Bản án số 620/2026/DS-PT ngày 23/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 620/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 620/2026/DS-PT ngày 23/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 620/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 620/2026/DS-PT Bản án số 620/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 620/2026/DS-PT Bản án số 620/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 620/2026/DS-PT
Ngày: 23/6/2026
V/v: “Tranh chấp ranh đất giữa các
bất động sản liền kề”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bích Hạnh
Các Thẩm phán: Ông Trần Tuấn Quốc
Ông Phạm Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Mỹ Yên Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần
Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Nguyễn Thị Như
Huỳnh - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 18 23 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 680/2026/TLPT-DS ngày 28
tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp ranh đất giữa các bất động sản liền kề”.
Do bản án dân sự thẩm số: 305/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025 của
Toà án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 817/2026/QĐPT-DS ngày
20 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Tô Thị Xuân T, sinh năm: 1971
Địa chỉ: ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Hoàng M, sinh năm: 1978
Địa chỉ: ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ. (Có mặt)
Bị đơn: ông Dương Văn C, sinh năm: 1953
Địa chỉ: ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
1. Bà Hồ Thị N, sinh năm: 1952. (Có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ.
2. Ông Võ Văn N1, sinh năm: 1995. (Có mặt)
3. Bà Tô Thị Mộng V, sinh năm: 1992. (Vắng mặt)
3. Bà Trần Tuyết M1, sinh năm: 2002. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: số C, đường L, phường C, thành phố Cần Thơ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hồ Thị N, sinh năm: 1952. (Có mặt)
- Bà Võ Thị D, sinh năm: 1981. (Vắng mặt)
- Ông Dương Hoàng A, sinh năm: 1982. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: số F, ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ.
Do có kháng cáo của nguyên đơn bà Tô Thị Xuân T
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/3/2023 và trình bày của đại diện nguyên đơn
Tô Thị Xuân T: Bà Thị Xuân T được quyền sử dụng đất tại thửa 445, tờ bản đồ số
9, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H01494 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày
02/11/2007 cho hộ Tô Thị B (bà T thừa kế). Trong quá trình sử dụng đất thì ông C
chủ sử dụng đất giáp ranh với T đã sử dụng lấn chiếm đất của bà T tại thửa 445,
cụ thể là ông C xây dựng hàng rào lưới và một phần nhà lấn sang đất của T. Nay
T yêu cầu ông C tháo dỡ hàng rào lưới B40, trả lại phần đất đã lấn chiếm 185.3m
2
theo đồ hiện trạng thửa đất số 157/VPĐK.DV ngày 20/10/2025 của Văn phòng
đăng ký đất đai thành phố C.
Theo trình bày của đại diện theo ủy quyền cho bị đơn Dương Văn C: ông C
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông C sử dụng đúng diện tích
phần đất thuộc thửa 447, tờ bản đsố 9, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CS04128 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 05/9/2017 cho ông
Dương Văn C. Ông C thống nhất với bản trích đo địa chính s367 ngày 10/7/2024
của Văn phòng đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C, không
đồng ý với đồ hiện trạng thửa đất số 157/VPĐK.DV ngày 20/10/2025 của Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố C– Sở Nông và Môi trường thành phố Cần Thơ
hình thể thửa đất theo kết quả đo đạc tại bản đồ hiện trạng thửa đất số
157/VPĐK.DV ngày 20/10/2025 không phợp với hình thể lúc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, trong lúc đo đạc cơ quan chuyên môn không xác định phần
đất lấn rạch Trà Niền Lớn mà chỉ dựa vào bản đồ.
Theo ý kiến của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Thị N: N thống
nhất với ý kiến của ông C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
giữa phần đất của ông C đất của T 01 hàng rào xây dựng hàng vào năm 2017
đã được bà T thống nhất và và T còn nhận của ông C số tiền 1.000.000đ.
Theo ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Hoàng A: thống
nhất với ý kiến của ông C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
ông C không có lấn ranh của bà T.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 305/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025 của
Toà án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tô Thị Xuân T về việc yêu
cầu bị đơn Dương Văn C trả lại phần đất diện tích 185.3m
2
được đánh dấu là điểm A
theo đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 157/VPĐK.DV ngày 20/10/2025 của Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố C.
Các phần đất tọa lạc tại ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ. Kèm theo Sơ đồ đo đạc
hiện trạng thửa đất số 157/VPĐK.DV ngày 20/10/2025 của Văn phòng đăng đất
đai thành phố C bản trích đo địa chính s367/VPĐKĐ ngày 10/7/2024 của Văn
phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Ngoài ra, cấp thẩm còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định, định giá quyền
kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/01/2026 nguyên đơn Thị Xuân T kháng cáo yêu cầu hủy án
thẩm, buộc ông C trả lại cho diện tích lấn chiếm 185.3m
2
theo đồ đo vẽ số
157 ngày 20/10/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo, đồng thời cho rằng ranh đất hai bên không phải là hàng rào lưới B40 của
ông C, năm 2017 ông C đổi giấy chứng nhận đã sđo cụ thể, bà T ký giáp ranh
cho ông C, T nhận số tiền 1.000.000đồng của ông C, do thời điểm đó T hoàn
cảnh khó khăn, ông C đã làm hàng rào, nên tạm thời để lại không tháo dỡ hay nhổ bỏ
trụ đá, chứ không phải công nhận đất này là của ông C cũng như không đồng ý đó là
ranh giới giữa hai bên.
Đại diện ủy quyền của bị đơn ông Dương Văn C cho rằng: Ông C xây hàng rào
và cặm trụ đá vào năm 2015, thời điểm làm hàng rào và cặm trú đá là sau khi bà
Thị B chết, năm 2019 ông đưa cho T 1.000.000đồng để giữ lại hàng rào
sự thỏa thuận miệng về ranh giới đất của hai bên, việc sử dụng đất của bị đơn trước
2019 bà T không tranh chấp, cây trồng và nhà tạm phía sau trên phần đất tranh chấp
là của ông C trồng và xây dựng từ 2015 đến nay.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm từ giai đoạn thụ lý đến khi đưa vụ
án ra xét xử, Tòa án đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng n sự. Về
nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng
dân sự, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Tô Thị Xuân T,
công nhận phần đất tranh chấp tại vị trí A cho nguyên đơn, nguyên đơn trả giá trị cây
trồng vật kiến trúc theo kết qu định giá các bên thống nhất số tiền 1.000.000đồng
cho bị đơn. Buộc bị đơn tháo dỡ di dời căn nhà tạm trên phần đất tranh chấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét kết quả tranh tụng tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét sử thẩm nguyên đơn kháng cáo trong hạn luật định
nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo nguyên đơn bà Tô Thị Xuân T. Hội đồng xét xử
xét thấy:
Nguyên đơn bà Thị Xuân T khởi kiện cho rằng ông Dương Văn C lấn ranh
đất của diện tích 185,3m
2
, căn cứ hiện trạng sử dụng đất thực tế của nguyên đơn
bị đơn xác định, nguyên đơn đang sử dụng thửa đất số 445 được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất với diện tích 371m
2
giấy chứng nhận cấp lần đầu cho
Nguyễn Thị N2 vào năm 1995 với số thửa 228, năm 2004 và 2007 cấp lại cho hộ bà
Thị B đổi thành thửa 445, đến năm 2022 bà B để thừa kế cho bà Tô Thị Xuân T
toàn bộ thửa 445 loại đất ONT (BL 72), theo đo đạc thực tế thửa 445 T đang s
dụng có diện tích 129,9m
2
bà T thiếu 241,1m
2
, còn thửa 810 loại đất ONT của bà T
đủ diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sdụng đất, cả hai thửa đất của
bà T đều là đất ONT không có đất CLN.
Giáp thửa 445 của T đất của ông Dương Văn C thửa số 447, căn cứ giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông C vào năm 2017 thửa 447 tổng diện
tích 661m
2
trong đó 100m
2
đất ONT 561m
2
đất CLN (BL-202). Quá trình đo
vẽ thực tế thửa đất 447 của ông C đang quản sử dụng diện tích 703,3m
2
nếu
cộng 185,3m
2
phần đất tranh chấp thì ông C đang sử dụng 888,6m
2
dư 227,6m
2
.
Xét về hình thể thửa đất, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa 445
của nguyên đơn đối chiếu lược đồ đo vẽ thực tế số 157 ngày 20/10/2025 của Văn
phòng Đ xác định chiều ngang giáp đường nội bộ theo giấy thửa 445 của bà T số
đo 7,70m, ngang sau giáp Rạch Còng 10,40m, đo đạc thực tế T chỉ đang sử dụng
ngang trước giáp đường nội bộ 3m, ngang sau giáp Rạch Còng 3,6m.
Ngược lại giấy chứng nhận quyền dụng đất của bị đơn được công nhận tại
thửa 447 có chiều ngang trước giáp đường nội bộ 4,50m, ngang sau giáp Rạch Còng
là 23,8m, đo đạc thực tế bị đơn đang sử dụng ngang trước giáp đường nội bộ 9,21m,
ngang sau giáp Rạch Còng 30,02m.
Như vậy, số đo các cạnh của bị đơn lớn hơn nhiều so với diện ch được nhà
nước công nhận vào năm 2017, tại phiên tòa người đại diện ủy quyền của bị đơn cho
rằng bị đơn cặm trụ đá hàng rào lưới B40 tnăm 2015 và thừa nhận thời điểm này
Thị B (mẹ ruột nguyên đơn) đã chết, việc bị đơn tự ý làm ranh, không sự
chứng kiến đồng ý của gia đình B, mặt khác bản thân bị đơn cũng thừa biết
phần đất bị đơn tự ý cặm ranh không thuộc quyền sdụng của mình, nên khi T
không đồng ý ranh là hàng rào của bị đơn, để không phải tháo dỡ và di dời trụ đá bị
đơn đã đưa cho nguyên đơn 1.000.000đồng để tạm thời giữ lại hàng rào và trụ đá.
Do vậy, căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp thuộc thửa 445 của nguyên
đơn, cấp sơ thẩm nhận định cho rằng thời điểm cấp giấy cho nguyên đơn không đo
đạc, nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chưa thuyết phục, bởi
lẽ thời điểm từ năm 2004 bị đơn đã ký tứ cận xác nhận ranh giới thửa đất với bà
Thị B khi bà B đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (BL 257), đồng thời
bị đơn cũng không giải được sao đất của mình các số đo diện tích đều tăng
so với diện tích được nhà nước công nhận, do vậy không căn cứ xác định phần đất
tranh chấp là của bị đơn.
Theo biên bản thẩm định tài sản trên phần đất tranh chấp, bị đơn xây một căn
nhà tạm với diện tích 8,75m xây dựng năm 2015, cây trồng trên đất và hàng rào lưới
B40, thời điểm xây dựng và kéo hàng rào lưới B40 mặc Thị B đã chết nhưng
các con của bà B trong đó có nguyên đơn không phản đối, nên buộc nguyên đơn phải
trả lại giá trị các công trình và cây trồng trên đất tranh chấp cho bị đơn theo biên bản
định giá tài sản ngày 12/11/2024, đồng thời tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý trả lại
số tiền 1.000.000đồng đã nhận của bị đơn, như vậy nguyên đơn phải trả cho bị đơn
tổng cộng là 12.430.546đồng.
Từ những nhận định trên. Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Thị Xuân T
có căn cứ chấp nhận, chấp nhận ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên
tòa.
Về án phí dân sự phúc thẩm: không ai phải chịu, T được nhận lại tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí, lệ phí toà án.
Chp nhn kháng cáo của nguyên đơn bà Tô Th Xuân T
Sa bn án dân s thẩm s: 305/2025/DS-ST ngày 31/12/2025 ca Tòa án
nhân dân khu vc 3 - Cần Thơ.
Tuyên x:
[1] Chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn bà Tô Th Xuân T.
Công nhn phần đất tranh chp din tích 185,3m
2
(ký hiệu A theo lược đồ đo
v s 157/VPĐK.DV) thuộc quyn s dng hp pháp ca bà Tô Th Xuân T.
Buc ông Dương Văn C gia đình ông C phi tháo d di di vt kiến trúc
căn nhà tạm din tích 8,75m
2
xây dng trên phần đất tranh chấp để tr đất li cho bà
T (s đo cụ th t cn ca v trí A theo sơ đồ đo đạc hin trng thửa đất s 157 ngày
20/10/2025 ca Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C).
[2] Buc Th Xuân T phi tr giá tr tài sản trên đt vi s tin là
12.430.546đồng cho ông Dương Văn C (trong đó 11.430.546đồng giá tr căn nhà
tm, cây trồng, hàng rào và 1.000.000đồng là tin bà T đã nhận ca ông C).
K t ngày b đơn ông Dương Văn C đơn yêu cầu thi hành án, nếu nguyên
đơn bà Tô Thị Xuân T chậm thực hiện nghĩa vụ, thì hàng tháng T phải trả lãi theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời
gian chậm thi hành án.
Giao cho T được quản sử dụng toàn bộ cây trồng trên phần đất tranh
chấp.
[3] Án phí dân sự thẩm: Ông Dương Văn C người cao tuổi nên được miễn.
Thị Xuân T phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền trả giá trị cho bị
đơn 621.527 đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000đồng tiền tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006227 ngày 21/03/2024 tại phòng thi hành án
dân sự khu vực 3 Cần Thơ. T phải nộp thêm 321.527 đồng (Ba trăm hai mươi
mốt nghìn năm trăm hai mươi bảy nghìn đồng).
[4] Vchi phí xem xét, thẩm định tại chỗ chi phí đo đạc, định giá: Ông Dương
Văn C phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí đo đạc, định giá là
12.315.900đồng (Mười hai triệu ba trăm mười lăm nghìn chín trăm đồng) để trả lại
cho bà Tô Thị Xuân T đã tạm ứng trước. T được nhận lại số tiền này tại Thi hành
án dân sự thành phố Cần Thơ khi ông C nộp.
Án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu. Bà Tô Thị Xuân T được nhận lại
tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo biên lai thu số 0000844 ngày 13/01/2026 tại
Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án
dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự,
người phải thi hành án dân squyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
điều 6, 7, 7a 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án
dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 23/6/2026.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 620/2026/DS-PT Bản án số 620/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 620/2026/DS-PT Bản án số 620/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất