Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 17 (cũ) một phần diện tích khoảng 3982.9
m
2
thuộc một phần thửa đất số 14, tờ bản đồ số 122 (mới).
Do đó để sở xét xử vụ án thì Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyện K đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tổ chức thực hiện việc kiểm tra
xác định ranh giới, hiện trạng sử dụng đất của ông Y Nhu AH Ran N đang
sử dụng đồng thời xác minh, thu thập thông tin về nguồn gốc, thời điểm sử dụng
đất của các hộ gia đình sử dụng đất liền kề với thửa đất của ông Y Nhu A
H Ran N đang sử dụng để sở xem xét việc cấp GCNQSD đất cho ông Y
Nhu A H Ran N chồng lấn hoặc cấp sai ranh giới so với hiện trạng sử
dụng đất hay không.
Người làm chứng ông Y Tăng M1 trình bày:
Vào khoảng năm 1997 hoặc năm 1998 (tôi không nhớ năm), tôi bán
cho ông N2 (hiện nay ông N2 đâu tôi không biết, không họ tên), đất mà tôi
bán cho ông Nghĩa L1 khoảng 2,5 sào, vì hồi đó không được đo đạc mà chỉ bấm
đếm theo hàng phê lúc bán đất cũng chưa được cấp giấy CNQSDĐ chúng
tôi chỉ thoả thuận miệng, không lập văn bản hay hợp đồng, giá chuyển nhượng là
01 chỉ vàng, tôi đã nhận đủ vàng từ ông N2. Sau này tôi mới biết ông N2 chuyển
nhượng phần đất mua từ tôi cho ông Q, V, hiện nay họ tranh chấp, tôi đ
nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về vị trí đất khoảng 2,5 sào tôi bán cho ông N2 không vị trí hay cạnh
nào giáp với đường (trước đây là con đường nhỏ nay đã được trải nhựa).
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Y Tăng M1 khai ông bán rẫy cho một người phụ
nữ không nhớ họ tên, ông không biết ông Nghĩa L1 ai.
Người làm chứng bà H Li Niê trình bày:
Tôi quan hhọ hàng với anh Y Nhu A chị H Ran N, chị H Ran N,
anh Y Nhu Ađrơng gọi tôi bằng dì, gọi chồng tôi ông Y Grăk A4 dượng. Tôi
không có quan hệ quen biết với ông Phan Bá Q, bà Đặng Thị V.
Tôi (H Li N4) ý kiến về nguồn gốc, việc sử dụng diện tích đất đang tranh
chấp giữa anh Y N1, chị H R và ông Q, bà V như sau:
- Vào khoảng thời gian trước năm 1995, tôi và chồng là ông Y Grăk A4
khai hoang, phát dọn lô đất diện tích 6.250m
2
, tại buôn A lớn (sau tách thành
hai buôn là buôn C và buôn E, xã C (hiện nay là buôn A, xã C), huyện K, sau khi
khai hoang thì vợ chồng tôi sử dụng ổn định toàn bộ diện tích đất nêu trên. Đến
năm 1995 thì được đo đạc, đó thửa đất số 26, tờ bản đồ 17, đến ngày 15/5/1996
7
thì được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H
092517 cho chồng tôi là ông Y Grăk A4 (Y Grăk A4) đứng tên.
- Đến năm 2000, thì tôi chồng đã cho vợ chồng anh trai chồng tôi ông
Y Tullul A5 H Ri N5 diện tích đất nêu trên, theo giấy tặng cho đất ngày
27/11/2000, được chính quyền địa phương Ủy ban nhân dân xã C xác nhận. Từ
đó đến nay thì vợ chồng tôi không còn sử dụng lô đất này nữa. Người quản lý sử
dụng vợ chồng ông Y Tullul A5 và H Ri N5 (ông Y Tullul A5 H Ri
N5 bố mẹ chị H Ran N), mặc đã tặng cho đất nhưng chưa sang tên bìa đỏ
cho ông Y T4 H R1 anh em trong nhà. Đến năm 2016 thì ông Y T4
chết nên vợ chồng tôi có làm thủ tục chuyển nhượng trực tiếp sang tên cho chị H
R anh Y N1 (thực tế đây tài sản vợ chồng tôi đã tặng cho ông Y T4
H R1 là bố mẹ chị H R), nên anh Y N1 chị H R đã được Ủy ban nhân dân
huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 26, tờ bản đ
17, diện tích 6.250m
2
, đến nay chúng tôi không còn liên quan đến thửa đất này
nữa.
Còn ông Phan Q, bà Đặng Thị V đến làm trên đất đất chúng
tôi đã cho anh chị tôi, tranh chấp đất với vợ chồng ông Y T4 H Ri N5 thì tôi
có nghe nói lại, tôi cũng có hai lần cùng chồng đến Ủy ban nhân dân xã C để giải
quyết tranh chấp do ông Y T4 nhiều lần làm đơn khiếu nại, nhưng ông Q chỉ
đến làm việc tại Uỷ ban một lần và một lần ông Q không đến làm việc.
Tôi không biết ông Q, V mua đất từ ai, do ai bán đất cho họ họ lại
đến chiếm đất mà chúng tôi đã tặng cho ông Y T4 và bà H Ri N5, họ chiếm một
phần diện tích trong tổng diện tích 6.250m
2
nêu trên.
Đến nay tôi không còn liên quan gì đến đất nêu trên, tôi mong Toà án
giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, để anh Y N1, chị H R được sử dụng
đúng diện tích đất ban đầu chúng tôi đã tặng cho, theo bìa đỏ anh Y N1,
chị H R đã được cấp.
Người làm chứng bà Y Grăk A4 trình bày:
Tôi là chồng H Li Niê tôi thống nhất với lời trình bày của vợ tôi. Không
có ý kiến gì bổ sung.
Người làm chứng bà H Đun Ayun trình bày:
Tôi có quan hệ họ hàng với Y N1 H Ran N, chH R gọi tôi bằng cô. Tôi
không có quan hệ gì với ông Q, bà V. Tôi sống cùng anh trai tôi là Y Grăk A4 tại
buôn E, C, sau này buôn C buôn EaKram nhập lại thành buôn Ađrơng Prông
hiện nay. Sau đó tôi chuyển về buôn C sinh sống cho đến nay, ông Y Grăk A4 t
chuyển về buôn E, xã C thời gian cụ thể thì tôi không nhớ.
Tôi được Tòa án cho xem sơ đồ thửa đất đang tranh chấp theo tôi được biết
toàn bộ diện tích đất này do ông Y Grăk A4 phát dọn sử dụng vào thời gian
nào thì tôi không nhớ, sau khi ông Y Grăk A4 chuyển về buôn E, xã C thì Y N1
H Ran N là người sử dụng đất vào thời gian nào tôi cũng không nhớ.
8
Người làm chứng ông Y Klăp K trình bày:
Tôi không có quan hệ họ hàng gì với nguyên đơn bị đơn, tôi ttrưởng
người cao tuổi của buôn A. Sau khi được Tòa án cho xem đồ diện tích đất tranh
chấp, theo tôi được biết thì diện ch đất khoảng hơn 6 sào tại buôn A trước đây
khi dọn phát thì được cán bộ thôn buôn giao cho ông Y Grăk A4 lúc đó ông Y
Grăk A4 buôn Ađrơng lớn, còn diện tích cụ thể bao nhiêu, giao vào thời gian
nào thì tôi không nhớ. Còn sau đó ông Y Grăk A4 được cấp bìa đỏ hay không,
sử dụng đất hay chuyển nhượng tặng cho thửa đất này cho ai không thì tôi
không biết.
Người làm chứng ông Bùi N2 trình bày:
Vào năm 1999, 2000 tôi nghe vợ tôi Nguyễn Thị Kim T5 (đã chết vào
năm 2015) nói lại có bán cho ông Phan Bá Q, bà Đặng Thị V 01 lô đất ở buôn R
lớn, về diện tích thì khoảng 3 đến 5 sào, đất chưa được cấp Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất, nguồn gốc thửa đất vợ tôi mua người đồng bào, ngoài thửa đất
trên thì vợ chồng tôi không sang nhượng cho ông Q, V thửa đất nào khác.
Trong năm 2000 vtôi giao đất cho ông Q V ông Q, V sử dụng đất t
đó đến nay. Năm 2022 ông Q nhờ tôi vào giấy sang nhượng đất ngày
04/3/1999 để ông bà đi làm Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất ông Q nói Giấy
sang nhượng gốc ban đầu bị mất, vì có việc chuyển nhượng đất cho ông Q, V
là thật nên tôi ký cho ông bà.
Hiện nay cho ông Phan Bá Q, bà Đặng Thị Vanh Y N1, chị H Ran xảy
ra tranh chấp tôi không còn liên quan đến đất đang tranh chấp đề nghị Tòa
án giải quyết theo quy định pháp luật.
Người làm chứng bà Ngô Thị H3 trình bày:
- Tôi các đương sự không quan hệ thân thích, họ hàng, tôi vào sinh
sống, làm ăn tại buôn A hiện nay tnăm 1998, đến năm 2010 tôi chuyển về buôn
E, xã C sống nhưng vẫn làm rẫy gần rẫy ông Q, bà V, từ khi đến sống và làm rẫy
tại đây tôi đã thấy ông Q, bà V quản lý, sử dụng diện tích đất đang tranh chấp từ
đó cho đến nay, về nguồn gốc đất theo tôi biết thì ông Q, V nhận chuyển
nhượng từ ông N2 (thông tin về họ, địa chỉ của ông N2 tôi không biết cụ thể), về
vị trí đất ông Q, V sdụng cạnh phía đông giáp đương đi, con đường còn
tồn tại đến nay, trước đây đường đất nay đã được trải nhựa, ông Q, bà V sử
dụng ổn định từ năm 1999, không thấy ai tranh chấp, họ đã trồng phê và các
cây trồng khác, đến năm 2022 ông Q, V chặt bỏ cây cà phê cũng không thấy ai
ý kiến hay tranh chấp gì.
Người làm chứng bà Trương Thị L2 trình bày:
Tôi các đương sự không quan hệ thân thích, họ hàng, tôi vào sinh
sống, làm ăn tại buôn A hiện nay từ năm 1997, từ khi đến sống làm rẫy tại đây
tôi đã thấy ông Q, bà V quản lý, sử dụng diện tích đất đang tranh chấp từ đó cho
đến nay, về nguồn gốc đất thì tôi không biết cụ thể ông Q, V nhận chuyển
9
nhượng từ ai, về vị trí đất ông Q, bà V sử dụng có cạnh phía đông giáp đường đi,
con đường còn tồn tại đến nay, trước đây là đường đất nay đã được trải nhựa, ông
Q, V sử dụng ổn định tnăm 1999, không thấy ai tranh chấp, họ đã trồng
cà phê các cây trồng khác, đến năm 2022 ông Q, bà V chặt bỏ cây phê cũng
không thấy ai ý kiến hay tranh chấp gì, tôi hiện nay vẫn làm rẫy phía trên rẫy
ông Q, bà V, rẫy tôi diện tích đất tranh chấp giữa hai bên chỉ cách nhau con
đường.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị H4 trình bày:
Tôi các đương sự không quan hệ thân thích, họ hàng, tôi vào sinh
sống, làm ăn tại buôn A hiện nay từ năm 1999, từ khi đến sống làm rẫy tại đây
tôi đã thấy ông Q, bà V quản lý, sử dụng diện tích đất đang tranh chấp từ đó cho
đến nay, về nguồn gốc đất thì tôi không biết cụ thể ông Q, V nhận chuyển
nhượng từ ai, về vị trí đất ông Q, bà V sử dụng có cạnh phía đông giáp đường đi,
con đường còn tồn tại đến nay và giáp với đất rẫy của gia đình tôi, họ sử dụng lô
đất kéo dài từ dưới lên đến giáp đường, đường trước đây đường đất nay đã được
trải nhựa, ông Q, V sử dụng ổn định từ năm 1999, không thấy ai tranh chấp,
họ đã trồng cà phê và các cây trồng khác, đến năm 2014 ông Q, V được nhận
đền khi làm đường thì tôi biết, năm 2022 ông Q, V chặt bỏ cây phê
cũng không thấy ai ý kiến hay tranh chấp gì, ngoài ra phần đất tranh chấp giữa hai
bên trước đây có hàng muồng rất lớn làm ranh giới giữa phần đất ông QV
sử dụng với phần đất anh Y N1, chị H Ran sử dụng, hàng muồng kéo dài từ dưới
lên đến giáp đường.
Người làm chứng ông Lê Trọng L3 trình bày:
Tôi các đương sự không quan hệ thân thích, họ hàng, tôi vào sinh
sống, làm ăn tại buôn A hiện nay từ cuối năm 1998, đầu năm 1999, từ khi đến
sống làm rẫy tại đây tôi đã thấy ông Q, bà V quản lý, sử dụng diện tích đất
đang tranh chấp hiện trạng như bây giờ, từ đó cho đến nay, về nguồn gốc đất
thì tôi được biết là ông Q, V nhận chuyển nhượng từ ông N2 (về thông tin họ,
địa chỉ của ông N2 tôi không biết cụ thể), việc chuyển nhượng giữa ông N2
ông Q, bà V cụ thể ra sao tôi cũng không nắm rõ, chỉ biết về vị trí đất ông Q, bà
V sử dụng có cạnh phía đông giáp đường đi, con đường còn tồn tại đến nay, trước
đây đường đất nay đã được trải nhựa, ông Q, V sử dụng n định từ năm
1999, không thấy có ai tranh chấp, họ đã trồng cà phê và các cây trồng khác, đến
năm 2022 ông Q, V chặt bỏ cây phê cũng không thấy ai ý kiến hay tranh
chấp gì.
Người làm chứng bà Vũ Thị H5 trình bày:
Tôi các đương sự không quan hệ thân thích, họ hàng, tôi vào sinh
sống, làm ăn tại buôn A hiện nay từ năm 1999, từ khi đến sống làm rẫy tại đây
tôi đã thấy ông Q, bà V quản lý, sử dụng diện tích đất đang tranh chấp từ đó cho
đến nay, về nguồn gốc đất thì tôi không biết cụ thể ông Q, V nhận chuyển
10
nhượng từ ai, về vị trí đất ông Q, bà V sử dụng có cạnh phía đông giáp đường đi,
con đường còn tồn tại đến nay, trước đây là đường đất nay đã được trải nhựa, ông
Q, V sử dụng ổn định tnăm 1999, không thấy ai tranh chấp, họ đã trồng
cà phê các cây trồng khác, đến năm 2022 ông Q, bà V chặt bỏ cây phê cũng
không thấy ai ý kiến hay tranh chấp gì.
Tại Bản án n sự thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 25/5/2024 và ngày
15/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, quyết định:
[1] - Căn cứ: khoản 2, 9 Điều 26; Điều 34; điểm a khoản 1, 2 Điều 37; Điều
38; Điều 144, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, khoản 2
Điều 227, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng khoản 3 Điều 6, khoản 3 Điều 12, khoản 2 Điều 106, Điều 170
Luật đất đai; khoản 1 Điều 26 điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên xử:
[2.1] Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Y Nhu AH Ran N
về việc buộc bị đơn ông Phan Q, bà Đặng Thị V phải trả lại phần diện tích đất
lấn chiếm 2.103,1m
2
là một phần trong diện tích 6.250m
2
, thuộc thửa đất số 26,
tờ bản đồ số 17 (nay thửa đất số 14, tờ bản đồ 112), toạ lạc tại Buôn A, C,
huyện K, Đắk Lắk.
[2.2] Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phan Q,
Đặng Thị V.
Buộc nguyên đơn ông Y Nhu A và bà H Ran N phải trả lại cho bị đơn đơn
ông Phan Q, Đặng Thị V diện tích đất lấn chiếm 2.103,1m
2
một phần
trong diện tích 6.250m
2
, thuộc thửa đất số 26, tờ bản đồ số 17 (nay là thửa đất số
14, tờ bản đ112), toạ lạc tại buôn A, xã C, huyện K, Đắk Lắk. trí tứ cạnh:
phía Đông giáp đường nhựa liên thôn cạnh dài 70,9m; phía Tây giáp đất ông Q,
V cạnh dài 65,15m (30m +35,15m); phía Nam giáp đất ông Y Nhu A, H
Ran N Y cạnh dài 58,76m (49,09m+9,67m); phía Bắc giáp đất ông T2, bà H4 cạnh
dài 5,52m.
Hủy giấy chứng nhận quyền sdụng đất CE 095320, thửa đất số 26, tờ bản
đồ số 17 (nay là thửa đất số 14, tờ bản đồ 112), do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Đ cấp ngày 26/8/2016 mang tên ông Y Nhu A2 và bà H Ran N.
Các bên đương sự nghĩa vụ khai, đăng cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đúng với hiện trạng đất đang quản lý, sử dụng theo quy định của pháp
luật đất đai hiện hành.
[2.3] Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của ông Q, bà V đối với yêu cầu
hủy hợp đồng thế chấp tài sản giữa vợ chồng Y Nhu A, H Ran N với Ngân
hàng TMCP P-Chi nhánh Đ.
11
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, chi ptố tụng quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/7/2024, nguyên đơn ông Y Nhu A, H Ran N đơn kháng cáo
với nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa
phát biểu quan điểm:
Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
những người tham gia ttụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố
tụng dân sự.
Về nội dung: nguyên đơn ông Y Nhu A, H Ran N kháng cáo nhưng
không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng
cáo của mình, đề nghị Hội đồng xét xkhông chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; ý kiến trình
bày, tranh luận của đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Y Nhu A H Ran
N thì thấy:
[1.1]. Nguyên đơn người làm chứng bà H Li N4 (bà H Li Niê của
H’ Ran Niê) cho rằng: diện tích 2.103,1m
2
một phần trong diện tích 6.250m
2
,
thuộc thửa đất số 26, tbản đồ số 17 (nay thửa đất số 14, tờ bản đồ 112), toạ
lạc tại buôn A, xã C, huyện K có nguồn gốc do ông Y Grăk A4 (chồng của bà H
li Niê) khai hoang, sử dụng trước năm 1995, đến ngày 15/5/1996 được Ủy ban
nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 092517 cho ông
Y Grăk A4, năm 2000 vợ chồng ông Y Grăk A4, H Li N4 tặng cho vợ chồng
ông Y Tullul A5 (là anh trai của ông Y Grăk A4), H Ri N5 diện tích đất trên
vợ chồng ông Y Tullul A5, bà H Ri N5 (ông Y Tullul A5, bà H Ri N5 là bố mẹ
chị H Ran N) quản lý, sử dụng nhưng chưa được sang tên. Năm 2016, ông Y T4
chết, vợ chồng ông Y Grăk A4, H Li N4 lập hợp đồng chuyển nhượng trực tiếp
cho vợ chồng cho ông Y Nhu A, H Ran N; ngày 26/8/2016, vợ chồng ông Y
Nhu A, bà H Ran N được UBND huyện K cấp giấy CNQSDĐ số CE 095320.
[1.2]. Nguyên đơn vàH Li N4 cho rằng: năm 1996, ông Y Grăk A4, bà
H Li N4 chuyển đi nơi khác sinh sống nên bị đơn đã lấn chiếm diện tích đất khoảng
1.900m
2
(đo đạc thực tế 2.103,1m
2
) không căn cứ. Bởi lẽ, trước khi vợ chồng
Y Nhu Ađrơng, bà H Ran N được vợ chồng ông Y Grăk A4, bà H Li Niê lập hợp
đồng chuyển nhượng đất thì chủ sử dụng đất ông Y Tăng M1 đã trồng cây
phê trên đất tkhoảng năm 1997-1998, sau đó ông Y Tăng M1 chuyển nhượng
đất cho T5, năm 1999 T5 chuyển nhượng cho vợ chồng ông Q, bà Vông
12
Q, bà V quản lý, sử dụng từ năm 1999 cho đến năm 2022 mà không gặp sự phản
đối, ngăn cản của ai. Nguyên đơn cho rằng đã làm đơn gửi Ủy ban nhân dân xã C
để yêu cầu giải quyết tranh chấp đất nhiều lần nhưng không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình, không được bị đơn thừa nhận.
Theo kết quả xác minh ngày 07/8/2023 đại diện Pơng cung cấp thì thấy
UBND xã không nhận được bất cứ thông tin, hay đơn khiếu nại về tranh chp
đất giữa các bên. Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa thẩm các bên đều
thừa nhận vợ chồng ông Q, bà V là người trực tiếp quản lý, sử dụng, canh tác đất
từ trước cho đến năm 2022 là hoàn toàn phù hợp với Biên bản hòa giải tranh chấp
do UBND C lập ngày 18/4/2022, nguyên đơn H’ Ran Niê xác nhận diện tích
đất tranh chấp từ trước đến nay do ông Phan Q người trực tiếp quản lý, sử
dụng, canh tác trồng cây công nghiệp trên đất.
[1.3]. Căn cứ kết quả xác minh ngày 07/9/2023 tại Ủy ban nhân dân xã C,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk thì thấy nội dung: Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 17, diện
tích 6.250m
2
theo bản đồ mang tên ông Y Tulluk A6. Năm 2010 theo bản đồ
địa chính mới thì diện tích đất này thuộc một phần của thửa đất số 14, tờ bản đồ
số 112, tổng diện ch đất 7.034,7m
2
(trong đó đã bao gồm phần diện tích đất
tranh chấp). Tuy nhiên, theo bản đồ địa chính mới thửa đất số 14 chưa bao gồm
phần diện tích đất tranh chấp.
Theo bản đồ địa chính mới thể hiện thửa đất số 13, tờ bản đồ số 112 diện
tích 5.488,4m
2
(theo bản đồ thửa số 10, tờ bản đồ số 17) đã bao gồm phần
diện tích đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 26, tờ bản đồ số 17.
Phần diện tích đất tranh chấp theo bản đồ địa chính mới năm 2010 được
đăng theo tên ông Q, V. Đến năm 2010, phần diện tích đất tranh chấp không
còn nằm trong thửa đất số 26, tờ bản đồ số 17 và không nằm trong thửa số 14, tờ
bản đồ số 112.
Tài liệu hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Phòng tài nguyên
và môi trường huyện K cũng thể hiện việc cấp GCNQSDĐ số H 092517 thửa đất
số 26, tờ bản đồ số 28 cho hộ ông Y Grăk A4 cấp năm 1996 có thể xảy ra trường
hợp cấp sai đối tượng, vị trí, ranh giới sử dụng đất do các hộ đăng ký kê khai tập
trung và cán bộ kỹ thuật địa chính thiếu kiểm tra thực tế các hộ sử dụng đất. Bản
đồ giải thửa địa chính thể hiện sai sót trong qtrình đo đạc, thể cấp sai về
ranh giới đất.
Hồ đăng biến động quyền sử dụng đất CE 095320 ngày 26/5/2016
cấp cho hộ ông Y Nhu A2 thửa đất số 26, tờ bản đồ số 17, diện tích 6.250m
2
chỉ
dựa trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất không thực hiện việc
kiểm tra đo đạc, không áp dụng bản đồ giải thửa địa chính được Sở Tài nguyên
và Môi trường nghiệm thu năm 2010.
Kết quả lồng ghép bản đồ giải thửa địa chính năm 1995 năm 2010 thể
hiện: thửa đất số 26, tờ bản đồ 17 theo bản đồ năm 1995 được lồng ghép với thửa
13
đất số 13, tờ bản đồ số 112 theo bản đồ năm 2010 có sự chồng lấn thể hiện: thửa
đất số 26, tờ bản đồ số 17, diện tích 6.250m
2
mang tên ông Y Nhu A2 H Ran
N cấp chồng lên một phần diện tích thửa đất s13, tbản đồ số 112 mang tên ông
Q bà V. Nên thửa đất số 26 cấp sai về hình thể, diện tích và ranh giới của thửa đất
so với hiện trạng gia đình ông Y Nhu A2 quản lý, sử dụng. Việc Sở T cấp
GCNQSDĐ cho hộ ông Y Nhu A2 H Ran N sai về ranh giới đất hiện
trạng người sử dụng đất khi cấp GCNQSDĐ không đo đạc kiểm tra hiện
trạng đất và lồng ghép bản đồ giải thửa các năm 1995 và 2010. Do đó, không có
căn cứ để chấp nhận đơn khởi kiện của ông Y Nhu A2 H R vviệc buộc ông
QV phải trả lại diện tích đất tranh chấp.
[2]. Xét yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phan Q bà Đặng Thị V
thấy:
[2.1]. Quá trình tố tụng, các bên đương sự đều nộp đơn khởi kiện với
cách nguyên đơn đều nộp tạm ứng án phí. Do cùng đối tượng tranh chấp nên
ngày 17/5/2022, TAND huyện Krông Búk ban hành quyết định quyết định nhập
vụ án số 01/2022/QĐ-NVA xác định ông Y Nhu A2 H Ran N nguyên
đơn, ông Q, V bị đơn. Ngày 05/9/2022, ông Q, V đơn với nội dung
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đồng thời yêu cầu hủy
GCNQSDĐ đã cấp cho nguyên đơn. TAND huyện Kng Búk xác định đây
yêu cầu phản tố của bị đơn thông báo bị đơn nộp tạm ứng án phí không đúng.
Đây chỉ lời trình bày, ý kiến của bị đơn. Ngày 27/12/2022, ông Q, V
đơn yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp tài sản giữa vợ chồng Y Nhu A, bà H Ran N
với Ngân hàng TMCP P-Chi nhánh Đ, quá trình tố tụng các bên đương sự cung
cấp thông tin Y Nhu Adrơng, H Ran N đã trả hết nợ, xóa thế chấp nên ngày
17/7/2023, ông quyết, V rút yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp trên. Do đó, bản
án sơ thẩm đã đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn đối với yêu cầu hủy
hợp đồng thế chấp giữa vợ chồng Y Nhu A, H Ran N với Ngân hàng TMCP
P-Chi nhánh Đ là có căn cứ.
Quá trình tố tụng các bên đương sđều xác nhận từ năm 1999 đến năm
2022, ông Q bà V là người quản lý, sử dụng đất, sau khi ông Q, bà V nhổ bỏ cây
phê già cỗi, cải tạo đất để trồng cây khác thì vchồng Y Nhu A, H Ran N
ra ngăn cản nên các bên xảy ra tranh chấp, đất không ai sử dụng, quản lý chờ kết
quả giải quyết của quan chức năng; tại biên bản ngày 03/6/2024 của TAND
tỉnh Đắk Lắk và tại phiên tòa các bên xác nhận từ tháng 3/2024 đến nay vợ chồng
Y Nhu A, H Ran N là người đang chiếm giữ đất trồng cây hòa màu ngắn
ngày trên đất. Do đó, Tòa án cấp thẩm xác định yêu cầu của bị đơn về việc
buộc nguyên đơn phải trả lại diện tích lấm chiếm, yêu cầu hủy GCNQSDĐ là yêu
cầu phản tố của bị đơn theo quy định tại Điều 200 của BLTTDS đúng pháp luật.
[2.2]. Xét lời khai của bị đơn và những người làm chứng về nguồn gốc đất
tranh chấp thấy: ông Y Tăng M1 khai hoang, trồng cây phê trên đất, khoảng
14
năm 1997, 1998 chuyển nhượng cho Nguyễn Thị Kim T5 (đã chết năm 2015),
việc chuyển nhượng, bàn giao đất không đo đạc thực tế. Năm 1999, T5 chuyển
nhượng cho vợ chồng ông Q, V diện tích khoảng 5 sào (hiện nay đo đạc thực
tế là 5.488,4m
2
) đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bao gồm
diện tích 2.103,1m
2
tranh chấp, khi nhận chuyển nhượng trên đất đã cây phê,
có ranh giới, cột mốc rõ ràng phân định với các hộ xung quanh, ông Q, bà V trực
tiếp quản lý, sử dụng không gặp sphản đối nào. Đến năm 2022, do cây
phê già cỗi ông Q, V nhổ để trồng cây mới thì bị vợ chồng ông Y Nhu A, H
Ran N ra chiếm đất trồng cây hoa màu ngắn ngày. Như vậy, lời khai của bị đơn
về nguồn gốc quá trình quản sdụng, tạo lập tài sản trên đất bản phù hợp
với lời khai của chủ sdụng đất ông Y Tăng M1, hoàn toàn phợp với lời
khai của là ông Bùi Nghĩa C bà T5 (tại Bl 237); phù hợp vời lời khai của những
người làm chứng có đất giáp ranh, liền kề, sinh sống cùng thời điểm và gần khu
vực đất tranh chấp gồm: Ngô Thị H3, Vũ Thị H5, Nguyễn Thị H4, bà Trương
Thị L2, ông Trọng L3 phù hợp kết quả xác minh như nhận định phân tích
tại [1.3]. Do đó, bản án thẩm đã chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn; buộc
nguyên đơn phải trả lại cho bị đơn diện tích lấn chiếm 2.103,1m
2
hủy
GCNQSDĐ số CE 095320, do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ cấp ngày
26/8/2016 mang tên ông Y Nhu AH Ran N là có căn cứ.
[2] Từ nhận định trên, xét thấy, Tòa án cấp thẩm đã giải quyết vụ án
đúng pháp luật. Tại phiên phúc thẩm, nguyên đơn ông Y Nhu A H Ran
N kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ mới nào khác
để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình căn cứ nên không được
chấp nhận; do đó Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm đề nghị của đại diện Viện
Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng không chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3]. Về án pdân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn ông Y Nhu
A2 H Ran N không được chấp nhận nên mỗi ông phải chịu 300.000 đồng
án phí DSPT.
[4]. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn vợ chồng ông Y Nhu A, bà H
Ran N. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 23/5/2024
ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Áp dụng khoản 2, 9 Điều 26; Điều 34; điểm a khoản 1, 2 Điều 37; Điều
38; Điều 144, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, khoản 2
Điều 227, Điều 266 Điều 273 của Bộ luật ttụng dân sự; khoản 3 Điều 6,
15
khoản 3 Điều 12, khoản 2 Điều 106, Điều 170 Luật đất đai; khoản 1 Điều 26
điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Y Nhu A
H Ran N về việc buộc bị đơn ông Phan Bá Q, bà Đặng Thị V phải trả lại phần
diện tích đất lấn chiếm 2.103,1m
2
một phần trong diện tích 6.250m
2
, thuộc thửa
đất số 26, tờ bản đồ số 17 (nay là thửa đất số 14, tờ bản đồ 112), tọa lạc tại buôn
A, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
[2]. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phan Q,
Đặng Thị V.
[2.1]. Buộc nguyên đơn ông Y Nhu A H Ran N phải trả lại cho bị đơn
đơn ông Phan Q, Đặng Thị V diện tích đất lấn chiếm 2.103,1m
2
một phần
trong diện tích 6.250m
2
, thuộc thửa đất số 26, tờ bản đồ số 17 (nay là thửa đất số
14, tờ bản đồ 112), toạ lạc tại buôn A, C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. trí tứ cạnh:
phía Đông giáp đường nhựa liên thôn cạnh dài 70,9m; phía Tây giáp đất ông Q,
V cạnh dài 65,15m (30m +35,15m); phía Nam giáp đất ông Y Nhu A, H
Ran N Y cạnh dài 58,76m (49,09m+9,67m); phía Bắc giáp đất ông T2, bà H4 cạnh
dài 5,52m.
[2.2]. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CE 095320, thửa đất số 26,
tờ bản đồ số 17 (nay là thửa đất số 14, tờ bản đồ 112), do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đ cấp ngày 26/8/2016 mang tên ông Y Nhu A2 và bà H Ran N.
Các bên đương sự nghĩa vụ khai, đăng cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đúng với hiện trạng đất đang quản lý, sử dụng theo quy định của pháp
luật đất đai hiện hành.
[3]. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của ông Q, V đối với yêu cầu
hủy hợp đồng thế chấp tài sản giữa vợ chồng Y Nhu A, H Ran N với Ngân
hàng TMCP P-Chi nhánh Đ.
[4]. Ván phí dân sphúc thẩm: ông Y Nhu A2 HRan N6 mỗi người
phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ stiền 600.000
đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí toà án số
0014009 ngày 02/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
[5]. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
16
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- Cục THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA, PHCTP, LT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
ĐÃ KÝ
Phạm Ngọc Thái
Tải về
Bản án số 69/2025/DS-PT Bản án số 69/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 69/2025/DS-PT Bản án số 69/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất