Bản án số 83/2026/HS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Gia Lai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 83/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 83/2026/HS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Gia Lai
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 83/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Pham Ngoc A
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 83/2026/HS-PT Bản án số 83/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 83/2026/HS-PT Bản án số 83/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 83/2026/HS-PT
Ngày 16 - 7 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Lam
Các Thẩm phán: Ông Văn Thanh Gia
Ông Nguyễn Văn Sinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Thị Lệ Giang Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 50/2026/TLPT-HS ngày 13 tháng 3 năm
2026 đối với các bị cáo Phạm Ngọc A Lê Thị H do kháng cáo của các bị cáo
đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2026/HS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 6 – Gia Lai.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Phạm Ngọc A, sinh ngày 14/4/1967 tại tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai);
số căn ớc công n: ************; nơi trú: Tổ dân phố H, phường H, tỉnh Gia
Lai; nghề nghiệp: Nông; trình độ văn hóa: 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm H1 (chết) Nguyễn Thị T
(chết); vợ: Đào Thị Kim C, sinh năm 1982; con: Không có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và có mặt tại phiên
tòa.
2. Thị H, sinh ngày 15/8/1976 tại tỉnh Bình Định (nay tỉnh Gia Lai); số
căn cước công dân: ************; nơi trú: Tổ dân phố P, phường H, tỉnh Gia
Lai; nghề nghiệp: Nông; trình độ văn hóa: 3/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn
giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thanh T1 (chết) và Nguyễn Thị
T2, sinh năm 1939; chồng: Phạm Thanh L, sinh năm 1976 (đã ly hôn); con: 02
con, sinh năm 1995 và sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không.
2
Nhân thân:
- Ngày 03/6/2021, bị Tòa án nhân dân thị Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (nay
Tòa án nhân dân khu vực 6 Gia Lai) xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ
phạt bổ sung 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; đã chấp hành xong hình phạt
ngày 08/4/2022.
- Ngày 31/12/2023, bị Trưởng Công an thị H, tỉnh Bình Định (cũ) xử phạt
hành chính 3.500.000 đồng về hành vi bán số lô, số đề giao lại cho người khác để
hưởng hoa hồng; đã nộp phạt xong ngày 03/01/2024.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi trú cho đến nay mặt tại
phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Ngọc A: Ông Hồ Văn H2 Trợ giúp viên
pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G. (Có mặt)
Ngoài ra, còn các bị cáo Nguyễn T3 Nguyễn Thị Thanh T4 không
kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 04/8/2025, Phạm Ngọc A, Nguyễn Thị Thanh T4 Thị H tập
trung tại trại trồng tiêu của Nguyễn T3 tổ dân phố H, phường H, tỉnh Gia Lai để
uống bia. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, A nảy sinh ý định đánh bạc thắng
thua bằng tiền Việt Nam đồng dưới hình thức rung xóc bầu cua nên đi bộ về nhà lấy
01 bộ bầu cua đến trại trồng tiêu của T3 để rung cho H, T4 đặt cược. Sau đó, T3
cũng đến tham gia. Khi chơi, Anh mang theo 9.050.000 đồng, sdụng 4.000.000
đồng để đánh bạc, còn 5.050.000 đồng cất trong túi áo; T3 mang theo 2.500.000
đồng, sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc, còn 2.300.000 đồng cất trong ví; H sử
dụng 1.300.000 đồng, T4 sử dụng 185.000 đồng để đánh bạc.
Các bị cáo thỏa thuận hình thức chơi bầu cua như sau: Chủ cáiPhạm Ngọc
A sử dụng một đĩa nhôm, tô nhôm đậy kín, bên trong 03 khối lập phương được
làm bằng xốp, mỗi mặt của khối lập phương có dán hình 06 con vật: bầu, cua, tôm,
cá, gà, nai và một bàn giấy có in hình 06 con vật tương ứng. Chủ cái dùng tô nhôm
đậy kín trên đĩa nhôm xóc cho 03 khối lập phương nhảy lộn xộn rồi đặt xuống nền,
người chơi đặt tiền cược vào các con vật in trên bàn giấy hoặc thể tả tiền của
nhau. Sau đó, chủ i mở tô nhôm ra, nếu mặt trên cùng của 03 khối lập phương trên
đĩa nhôm con vật phù hợp với hình con vật người chơi đặt trên bàn giấy thì
chủ cái thua chung tiền với tlệ trúng 01 hình thì chung 1:1, trúng 02 hình thì
chung 1:2, trúng 03 hình thì chung 1:3, nếu hình con vật trên mặt trên của 03 khối
lập phương khác với nh con vật người chơi đã đặt trên bàn giấy thì chủ cái
thắng, người chơi mất toàn bộ số tiền đã đặt cược.
Đến 13 giờ 10 phút cùng ngày, Công an phường H kiểm tra phát hiện, lập biên
bản và tạm giữ tổng số tiền A, T3, H T4 dùng đánh bạc 5.685.000 đồng. Trong
3
đó, thu giữ tại chiếu bạc 1.400.000 đồng và thu giữ số tiền dùng để đánh bạc trên
tay, trong người các bị cáo 4.285.000 đồng (trong đó: T3 100.000 đồng, T4 -
35.000 đồng, H - 1.400.000 đồng, Anh - 2.750.000 đồng).
Tại Bản án hình sự thẩm số 06/2026/HS-ST ngày 27/01/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 6 Gia Lai đã căn cứ khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 khoản
2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo A 09 tháng về
tội “Đánh bạc” và căn cứ khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38,
Điều 47 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Ngoài
ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần hình phạt đối với các bị cáo T3 T4, xử
lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 29/01/2026, bị cáo A có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo và ngày
30/01/2026, bị cáo H đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; tại phiên tòa phúc
thẩm, các bị cáo A H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị chấp nhận
kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo A, sửa bản án thẩm về phần hình
phạt đối với bị cáo A, xử phạt bị cáo A 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo n
định thời gian thử thách theo quy định; không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt của bị cáo H giữ nguyên bản án thẩm về phần hình phạt đối với bị
cáo H.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Phạm Ngọc A đnghị chấp nhận
kháng cáo của bị cáo A, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo A, xử
phạt bị cáo 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên sở nội dung ván, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo có
trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:
Trưa ngày 04/8/2025 tại trại trồng tiêu của Nguyễn T3 tổ dân phố H, phường
H, tỉnh Gia Lai, sau khi nhậu xong, các bị cáo Phạm Ngọc A, Nguyễn Thị Thanh
T4, Thị H Nguyễn T3 đã hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi bầu cua,
thắng thua bằng tiền với tổng số tiền là 5.685.000 đồng.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 6 Gia Lai đã xét xử các bị cáo A, H, T4
T3 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo A và kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt của bị cáo H, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[2.1] Trong quá trình ăn nhậu, các bị cáo đã bộc phát, nảy sinh hành động rủ
nhau đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi bầu cua. Các bị cáo nhận thức rõ hành
vi đánh bạc nhằm tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố
ý thực hiện. nh vi đánh bạc của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực trật
4
tự công cộng được Nhà nước bảo hộ, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa
phương. Do đó, cần xử nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội các bị cáo
gây ra.
[2.2] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo,
ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp
dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự.
Tại cấp phúc thẩm, bcáo A cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới chưa
được Tòa án cấp thẩm xem xét vợ bị cáo mắc bệnh tâm thần, đang hưởng trợ
cấp xã hội hàng tháng, hoàn cảnh bị cáo khó khăn, vợ chồng bị cáo không có con và
bị cáo là người chăm sóc trực tiếp cho vợ bị cáo; do đó bị cáo Anh được áp dụng
thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[2.3] Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết
giảm nhẹ đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
- Đối với bị cáo A: Bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ tình tiết giảm nhẹ
mới mà chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét như đã phân tích nêu trên; bị cáo
nhân thân tốt, nơi tràng, hiện đang điều trị bệnh ung thư, vợ chồng bị cáo
không con, vợ bị cáo người bị tâm thần, bị cáo là lao động chính trong gia đình
và là người đang trực tiếp chămc cho vợ bị cáo; đồng thời, căn cứ Nghị quyết số
03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp
dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo. Từ
những phân tích trên, xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù do
bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm
cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn hội. Do đó, Hội
đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo A, sửa bản án thẩm về phần hình
phạt đối với bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn
đe và phòng ngừa chung.
- Đối với bị cáo H: Bị cáo người tham gia chơi, đặt cược thắng thua bằng
tiền; mặc dù số tiền đánh bạc của bị cáo không lớn nhưng bị cáo có nhân thân xấu,
đã từng bị Tòa án xử phạt về tội “Đánh bạc” vào năm 2021 bị xử phạt hành chính
về hành vi bán số lô, số đề giao lại cho người khác để hưởng hoa hồng vào năm 2023
nhưng không lấy đó làm tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội với tội danh trên.
Tại cấp phúc thẩm, mặc bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không
cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào khác. Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa
án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 06 tháng tù, mức thấp nhất của khung hình phạt là
tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo n
không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng
xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[3] Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm b khoản 2 Điều 23 của
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản sử dụng án phí lệ phí
Tòa án thì bị cáo A thuộc trường hợp người khuyết tật nên được miễn nộp tiền án
5
phí hình sphúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo H phải
chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án nh sự thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị chấp
nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo A, sửa bản án thẩm về phần
hình phạt đối với bị cáo A, xử phạt bị cáo A 09 tháng nhưng cho hưởng án treo
và ấn định thời gian thử thách theo quy định; không chấp nhận kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt của bị cáo H giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với
bị cáo H là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử phúc thẩm.
[6] Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Phạm Ngọc A đề nghị chấp nhận
kháng cáo của bị cáo A, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo A, xử
phạt bị cáo A 09 tháng nhưng cho hưởng án treo phù hợp với nhận định nêu
trên của Hội đồng xét xử phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65
của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Ngọc A.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật
Hình sự đối với bị cáo Lê Thị H.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều
12 điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo của bcáo Phạm Ngọc A không chấp nhận kháng
cáo của bị cáo Lê Thị H. Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm
Ngọc A và giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Lê Thị H.
2. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc A 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về
tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 18 (ời tám) tháng tính từ ngày tuyên án
phúc thẩm (ngày 16/7/2026).
Giao bị cáo Phạm Ngọc A cho Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Gia Lai giám
sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện
theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người
được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa v02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định
buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng
án treo.
6
3. Xử phạt bị cáo Lê Thị H 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Ngọc A không phải chịu bị
cáo Lê Thị H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 6 Gia Lai;
- VKSND khu vực 6, tỉnh Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 6, tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
- Phòng GĐ, KT, TT và THA TAND tỉnh Gia Lai;
- Bị cáo;
- Lưu: Toà Hình sự, HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN T
Phạm Duy Lam
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 83/2026/HS-PT Bản án số 83/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 83/2026/HS-PT Bản án số 83/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất