Bản án số 65/2024/DS-ST ngày 30/12/2024 của TAND huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 65/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 65/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 65/2024/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 65/2024/DS-ST ngày 30/12/2024 của TAND huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Tân Hiệp (TAND tỉnh Kiên Giang) |
Số hiệu: | 65/2024/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 30/12/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bị đơn chị Trần Thị P, anh Đỗ Văn C. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN T Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 65/2024/DS-ST
Ngày 30-12-2024
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Động
2. Bà Phan Thị Trúc Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện T , tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Đức Tuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên
Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 137/2024/TLST- DS ngày 10 tháng
7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 78/2024/QĐXXST-DS ngày 05/12/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số
51/2024/QĐST-DS ngày 24/12/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị T - sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: ấp C , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Chị Trần Thị P - sinh năm 1975 (có mặt)
Địa chỉ: số nhà 03, tổ 06, ấp B , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1 Anh Đỗ Văn C - sinh năm 1968 (chồng chị Phúc)
Địa chỉ: số nhà 03, tổ 06, ấp B , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang (có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt)
3.2 Anh Lê Văn C - sinh năm 1981 (chồng chị T ) (có mặt)
Địa chỉ: ấp C , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 03/6/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn chị
Dương Thị T trình bày:
Vào ngày 13/12/2022 âm lịch, ngày 04/01/2023 dương lịch, chị Trần Thị P có
hỏi vay chị Dương Thị T số tiền là 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng), với lãi
suất 5%/tháng, mục đích vay tiền để mua bán lo cho gia đình, từ khi vay cho đến
nay chị P không trả vốn và lãi cho chị T . Khi vay hai bên có lảm biên nhận nợ, nội
dung chị T viết, sau đó chị P có đọc lại rồi chị P ký tên và ghi họ tên.
Tại phiên toà chị T yêu cầu: Chị Dương Thị T yêu cầu Toà án xử buộc vợ
chồng chị Trần Thị P và anh Đỗ Văn C phải trả cho chị T số tiền vay gốc là
90.000.000 đồng, và yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật từ ngày 04/01/2023
dương lịch cho đến ngày xét xử sơ thẩm làm tròn 23 tháng.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn C trình bày:
Anh C là chồng của chị Dương Thị Thắm. Việc chị T cho chị P vay
90.000.000 đồng vào ngày 13/12/2022 âm lịch, ngày 04/01/2023 dương lịch mức lãi
suất cũng như thời gian trả nợ anh C không biết, khoảng tháng 8 năm 2024 chị T có
kêu anh C đến gặp anh Đỗ Văn C để nói việc chị P là vợ anh Đỗ Văn C nợ chị T
90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng), anh Đỗ Văn C cho rằng không biết số nợ
trên. Sau đó chị P mang số tiền đến trả và nói trả 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu
đồng) tiền gốc và 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) tiền lãi, nhưng chị T trả
lời không nhận, vì chị P nợ gốc đến 90.000.000 đồng, khi nào trả đủ 90.000.000
đồng và tiền lãi thì chị T mới nhận.
Tại phiên toà anh C yêu cầu: Anh C yêu cầu chị P và anh Đỗ Văn C trả cho
cá nhân chị T số tiền gốc số tiền 90.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định
pháp luật từ ngày 04/01/2023 dương lịch cho đến ngày xét xử sơ thẩm làm tròn 23
tháng.
* Bị đơn chị Trần Thị P trình bày: Chị P xác nhận biên nhận nợ ngày
13/12/2022 chị P vay tiền của chị T 90.000.000 đồng, nhưng thực tế số tiền gốc là
30.000.000 đồng, trong đó 60.000.000 đồng là tiền lãi. Nội dung biên nhận nợ do
chị T viết, chị P có ký tên và ghi họ tên.
Chị P cho rằng trước đó, tháng 11 năm 2018 chị P có vay của chị T 30 triệu,
nhưng không làm biên nhận, tiền lãi 1.500.000 đồng/tháng, chị P đóng lãi cho chị T
3 tháng 4.500.000 đồng, chị P đã đóng được 3 lần là 13.500.000 đồng, sau đó đóng
thêm 20.000.000 đồng tiền lãi, tổng cộng 33.500.000đồng. Chị P xác nhận mục đích
vay tiền là buôn bán lo cho gia đình, việc vay tiền trên anh C chồng chị P không
3
biết.
Việc đóng lãi với số tiền 33.500.000 đồng chị P trình bày chứ không có
chứng cứ gì để chứng minh, do tin tưởng nhau.
Việc chị P trình bày về số nợ 90.000.000 đồng, trong đó có 30.000.000 đồng
là tiền vay gốc, 60.000.000 đồng tiền lãi, nhưng chị P cũng không có chứng cứ gì
chứng minh. Sự việc này chỉ có chị P và chị T biết, ngoài ra không ai biết.
Tại phiên toà chị P yêu cầu: Chị P đồng ý cùng anh C trả nợ cho chị T với
số tiền gốc 30.000.000 đồng, mỗi tháng trả 500.000 đồng cho đến khi hết nợ, số tiền
60.000.000 đồng trong số tiền 90.000.000 đồng là tiền lãi, chị P không đồng ý trả.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 26/11/2024 người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan anh Đỗ Văn C trình bày:
Anh C là chồng chị Trần Thị P, còn chị Dương Thị T là bà con xa, anh C xác
nhận chị P có vay của chị T số tiền 30 triệu đồng vào năm 2018, lúc đó hai bên
không có làm biên nhận nợ. Trong thời gian vay cho đến nay anh C có nghe chị P
nói lại có đóng lãi cho chị T nhiều lần 13.500.000 đồng, đến ngày 13/12/2022 hai
bên làm biên nhận nợ ghi là chị P nợ chị T 90.000.000 đồng, trong đó có
30.000.000 đồng là nợ cũ, còn lại 60.000.000 đồng là tiền lãi.
Có lần chồng chị T đến nhà anh C để đòi tiền 90.000.000 đồng, anh C hỏi
chị P tiền vay để làm gì thì chị P nói vay mua bán gạo do lỗ, nhưng chị P nói chỉ
vay 30.000.000 đồng. Sau đó anh C có đưa cho chị P 50 triệu đồng để trả nợ cho chị
T , trong đó 30 triệu đồng là tiền gốc, còn 20.000.000 đồng là tiền lãi, nhưng chị T
không chịu nhận mà yêu cầu chị P phải trả đủ 90.000.000 đồng chị T mới nhận.
Anh C không có chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày trên, vì sự việc chỉ có
anh C, chị P và vợ chồng chị T biết, ngoài ra không có ai biết việc này.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong thời gian
chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm
vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Chị P và ông C trình bày cho rằng trong số tiền 90.000.000 đồng thì chỉ có
30.000.000 đồng là tiền gốc, còn lại 60.000.000 đồng là tiền lãi, nhưng chị T trình
bày số nợ 90.000.000 đồng là tiền gốc. Chị P và ông C không đưa ra được tài liệu,
chứng cứ nào để chứng minh. Do đó, lời trình bày của chị P và ông C là không có cơ
sở chấp nhận.
Đối với yêu cầu của chị P, anh C cho rằng đã trả lãi cho chị T nhiều lần tổng
4
cộng 33.500.000 đồng, nhưng chị T không thừa nhận. Chị P, anh C cũng không đưa
ra được chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày trên, do đó, lời trình của chị P, anh
C không có cơ sở để xem xét.
* Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn chị Dương Thị T, đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị P, anh C phải trả cho chị T
số tiền vay vốn gốc 90.000.000 đồng; đối với phần lãi hai bên thoả thuận 5%/tháng
là cao so với quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 468
Bộ luật dân sự lãi suất không vượt quá 20%/năm, thời gian từ ngày 04/01/2023
dương lịch đến ngày xét xử sơ thẩm làm tròn 23 tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Trần Thị P có địa chỉ tại huyện T , tỉnh
Kiên Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T .
Tòa án đã giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy báo phiên tòa hợp lệ, anh
Đỗ Văn C vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ
vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng
mặt anh Đỗ Văn Cợp.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Xét thấy nguyên đơn chị Dương Thị T khởi kiện
yêu cầu chị Trần Thị P và anh Đỗ Văn C phải thanh toán số tiền vay gốc là
90.000.000 đồng, đây là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
[3] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị T yêu
cầu Tòa án xử buộc vợ chồng bị đơn chị Trần Thị P và anh Đỗ Văn C phải trả số
tiền vay gốc là 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng) là có căn cứ. Bởi lẽ: Trong
quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Trần Thị P và người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan anh Đỗ Văn C thừa nhận, biên nhận nợ ngày 13/12/2022 có nội dung:
Ngày 13 tháng 12 năm 2022 tôi có hỏi em Dương Thị T số tiền 90.000.000 đồng
(chín mươi triệu đồng) với lãi suất 5%/tháng (là triệu 1 tháng 50.000 đồng) nội
dung thì do chị T viết, chị P có ký tên và ghi họ tên. (Bút lục 01)
Ngoài ra chị Phúc, anh C cho rằng trước đó, tháng 11 năm 2018 chị P có vay
của chị T 30 triệu, nhưng không làm biên nhận, tiền lãi 1.500.000 đồng/tháng, chị P
đóng đóng lãi cho chị T 3 tháng là 4.500.000 đồng, chị P đã đóng được 3 lần bằng
13.500.000 đồng, sau đó đóng thêm 20.000.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là
33.500.000 đồng, nhưng chị T không thừa nhận; chị P, anh C cũng không đưa ra
được chứng cứ để chứng minh, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận.

5
Chị P và ông C khai nại trong số tiền 90.000.000 đồng thì chỉ có 30.000.000
đồng là tiền gốc, còn lại 60.000.000 đồng là tiền lãi, nhưng chị T trình bày số nợ
90.000.000 đồng là tiền gốc. Chị P, ông C không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào
để chứng minh. Do đó, lời trình bày của chị P và anh C là không có cơ sở chấp
nhận.
Căn cứ Điều 463; 466 của Bộ luật dân sự quy định về hợp đồng vay tài sản,
nghĩa vụ trả nợ của bên vay, chị Trần Thị P đã nhận tài sản vay thì phải có nghĩa vụ
trả tiền cho bên cho vay khi đến hạn. Do đó, trong thảo luận và nghị án Hội đồng
xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn chị
Trần Thị P và anh Đỗ Văn C thanh toán số tiền còn thiếu cho nguyên đơn là
90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng).
Về lãi suất: Xét thấy các bên thoả thuận 5%/tháng là cao so với quy định
pháp luật, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự về mức
lãi suất không được vượt quá 20%/năm = 1,66%/tháng. Số tiền gốc 90.000.000
đồng, tính lãi từ ngày 04/01/2023 dương lịch đến ngày xét xử sơ thẩm ngày
30/12/2024 làm tròn 23 tháng, được tính như sau: 90.000.000 đồng x 1,66% x 23
tháng = 34.362.000đ (Ba mươi bốn triệu ba trăm sáu mươi hai nghìn đồng). Tổng
cộng tiền gốc và tiền lãi là 124.362.000đ (Một trăm hai mươi bốn triệu ba trăm sáu
mươi hai ngàn đồng).
Đối với yêu cầu của chị Trần Thị P về việc xin được trả dần, mỗi tháng trả
500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) cho đến khi hết nợ. Trong quá trình giải
quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu trả dần
của chị P nên Tòa án không có cơ sở để ghi nhận và yêu cầu này cũng không thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T .
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản
lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Trần Thị P, anh Đỗ Văn C phải chịu án
phí trên số tiền trả cho chị T là 124.362.000đ (Một trăm hai mươi bốn triệu ba trăm
sáu mươi ngàn đồng), được tính như sau: 124.362.000 đồng x 5% = 6.218.000 đồng
(Sáu triệu hai trăm mười tám nghìn đồng).
- Hoàn trả lại cho chị Dương Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.250.000
đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án
phí số 0003789 ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T , tỉnh Kiên
Giang, do yêu cầu khởi kiện của chị T được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên;

6
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều
147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 463; 466; khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự;
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị T về
việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bị đơn chị Trần Thị P, anh Đỗ Văn C.
2. Buộc chị Trần Thị P và anh Đỗ Văn C phải trả cho chị Dương Thị T số tiền
vay vốn gốc và lãi là: 124.362.000 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu ba trăm sáu
mươi hai nghìn đồng). Trong đó tiền gốc là 90.000.000 đồng, tiền lãi 34.362.000
đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp
cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải
trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- Buộc chị Trần Thị P và anh Đỗ Văn C phải nộp án phí có giá ngạch là
6.218.000 đồng (Sáu triệu hai trăm mười tám nghìn đồng).
- Hoàn trả lại cho chị Dương Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.250.000
đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án
phí số 0003789 ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T , tỉnh Kiên
Giang.
4. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn C vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án

7
dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành
án dân sự./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện T ; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục THADS huyện T ;
- TAND tỉnh Kiên Giang;
- Các đương sự;
- Lưu HS.
Nguyễn Văn Chiến
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 24/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Bản án số 155/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 15/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm