Bản án số 702/2026/DS-PT ngày 17/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 702/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 702/2026/DS-PT ngày 17/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 702/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 702/2026/DS-PT Bản án số 702/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 702/2026/DS-PT Bản án số 702/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 702/2026/DS-PT
Ngày: 17/9/2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Quế
Các Thẩm phán: Ông Trịnh Xuân Miễn
Ông Huỳnh Văn Yên
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hải Sơn, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà
Huỳnh Diễm Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 472/2026/TLPT-HS ngày 10 tháng 8
năm 2026 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 104/2026/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 642/2026/QĐXXPT-DS
ngày 18 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Ngô Minh Đ, sinh năm 1955.
Số CCCD: ************, cấp ngày 20/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát
QLHC về TTXH Bộ C.
Địa chỉ: Ấp S, xã H, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Văn H, sinh ngày 08/10/1987 (Văn
bản ủy quyền ngày 30/12/2025. Ông H có mặt).
Số CCCD: ************, cấp ngày 14/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát
QLHC về TTXH Bộ C.
Địa chỉ: Số nhà D, đường số G, khu dân cư T, phường B, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Lâm V (tên gọi khác là Lâm V1), sinh năm 1955.
Số CCCD: ************, cấp ngày 20/4/2026, nơi cấp: Cục C1 về trật tự xã
hội Bộ C.
Địa chỉ: Ấp S, xã H, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Dư Văn P, sinh ngày 01/8/1994 (Hợp
đồng uỷ quyền ngày 20/8/2026. Ông P có mặt).
2
Số CCCD: ************, cấp ngày 18/11/2024, nơi cấp: Cục Cảnh sát
QLHC về TTXH Bộ C
Địa chỉ: Ấp L, xã P, tỉnh Cà Mau
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lâm V: Trợ giúp viên pháp
lý Trần Thị Hằng N của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C. Bà N có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Võ Thị T, sinh năm 1963 (vợ ông Đ, có mặt).
Địa chỉ: Ấp S, xã H, tỉnh Cà Mau).
2. Anh Lâm Hoàng Si N1, sinh năm 1986 (con ông V, vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp S, xã H, tỉnh Cà Mau).
3. Anh Lâm Hoàng Si T1, sinh năm 1990 (con ông V, vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp S, xã H, tỉnh Cà Mau).
4. Anh Lâm Vĩnh K, sinh năm 2001 (con ông V, vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp S, xã H, tỉnh Cà Mau).
5. Chị Lâm Thị Si V2, sinh năm 1983 (con ông V, vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, khóm A, phường B, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Lâm Hoàng Si T1: Trợ giúp
viên pháp lý Lâm Thị H1 của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C. Bà H1 có
mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Lâm Vĩnh K: Trợ giúp viên
pháp lý Nguyễn Quỳnh H2 của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C. Bà H2 có
mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Lâm Hoàng Si N1 là: Trợ
giúp viên pháp lý Võ Chúc P1 của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C. Bà P1
có mặt.
- Người kháng cáo: Ông Lâm V là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa,
ông Ngô Minh Đ là nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 13/01/1996, ông Lâm V và vợ là bà Trần Thị B (đã chết) thỏa thuận
chuyển nhượng cho ông Ngô Minh Đ và vợ là bà Võ Thị T phần đất trồng lúa diện
tích 03 công tầm cấy (diện tích 3.900m2) tại thửa 932, tờ bản đồ số 11, có vị trí
như sau: Cạnh hướng Bắc giáp thửa 509 của ông Lý H3, cạnh hướng Nam giáp
thửa 931 của ông Trần V3, cạnh hướng Tây giáp thửa 523 của ông Trần Q, cạnh
hướng Đông giáp thửa 931 của ông Trần V3, tọa lạc tại ấp S, xã H, huyện V, tỉnh
Bạc Liêu (nay là ấp S, xã H, tỉnh Cà Mau), với giá 04 chỉ vàng 24K/công x 03
công = 12 chỉ vàng 24K; có viết giấy tay với tiêu đề: “Giấy chuyển nhượng
3.900m2 đất trồng lúa” do ông Đ viết, ông V trực tiếp lăn tay vào giấy tay chuyển
nhượng nêu trên. Ông Đ, bà T đã giao đủ 12 chỉ vàng 24K cho vợ chồng ông V và
vợ chồng ông V đã giao đất cho vợ chồng ông Đ sử dụng đến nay, nhưng chưa
hoàn tất thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Khi làm thủ tục xin cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất từ tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã H, vợ chồng ông Đ đã
3
giao thêm cho vợ chồng ông V 1,5 chỉ vàng 24K để vợ chồng ông Lâm V đóng
thuế và đưa thêm 3.000.000 đồng cho ông V để hoàn chỉnh thủ tục sang tên cho vợ
chồng ông Đ. Tuy nhiên, đến ngày 08/8/2002, ông V lại được UBND huyện V cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 1024, tờ bản đồ số 9, diện tích
3.900m2. Sau khi bà B đã chết, ông V đã được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất sang bản đồ chính qui, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
huyện V cấp ngày 22/02/2024 tại thửa 562, tờ bản đồ số 06, diện tích 3.913,3m2
đất trồng lúa và cấp đổi cho ông V ngày 31/7/2025 tại thửa 562, tờ bản đồ số 13,
diện tích 3.913,3m2 đất chuyên trồng lúa nước. Do ông V không sang tên quyền sử
dụng đất cho vợ chồng ông Đ, nên ông Đồng khởi K1 yêu cầu Tòa án giải quyết
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/01/1996 đối với
diện tích đất nêu trên với ông V.
* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn là ông Lâm V trình bày:
Ông V không thừa nhận vợ chồng ông V có chuyển nhượng quyền sử dụng
đất diện tích 3.900m2 cho vợ chồng Đ. Ông V chỉ thừa nhận khi ông V đi làm thuê
ở tỉnh Cà Mau, bà B ở nhà có cầm cố 03 công tầm cấy (diện tích 3.900m2) đất
trồng lúa cho ông Đ với giá khoảng 5.300.000 đồng đến 5.400.000 đồng. Do bà B
không biết chữ nên không rõ có làm giấy tờ hay không. Khi đi làm thuê về nhà,
ông V được bà B nói lại sự việc cầm cố đất cho ông Đ thì ông V cũng đồng ý việc
cầm cố đất này. Thời hạn cầm cố đến khi nào gia đình ông Lâm V có tiền sẽ chuộc
lại đất. Từ đó đến nay, gia đình ông V đã 03 lần đến gặp ông Đ để xin chuộc lại đất
mà ông Đ không đồng ý, vì cho rằng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với phần đất nêu trên. Ông V không thừa nhận có việc nhận thêm số tiền
3.000.000 đồng và 1,5 chỉ vàng 24K như gia đình ông Đ trình bày. Nay ông V
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ về việc yêu cầu Tòa án giải quyết
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 03 công tầm cấy
(diện tích theo đo đạc thực tế là 3.911,2m2 tại thửa 562, tờ bản đồ số 06 (nay là
thửa 562, tờ bản đồ số 13), tọa lạc ấp S, xã H, tỉnh Cà Mau. Ông V có đơn phản tố
yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với
ông Đ, cho ông V chuộc lại diện tích đất nêu trên với giá 12 chỉ vàng 24K.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị T trình bày:
Bà T thống nhất với ý kiến yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Minh Đ, yêu cầu
Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Lâm V
(Lâm Vôl) và không đồng ý cho ông Lâm V (L) chuộc lại đất với giá 12 chỉ vàng
24K.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lâm Thị Si V2 trình bày:
Chị V2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ, thống nhất với yêu
cầu phản tố của ông V.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lâm Hoàng Si N1, anh Lâm
Hoàng Si T1, anh Lâm Vĩnh K trình bày:
Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ, thống nhất với yêu cầu phản
tố của ông V.
4
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 104/2026/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cà Mau đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39,
khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 161, khoản 1 Điều 165, khoản
2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 690, 691, 692,
693, 694, 695, 696, 697, 705, 706, 707, 709, 712 Bộ luật Dân sự năm 1995; các
điều 500, 501, 502, 503, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 36, 73 Luật Đất
đai năm 1993, các điều 4, 26, 27, 31, 37, 45, 236 Luật Đất đai năm 2024; Án lệ số
55/2022/AL; Án lệ số 04/2016/AL; điểm b2 tiểu mục 2.3 mục 2, phần II Nghị
quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 24, các khoản 1, 2
Điều 26, điểm a khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Minh Đ về việc yêu cầu công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng với ông Lâm V. Không chấp nhận
yêu cầu phản tố của ông Lâm V về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất với ông Ngô Minh Đ.
2. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/01/1996
giữa ông Ngô Minh Đ với ông Lâm V (L) đối với diện tích đất theo đo đạc thực tế
là 3.911,2m2 tại thửa 562, tờ bản đồ số 06 (nay là tờ bản đồ số 13), tọa lạc ấp S, xã
H, tỉnh Cà Mau, có vị trí và số đo như sau:
Cạnh hướng Đông giáp Kênh thủy lợi, có số đo 42,63m + 33,48m + 32,86m;
Cạnh hướng Tây giáp thửa 561, có số đo 31,38m + 40,80m và giáp thửa 564
có số đo 31,16m;
Cạnh hướng Nam giáp thửa 563, có số đo 39,29m;
Cạnh hướng Bắc giáp thửa 445, có số đo 32,60m.
3. Ông Ngô Minh Đ được quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng diện tích
đất nêu tại mục 2 phần Quyết định của Bản án này theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ phải chịu chi phí tố tụng, án phí
và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 09/4/2026, ông Lâm V kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ
thẩm, chấp nhận yêu cầu phản tố của ông, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa ông Đ và ông Lâm V, buộc ông Đ trả lại phần đất 3.900m2 mà cấp
sơ thẩm đã đo đạc.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm V vẫn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ trình bày: Không đồng ý với nội
dung kháng cáo của ông Lâm V4
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lâm V trình bày: Đề nghị
chấp nhận kháng cáo của ông Lâm V.
5
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Lâm Hoàng Si N1, Lâm
Hoàng Si T1 và Lâm Vĩnh K trình bày: Đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông Lâm
V.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
+ Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của
Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại
phiên tòa là đúng quy định của pháp luật.
+ Về nội dung, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân
sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm V, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm
số 104/2026/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 -
Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo Bản vẽ Mặt bằng hiện trạng sử dụng đất tranh chấp do Trung tâm
Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh B xác lập ngày 01/8/2024, diện tích đất
tranh chấp đo đạc thực tế là 3.911,2m², tọa lạc tại ấp S, xã H, tỉnh Cà Mau. Phần
đất này thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số AA 02941790 (số vào sổ cấp GCN: CN 04636) do Chi
nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực V, tỉnh Cà Mau cấp cho ông Lâm V
ngày 31/7/2025, với tổng diện tích 3.913,3m² đất trồng lúa (trong đó có 1.154m²
thuộc hành hành lang an toàn lưới điện 220kV). Về hiện trạng, toàn bộ diện tích
đất tranh chấp nêu trên do vợ chồng ông Ngô Minh Đ trực tiếp quản lý và sử dụng.
[2] Ông Lâm V xác định nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là do ông Trần
V3 (cha ruột bà Trần Thị B) tặng cho vợ chồng ông V, bà B vào khoảng năm 1982.
Ngày 08/8/2002, UBND huyện V, tỉnh Bạc Liêu (cũ) đã cấp GCNQSDĐ số U
935570 (vào sổ cấp số 00836 QSDĐ/80/1999) cho ông Lâm V. Đến ngày
31/7/2025, Chi nhánh Văn phòng Đ cấp đổi sang GCNQSDĐ số AA 02941790
đứng tên ông Lâm V, hình thức sử dụng: “Sử dụng chung của vợ và chồng”.
[3] Các đương sự đều thừa nhận vào năm 1996 hai bên có xác lập giao dịch
liên quan đến diện tích đất nêu trên. Phía ông Ngô Minh Đ trình bày: Ngày
13/01/1996, vợ chồng ông nhận chuyển nhượng 3.900m² đất trồng lúa từ vợ chồng
ông Lâm V với giá 12 chỉ vàng 24K (tương đương 5.850.000 đồng). Vợ chồng ông
Đ đã giao đủ vàng và nhận bàn giao đất quản lý, canh tác ổn định từ năm 1996 cho
đến nay. Ngược lại, ông Lâm V không thừa nhận việc chuyển nhượng đất với giá
12 chỉ vàng 24K và cho rằng dấu vân tay trong giấy viết tay chuyển nhượng ngày
13/01/1996 không phải của mình. Nhưng thừa nhận việc có giao đất cho phía ông
Đ sử dụng từ năm 1996.
[4] Căn cứ Kết luận giám định số 14/KL-KTHS ngày 22/01/2026 của Phân
viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, dấu vân tay dưới mục “Người
Viết Đơn” mang tên Lâm Vôl trên giấy tờ chuyển nhượng và các mẫu so sánh là
của cùng một người. Đồng thời, tại phiên tòa sơ thẩm, ông V cũng thừa nhận dấu
vân tay trong Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất là của bà Trần Thị B (vợ
ông V). Do đó, có đủ căn cứ xác định việc vợ chồng ông Lâm V chuyển nhượng
6
3.900m² đất trồng lúa cho vợ chồng ông Ngô Minh Đ vào ngày 13/01/1996 là xảy
ra trên thực tế
[5] Về hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
[5.1] Mặc dù hợp đồng chuyển nhượng ngày 13/01/1996 chỉ được lập bằng
giấy tay và thủ tục đăng ký biến động chưa hoàn tất tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền - vi phạm hình thức theo quy định tại Điều 707 Bộ luật Dân sự năm 1995.
Tuy nhiên, các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ cơ bản: Bên bán đã nhận đủ
tiền/vàng, bên mua đã nhận đất và canh tác ổn định liên tục từ năm 1996 đến nay.
Tại phiên toà phúc thẩm, phía ông V xác định từ khi giao đất đến nay, phía ông V
không có khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp liên quan đến phần đất đã giao
cho phía ông Đ sử dụng.
[5.2] Áp dụng hướng dẫn tại điểm b.2 tiểu mục 2.3 mục 2 phần II Nghị quyết
số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao: Trường hợp giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập sau ngày
15/10/1993 tuy vi phạm hình thức hoặc điều kiện cấp GCNQSDĐ tại thời điểm
giao kết, nhưng sau đó diện tích đất đó đã được cấp GCNQSDĐ và có phát sinh
tranh chấp yêu cầu Tòa án giải quyết từ sau ngày 01/7/2004 thì giao dịch không bị
coi là vô hiệu. Do đó, giao dịch chuyển nhượng ngày 13/01/1996 giữa vợ chồng
ông V với phía ông Đ có hiệu lực pháp luật.
[5.3] Quá trình sử dụng đất, bà Trần Thị B (vợ ông V) không có ý kiến phản
đối hay tranh chấp giao dịch nêu trên cho đến khi bà qua đời (ngày 17/3/2010). Do
đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm viện dẫn Án lệ số 04/2016/AL để giải quyết vụ án là
chưa chính xác về mặt áp dụng pháp luật.
[6] Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, việc Tòa án cấp sơ thẩm
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Minh Đ, không chấp nhận yêu
cầu phản tố của ông Lâm V là có căn cứ. Do đó, kháng cáo của ông Lâm V là
không có cơ sở chấp nhận. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ
nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Không chấp
nhận ý kiến của các Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[7] Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều xác định bên nguyên
đơn đã cho bên thứ ba là ông Sơn Linh Đ1 thuê đất. Tuy nhiên, tại phiên toà, phía
nguyên đơn có cung cấp xác nhận của ông Đ1 về việc hai bên đã chấm dứt hợp
đồng. Do đó, việc cấp sơ thẩm không đưa bên ông Đ1 vào tham gia tố tụng là có
cơ sở.
[8] Tuy kháng cáo không được chấp nhận, nhưng ông Lâm V là người cao
tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí, nên được miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự
phúc thẩm.
[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
7
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm V, giữ nguyên Bản án dân sự sơ
thẩm số 104/2026/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực
7 - Cà Mau.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Minh Đ về việc yêu cầu công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng lập ngày 13/01/1996 giữa ông Ngô
Minh Đ với vợ chồng ông Lâm V.
3. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
13/01/1996 giữa ông Ngô Minh Đ với vợ chồng ông Lâm V đối với phần đất có
diện tích đo đạc thực tế 3.911,2m2, thuộc thửa 562, tờ bản đồ số 13, tọa lạc ấp S,
xã H, tỉnh Cà Mau. Phần đất có vị trí, kích thước như sau (kèm theo Bản vẽ Mặt
bằng hiện trạng sử dụng đất lập ngày 01/8/2024 của Trung tâm Kỹ thuật Tài
nguyên và Môi trường tỉnh B):
- Cạnh hướng Đông giáp Kênh thủy lợi, kích thước 42,63m + 33,48m +
32,86m;
- Cạnh hướng Tây giáp thửa 561, kích thước 5,54m + 31,38m + 40,80m và
giáp thửa 564, kích thước 31,16m;
- Cạnh hướng Nam giáp thửa 563, kích thước 39,29m;
- Cạnh hướng Bắc giáp thửa 445, kích thước 32,60m.
4. Ông Ngô Minh Đ được quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng diện tích
đất nêu tại mục 3 phần Quyết định của bản án này theo quy định pháp luật.
5. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lâm V về việc yêu cầu hủy hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Ngô Minh Đ và vợ là Võ Thị T
với ông Lâm V.
6. Ông Lâm V được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKS nd tỉnh Cà Mau;
- TAND khu vực 7 - CM;
- Phòng THA dân sự khu vực 7 - CM;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Trọng Quế
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 702/2026/DS-PT Bản án số 702/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 702/2026/DS-PT Bản án số 702/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất