Bản án số 117/2026/HS-PT ngày 22/07/2026 của TAND TP. Cần Thơ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 117/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 117/2026/HS-PT ngày 22/07/2026 của TAND TP. Cần Thơ
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 117/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: xét xử phúc thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 117/2026/HS-PT Bản án số 117/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 117/2026/HS-PT Bản án số 117/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 117/2026/HS-PT
Ngày: 22- 7- 2026
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét x phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Thị Thọ
Các Thẩm phán: Tôn Thị Thanh Thúy
Thị Phương Thanh
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn Thư viên, Tòa án nhân
dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bùi Thị Thúy Ngà Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ số: 128/2026/TLPT-
HS ngày 18 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo Minh S do kháng cáo của bị
cáo đối với Bản án hình sự thẩm số: 44/2026/HS-ST ngày 07 tháng 4 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 Cần Thơ.
- Bị cáo kháng cáo:
Minh S, sinh ngày: 04/12/1982 tại thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: p I,
V, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân
tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Văn S1 (sống) Thị Á (chết); vợ Nguyễn Đặng Quế T 01 người
con (sinh m 2013); tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt
tại phiên toà).
- Người bào chữa cho bị cáo: Thúy M –Luật Văn phòng L3
Đoàn Luật thành phố C (có mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: Số A, đường T, phường T, thành phố Cần Thơ.
- Bị hại: Trần Thị B, sinh năm: 1955
Nơi trú: Ấp T, V, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Ông Trương Quang H, sinh năm: 1972
2
Nơi trú: Ấp A, H, tỉnh An Giang (vắng mặt).
2/ Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1979
Nơi trú: Ấp T, T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
3/ Hồ Thị Kim L, sinh năm: 1976
Nơi trú: Khu vực L, phường T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
4/ Ông Văn S1, sinh năm: 1951
Nơi trú: Ấp I, V, thành phố Cần Thơ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 4/2013 Trần Thị B mang lúa đến nhà máy V để xay, xay
xong, B nhờ Nguyễn Thị Tuyết C nhà máy V bán dùm 55 tấn (55.000kg)
gạo loại Jesmine, T1 thỏa thuận với Hồ Thị Kim L chủ kho Thắng Lợi
2 để bán 55 tấn gạo với giá 8.500đ/kg, với tổng số tiền 467.500.000 đồng. Ngày
08/4/2013, T1 kêu ông Trương Quang H (là ghe) kêu ghe chở 55 tấn gạo
giao cho kho T3 tại phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, H kêu Minh S
chở 55 tấn gạo với giá 50.000 đồng/tấn. S chở gạo đi cùng với L1 (anh
ruột của S). Khi chở gạo đến kho Thắng Lợi 2 để giao cho L, S đậu ghe chờ
tài lên gạo, chờ được khoảng 07 ngày thì chưa lên gạo được do cần tiền tiêu
xài nên S chở gạo đến kho (không tên địa chỉ cụ thể) huyện L, tỉnh
Đồng Tháp bán được 451.000.000 đồng rồi S chạy ghe về nhà tỉnh Hậu Giang
trả ghe cho Văn S1 (cha của S), sau đó S đem số tiền bán gạo được mua
09 lượng vàng 24k còn lại một ít tiền rồi bỏ trốn, S tiêu xài hết 150.000.000
đồng bán thêm 01 lượng vàng đ tiêu xài. Sau đó, L liên lạc kêu S lên gạo
nhưng không liên lạc được được nên thông báo cho B T1 biết. T1,
B cùng với ông H tìm đến n của S tỉnh Hậu Giang nhưng S bỏ đi khỏi
địa phương nên B đến Công an trình báo.
Đến ngày 28/4/2013 Trần Thị B cùng với Nguyễn Văn Đ (chồng của
Nguyễn Thị T1) tìm đến nhà S thì S điện thoại cho anh trai ông Nguyễn
L2 chạy đến Cần Thơ, S đưa vàng cho L2 đem bán được 295.800.000 đồng rồi
ông L2 đem về trả cho B.
Sau khi chiếm đoạt 55 tấn gạo thì S bỏ đi khỏi địa phương không về
nhà, gia đình của S không biết S đi đâu.
Khi tiếp nhận tin báo của Trần Thị B, quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện C, thành phố Cần Thơ đã mời Minh S làm việc nhưng S không mặt
tại địa phương. quan Cảnh sát điều tra đã thông báo truy m đối với
Minh S gửi báo T4; báo C1 đài phát thanh truyền hình thành phố C nhưng
không tìm được. Đến ngày 17/8/2025 Minh S đến Công an phường H, thành
phố Cần Thơ đầu thú.
3
Tại kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐĐGTS ngày 02/4/2020 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện C, thành
phố Cần Thơ kết luận: Gạo loại Jasmine, số lượng 55 tấn (55.000kg) vào thời
điểm tháng 4/2013 có giá trị (8.500đ/kg x55.000kg) 467.500.000 đồng.
Thị Á ông Minh T2 là mẹ anh của Minh S đã bồi
thường cho Trần Thị B 160.000.000 đồng. B nhận 160.000.000 đồng
không yêu cầu bồi thường thêm.
Tại Bản án hình sự thẩm số: 44/2026/HS-ST ngày 07 tháng 4 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 Cần Thơ quyết định:
Căn cứ vào: khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 54
của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Minh S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản”.
+ Xử phạt bị cáo Minh S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tính từ ngày b cáo đi chấp hành án.
+ Hình phạt bổ sung: Miễn cho b o.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí quyền kháng cáo theo
luật định.
Ngày 08 tháng 4 năm 2026, bị cáo Lê Minh S kháng cáo đề nghị hủy bản
án thẩm để điều tra lại với do bị cáo đã thỏa thuận trả nợ dần cho B
được B đồng ý.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
- Bị cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo với các do:
Bị cáo đang bị bệnh nên cần phải chữa bệnh, con của bị cáo còn nhỏ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa
phát biểu quan điểm:
Thống nhất về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự theo bản án thẩm. Xét thấy, mức hình phạt Tòa án cấp thẩm
áp dụng cho bị cáo 02 năm 06 tháng phù hợp, tương xứng với tính chất,
mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo kháng cáo cho rằng đã thỏa thuận trả nợ với B được B
đồng ý, xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo hoàn thành t lúc bị cáo tự ý chở
gạo của B đi bán lấy toàn bộ số tiền bán được rồi đi khỏi địa phương một
thời gian sau đó mới ra đầu thú.
Do đó, nhằm răn đe phòng ngừa chung trong hội. Đề nghị Hội đồng
xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án thẩm.
4
- Người bào chữa cho bị cáo trình bày bào chữa cho bị cáo: Bị cáo đã biết
hành vi phạm tội, đã ăn năn, hối cải. Ngày 08/4/2013, bị cáo bán gạo, đến ngày
28/4/2013, bị cáo đã trả cho bị cáo được 295.800.000 đồng hơn 1/2 số tiền
bán gạo. Hơn nữa, sau khi nhận tiền đủ B cũng đã không yêu cầu bị cáo bồi
thường thêm đơn xin bãi nại cho bị cáo.
Bản thân bị cáo nơi trú ràng, các tình tiết giảm nhẹ theo điểm
b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hoàn cảnh gia đình của bị
cáo khó khăn nên xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng o xin hưởng án treo
của bị cáo.
- Bị cáo trình bày: Thống nhất với quan điểm của Luật bào chữa cho bị
cáo. Bị cáo không trình bày thêm.
- Đại diện Viện kiểm sát đối đáp quan điểm của Luật bào chữa cho bị
cáo.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tình trạng bệnh cũng như hoàn cảnh của bị cáo
Luật trình bày đã được cấp thẩm xem xét đầy đủ cho bị cáo để từ đó
quyết định mức án cho bị cáo là phù hợp. Do đó, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ
nguyên đề nghị như đã trình bày trên.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo hối hận về hành vi bị cáo đã thực
hiện. Xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về đơn kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo đúng
theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên chấp
nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi bị cáo đã thực hiện theo nội
dung Bản cáo trạng Bản án thẩm. Đối chiếu lời khai của bị cáo các tài
liệu, chứng cứ trong hồ vụ án p hợp nên Hội đồng xét x đủ căn
cứ xác định:
Ngày 08/4/2013, bị cáo Minh S chở thuê 55 tấn gạo loại Jasmine cho
Trần Thị B t nhà máy V đến kho Thắng Lợi 2 để bán. Tuy nhiên, bị cáo đã
không giao gạo cho chủ kho Thắng Lợi 2 chiếm đoạt toàn bộ số gạo trên đi
bán được số 451.000.000 đồng bỏ trốn đi khỏi địa phương cùng toàn bộ số
tiền bán được.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐĐGTS ngày 02/4/2020 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện C,
thành phố Cần Thơ kết luận: Gạo loại Jasmine, số lượng 55 tấn (55.000kg) vào
thời điểm tháng 4/2013 giá trị (8.500đ/kg x55.000kg) 467.500.000 đồng.
5
Như vậy ngay từ khi bị cáo hành vi tự ý chở gạo của B đi bán lấy
toàn bộ số tiền bán gạo được bỏ trốn đã t đã xác định là bị cáo chiếm đoạt số
gạo của B, tội phạm đã hoàn thành nên không phụ thuộc vào việc B sau đó
thỏa thuận cho gia đình của bị cáo trả dần số tiền gia đình của bị o đã trả
đủ số tiền cho B chỉ được xem xét về vấn đề khắc phục hậu quả thuộc
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự.
Hành vi của bị cáo nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định
khung Chiếm đoạt tài sản giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000
đồng” được quy định tại khoản 3 của điều luật.
Do đó, Tòa án cấp thẩm xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đúng
người, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo, thấy rằng bị cáo
phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, xâm phạm đến tài sản của người
khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự hội tại địa phương, để lại
bức xúc trong nhân. Tại thời điểm phạm tội, bị o đầy đủ nhận thức, bị cáo
biết việc bị cáo chỉ được thuê vận chuyển tài sản của bị hại nhưng sau đó
chiếm đoạt tài sản của bị hại bán lấy tiền tiêu xài vi phạm pháp luật nhưng bị
cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý.
Sau khi phạm tội, bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương trong một thời gian
dài t tháng 4 năm 2013 đến tháng 8 năm 2025, gây khó khăn, trở ngại cho các
quan tiến hành t tụng trong việc điều tra, truy tố đối với bị cáo. Do đó, Tòa
án cấp thẩm áp dụng hình phạt đối với bị cáo là cần nhằm để răn đe, giáo
dục, giúp cho bị cáo thời gian tu dưỡng, rèn luyện lại bản thân, biết lao động
tạo thu nhập chính đáng, sống ích cho gia đình hội cộng đồng.
Khi quyết định hình phạt, cấp thẩm đã xem xét cho bị cáo hưởng c
tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn trong khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình
bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại xong, người bị hại cũng
đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo tự ra đầu thú tại quan Công an theo quy
định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51. Ngoài ra, xem xét đến hoàn cảnh cũng
như bản thân của bị cáo đang điều trị bệnh để từ đó áp dụng thêm Điều 54 Bộ
luật Hình sự, quyết định hình phạt đối với bị cáo 02 năm 06 tháng p hợp.
[4] Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được các tình tiết làm
căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho b cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị
của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, không chấp nhận
kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự thẩm số 44/2026/HS-ST
ngày 07/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4-Cần Thơ về hình phạt đối với bị
cáo.
6
[5] Luật bào chữa cho bị cáo trình bày về các tình tiết giảm nhẹ, hoàn
cảnh, tình trạng bệnh của bị cáo tuy nhiên những nội dung này đã được cấp
thẩm xem xét đầy đủ cho bị cáo.
[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp
luật do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận.
các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Minh S xin được hưởng án treo.
Giữ nguyên Bản án hình sự thẩm số 44/2026/HS ST ngày 07/4/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 Cần Thơ về phần quyết định hình phạt đối với bị
cáo.
1. Tuyên bố: Bị cáo Minh S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản”.
2. Căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 54
của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: bị cáo Minh S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tính từ ngày b cáo đi chấp hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
3. V án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều
136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Lê Minh S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không xem xét, hiệu lực kể từ ngày hết
thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ giám đốc, kiểm tra I;
- VKSND TP. Cần Thơ;
- CQCSĐT Công an TP. Cần Thơ;
- TAND, VKSND, Phòng THADS
khu vực 4 Cần Thơ;
- Bị cáo; bị hại;
- Phòng HSNV Công an TP. Cần Thơ;
- CQTHAHS Công an TP. Cần Thơ;
- Lưu hồ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CH TỌA PHIÊN TÒA
Thị Thọ
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 117/2026/HS-PT Bản án số 117/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 117/2026/HS-PT Bản án số 117/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất