Bản án số 614/2026/DS-PT ngày 07/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 614/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 614/2026/DS-PT ngày 07/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 614/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn T - Nguyễn Minh H (Tranh chấp quyền sử dụng đất)
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 614/2026/DS-PT Bản án số 614/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 614/2026/DS-PT Bản án số 614/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương
Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Đạt
Ông Đặng Văn Hùng
- Thư phiên tòa: Ông La Thành Tân Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Vĩnh Long.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 07 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long
xét xử phúc thẩm công khai
vụ án thụ lý số: 370/2026/TLPT - DS ngày 08 tháng
06 năm 2026 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 26/2026/DS-ST ngày 03 tháng 04 năm
2026 của Toà án nhân khu vực 7- Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 612/2026/QĐ-PT
ngày 18 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1963 Hồ Thị Thu H, sinh
năm 1964. Cùng địa chỉ: số I, khu phố B, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay
là xã G, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện theo ủy quyền của Hồ Thị Thu H: ông Đỗ Văn T, sinh
năm 1963. Địa chỉ: số I, khu phố B, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là
G, tỉnh Vĩnh Long) (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1970. Địa chỉ: số C, ấp Đ, B,
huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long).
- Người kháng cáo:
Bị đơn ông Nguyễn Minh H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
——————————
Bản án số: 614/2026/DS-PT.
Ngày 07 - 07 - 2026.
V/v “Tranh chấp quyền s dụng đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————
2
* Theo đơn khởi kiện (BL01); đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện (BL260),
trong quá trnh t tụng tại phiên tòa nguyên đơn đồng thời người đại diện
theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hồ Thị Thu H là ông Đỗ Văn T trình bày:
Ông T H chủ sử dụng thửa đất số 231, tờ bản đồ số 48, diện tích
3504,6m
2
, tọa lạc tại xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long).
Nguồn gốc thửa đất 231 do ông T, H nhận chuyển nhượng từ Nguyễn
Ngọc T1 và được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất vào ngày 4/10/2022.
Giáp thửa đất trên thửa đất 230, tờ bản đồ số 48 (nay là tờ bản đồ số 128),
diện tích 1864,0m
2
, tọa lạc tại B, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là G, tỉnh
Vĩnh Long) do ông Nguyễn Minh H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Ranh đất giữa thửa 230 231 đã trụ ranh cố định, đến khoảng tháng
2/2023 nhận thấy trụ ranh giáp với thửa 230 bị di dời; do đất ở xa nhà, ông T,
H không sinh sống trên đất nên không biết trụ ranh bdi dời thời điểm nào.
Ông T, H liên hệ với ông H1 để cắm lại trụ ranh khi đó ông H1 nói do
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H1 đang thế chấp tại ngân hàng nên
ông H1 hứa với ông T, H chừng nào lấy sổ đất ra sẽ thương lượng ranh sau.
Sviệc kéo dài khoảng tháng 4/2023 ông T, H nộp đơn tranh chấp tại chính
địa phương, buổi hòa giải tại cơ sở hai bên không thỏa thuận được nên ông T, bà
H mới khởi kiện tại Tòa án. Nay ông T, H yêu cầu ông H1 trả lại phần đất
qua đo đạc thực tế có diện tích 372.0m
2
thuộc thửa đất số 231-1, tờ bản đồ số 48
(nay tờ bản đồ số 128), tọa lạc tại B, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay G,
tỉnh Vĩnh Long). Số tờ bản đồ có thay đổi so với trước đây thì ông T, H ng
thống nhất.
Hiện trạng đất tranh chấp không thay đổi so với lần xem xét, thẩm
định tại chỗ ngày 30/10/2025, trên đất các cây trồng như cau, dừa, lá dừa
nước. Ông T xác định cây trồng trên đất do chủ đất trước trồng. Để giải quyết vụ
án nhanh chóng, ông T, bà H đồng ý bồi thường cho ông H1 giá trị hoa màu, cây
trồng trên đất gồm: 02 cây dừa trên 06 năm, 03 cây dừa từ 01 đến 04 năm, 11
cây cau trái, 200m
2
dừa nước theo giá tại biên bản định giá tài sản
7.440.000 đồng. Phần đất tranh chấp hiện do ông H1 đang quản sử dụng,
ngoài ông H1 thì không có ai khác quản lý sử dụng phần đất tranh chấp này.
Ông T thống nhất với phiếu đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 16/12/2025 và
biên bản định giá tài sản ngày 30/10/2025 làm sở cho Tòa án giải quyết,
không yêu cầu đo đạc, định giá lại. Không yêu cầu giám định, xác minh, thu
thập chứng cứ thêm, không yêu cầu Tòa án đưa thêm người tham gia tố tụng.
Đối với chi phí tố tụng thì ông đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
3
* Tại Đơn trnh bày ý kiến (BL279), trong quá trnh giải quyết vụ án tại
phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Minh H1 trình bày:
Trước đây cha mẹ chia cho ông Nguyễn Thành T2 (hiện tên khác
Nguyễn Trường T3) anh trai của ông diện tích 5573,5m
2
, sau đó anh trai
chuyển sổ lại cho hai đứa con tên Nguyễn Nhật T4 Nguyễn Thành N đứng
tên phần đất này. Đến năm 2020, Nguyễn Nhật T4, Nguyễn Thành N và ông
Nguyễn Thành T2 bán cho ông H1 2000m
2
đất thuộc thửa đất 230. Ông T2, con
ông T2 địa chính đo đạc để cấp sổ cho ông H1. Sau đó, đến ngày
27/7/2020 ông H1 đứng tên thửa đất số 230, tờ bản đồ số 48, khi nhận sổ đất ông
H1 không xem sổ nên không biết diện tích được cấp là bao nhiêu, từ khi nhận
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay thì ông không khiếu nại về
diện tích, tọa độ ranh đất được cấp. Giáp với thửa đất trên thửa đất số 231, tờ
bản đồ số 48 do ông Đỗ Văn T, Hồ Thị Thu H đứng tên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Sau này, khi ông T, H khởi kiện ông H1 thì ông mới biết
ông được cấp sổ thửa 230 diện tích 1864m
2
, diện tích không đủ 2000m
2
như
hợp đồng nhận chuyển nhượng với ông T2, tức ông H1 bị mất 136m
2
đất tính
theo diện tích nhận chuyển nhượng tại hợp đồng. Thực tế trụ ranh giữa thửa 230
và 231 tại thời điểm ông H1, ông T2 và cán bộ địa chính cắm tại buổi đo đạc cấp
sổ thửa 230 của ông H1 vẫn được giữ nguyên từ khi ông được cấp sổ đến nay.
Phần đất còn lại của ông T2 tđã bán qua nhiều chủ đất những người mua
đó chỉ thực hiện chuyển nhượng trên sổ chứ không đo thực tế lại cũng không
hiệp thương ranh với ông H1. Ông H1 không có di dời trụ ranh giữa thửa 230 và
thửa 231; ông T, H trình bày ông lấn ranh không đúng, ông H1 nhận
chuyển nhượng diện ch 2000m
2
thì ông H1 sử dụng đúng diện tích đã nhận
chuyển nhượng từ ông T2, phần đất tranh chấp do ông H1 sdụng ổn định đến
nay nên ông H1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Hiện trạng đất tranh chấp không thay đổi so với lần xem xét, thẩm
định tại chỗ ngày 30/10/2025, trên đất các cây trồng như cau, dừa, lá dừa
nước, cây trồng trên đất là do ông H1 trồng. Phần đất tranh chấp hiện do ông H1
đang quản sử dụng, ngoài ông H1 thì không ai khác quản sử dụng phần
đất tranh chấp này. Ông không có yêu cầu bồi hoàn công sức tu bổ, cải tạo đất.
Ông H1 thống nhất với phiếu đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 16/12/2025
biên bản định giá tài sản ngày 30/10/2025 làm sở cho Tòa án giải quyết,
không yêu cầu đo đạc, định giá lại. Không yêu cầu giám định, xác minh, thu
thập chứng cứ thêm, không yêu cầu Tòa án đưa thêm người tham gia tố tụng.
Đối với chi phí tố tụng thì ông đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Do hòa giải không thành Toà án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long đưa vụ
4
án ra xét xử. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2026/DS-ST ngày 03 tháng 04
năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn THồ Thị Thu H.
- Buộc ông Nguyễn Minh H1 trả lại cho ông Đỗ Văn T và Hồ Thị Thu
H phần đất qua đo đạc thực tế diện tích 372.0m
2
thuộc thửa đất số 231-1,
tờ bản đồ số 128, tọa lạc tại B, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh
Long), (Có phiếu đo đạc hiện trạng thửa đất kèm theo).
- Buộc ông Đỗ Văn T Hồ Thị Thu H nghĩa vụ trả cho ông
Nguyễn Minh H1 giá trị cây trồng trên đất là 7.440.000 đồng (bảy triệu bốn trăm
bốn mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015.
- Ông Đỗ Văn T Hồ Thị Thu H được quyền sở hữu, quản lý, sử
dụng phần đất diện tích 372.0m
2
thuộc thửa đất số 231-1, tờ bản đồ số 128,
tọa lạc tại xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long) các cây
trồng trên đất.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác, quyền
nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 15/04/2026 bị đơn ông Nguyễn Minh H1 đơn kháng cáo một
phần bản án thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa án thẩm
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông đủ 2000m
2
thửa 230, tờ bản đồ số 128.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa án thẩm chấp nhận
yêu cầu kháng cáo của bị đơn và yêu cầu đo đạc giao cho ông đủ 2000m
2
đúng
với diện tích ông đã mua của ông Nguyễn Thành T2; ông cho rằng đất của ông
vẫn quản lý sử dụng và ranh đất vẫn có cắm trụ, ông không có dời trụ ranh.
Nguyên đơn không đồng ý với kháng cáo của bị đơn đề nghị giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tại
phiên tòa:
5
+ Về thủ tục: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
của những người tham gia tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ
cho đến khi xét xử Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành
đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã thực hiện
đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm; Các
đương sự và Luật sư có mặt thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Toà án áp dụng khoản 1 Điều 308, 148 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Minh H1.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 03 tháng 04 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long.
NHN ĐNH CA TO ÁN:
Sau khi nghiên cu các tài liu, chng c trong h v án, li trình
bày của các đương sự, căn cứ vào kết qu tranh tng ti phiên tòa, xét kháng cáo
ca b đơn ông Nguyn Minh H1; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Minh H1 được làm
đúng theo quy định, trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Vnội dung: Ông T, H yêu cầu ông H1 trả lại phần đất qua đo đạc
thực tế diện tích 372.0m
2
thuộc thửa đất số 231-1, tờ bản đồ số 48 (nay là tờ
bản đồ số 128), tọa lạc tại B, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay G, tỉnh Vĩnh
Long). Theo ông T, bà H, đất tranh chấp qua đo đạc thực tế của ông bà; qua
quá trình sử dụng thì khoảng tháng 2/2023 trụ ranh giữa thửa 231 và thửa 230 bị
di dời một phần đất thuộc thửa 231 bị ông H1 lấn chiếm. Trong khi đó, ông
H1 cho rằng ông không di dời trụ ranh, không lấn chiếm đất của ông T, bà H
ông sử dụng đúng diện tích ông nhận chuyển nhượng từ ông T2 các con
ông T2. Quá trình sử dụng, ông H1 có trồng cây, hoa màu trên đất tranh chấp.
[3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Minh H1:
Đối với thửa 231, diện tích 3504,6m
2
, tờ bản đồ 48: Trước khi ông T, bà H
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/9/2022 với bà Nguyễn Ngọc T1 thì phần đất
được chuyển nhượng qua nhiều chủ sử dụng đất, quá trình chuyển nhượng thì
diện tích đất không thay đổi vẫn 3504,6m
2
. Cụ thể: Ngày 25/6/2020, ông
Nguyễn Thành N ông Nguyễn Nhật T4 tặng cho thửa 231 cho Thị H2
Thị H2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 231, tờ 48,
diện tích 3504,6m
2
(BL78). Ngày 09/02/2021, Thị H2 chuyển nhượng
thửa 231 cho ông Nguyễn Xuân L ông Nguyễn Xuân L đứng tên giấy chứng
nhận quyền s dụng đất thửa 231, t 48, diện tích 3504,6m
2
(BL88). Ngày
6
14/10/2021, ông Nguyễn Xuân Lưu chuyển N1 thửa 231 cho ông Nguyễn Hoài
P, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Kim O ông Nguyễn Hoài P, bà Nguyễn
Thị C, bà Nguyễn Thị Kim O đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa
231, tờ 48, diện tích 3504,6m
2
(BL119-121). Ngày 04/3/2022, ông Nguyễn Hoài
P, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Kim O chuyển nhượng thửa 231 cho
Nguyễn Ngọc T1 Nguyễn Ngọc T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa 231, tờ 48, diện tích 3504,6m
2
(BL59). Ngày 16/9/2022, bà
Nguyễn Ngọc T1 chuyển nhượng thửa 231 cho ông Đỗ Văn T, Hồ Thị Thu H
ông Đỗ Văn T, Hồ Thị Thu H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thửa 231, tờ 48, diện tích 3504,6m
2
(BL43)
Đối với thửa 230, diện tích 1864,0m
2
, tờ bản đồ 48: Trước khi ông Nguyễn
Minh H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất ngày 06/7/2020 với ông Nguyễn Thành T2 thì phần đất
được tặng cho từ chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Nhật T4 và ông Nguyễn Thành
N cho ông Nguyễn Thành T2, quá trình chuyển nhượng diện tích đất không thay
đổi vẫn 1864,0m
2
. Cụ thể: Ngày 02/6/2020, ông Nguyễn Nhật T4 ông
Nguyễn Thành N tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất 230 cho ông Nguyễn
Thành T2 ông Nguyễn Thành T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thửa 230, tờ bản đồ số 48, diện tích 1864,0m
2
(BL149). Ngày 06/7/2020, ông
Nguyễn Thành T2 tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất 230 (diện tích 1864,0m
2
)
cho ông Nguyễn Minh H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa
230, tờ bản đồ số 48, diện tích 1864,0m
2
(BL137).
Xét thấy, từ khi ông H1, ông T, H được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đến nay không ai khiếu nại về diện tích, tọa độ được cấp xem như
hai bên đã thừa nhận ranh đất được xác định theo ranh bản đồ địa chính. Đồng
thời, sau khi thực hiện thủ tục tách thửa 156 thành thửa 230 (diện tích 1864,0m
2
)
thửa 231 (diện tích 3504,6m
2
), qua các lần tặng cho, chuyển nhượng quyền
sử dụng đất thì diện tích đất thửa 230 231 không thay đổi, diện tích thửa 230
1864,0m
2
, không phải 2000m
2
như trình bày của ông H1. Tại công văn số
810/UBND-KT ngày 06/3/2026 của Ủy ban nhân dân G, tỉnh Vĩnh Long
(BL299) xác định qua các lần tặng cho, chuyển nhượng thì diện tích các thửa đất
trên không thay đổi. Quá trình quản lý, sử dụng đất địa phương ổn định
không biến động về mặt diện tích, chính quyền không thu hồi đất cũng
không xây dựng công trình làm ảnh hưởng đến diện tích đất của người sử
dụng đất. Vì vậy, ông H1 cho rằng đất của ông bị mất 136m
2
là không có cơ sở.
Ông H1 kháng cáo yêu cầu nhận đủ 2000m
2
không căn cứ, vượt quá
yêu cầu, phạm vi giải quyết tại cấp phúc thẩm nên không được chấp nhận.
- Đồng thời, theo kết quđo đạc thực tế đất tranh chấp từ Chi nhánh văn
phòng đăng đất đai khu vực B - Vĩnh Long (BL248-250) cung cấp thể hiện:
thửa đất 230 và thửa 231, cùng tờ bản đồ số 48 (nay là tờ bản đố số 128) có vị trí
giáp ranh nhau. Đất tranh chấp hiện nay thuộc một phần của thửa đất 231, có ký
7
hiệu trên hồ đo đạc thực tế thuộc thửa 231-1, diện tích 372.0m
2
, tờ bản đồ
số 128. Cho nên, ông H1 cho rằng phần đất tranh chấp thuộc đất của ông và ông
sử dụng đất không có lấn chiếm là không có căn cứ.
Ông Đỗ Văn T và Hồ Thị Thu H ông Nguyễn Minh H1 thống nhất
trên đất tranh chấp có 02 cây dừa trên 06 năm, 03 cây dừa từ 01 đến 04 năm, 11
cây cau trái, 200m
2
dừa nước theo gtại biên bản định giá tài sản tổng
giá trị 7.440.000 đồng do ông T2, ông Hoàng T5 ông T, H đồng ý trả
cho ông H1 nên buộc ông Đỗ Văn T và Hồ Thị Thu H nghĩa vụ trả cho
ông Nguyễn Minh H1 giá trị cây trồng tn đất 7.440.000 đồng (bảy triệu bốn
trăm bốn mươi nghìn đồng).
Từ nhng phân tích trên cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn là phù hợp.
[4] Về quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tĩnh Vĩnh Long phù hợp với
quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự Phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
bị đơn ông Nguyễn Minh H1 phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng nhưng
được khấu trừ vào số tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0007065 ngày
15/04/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long, và đã nộp xong.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Minh H1.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2026/DS-ST ngày 03 tháng 04
năm 2026 của Toà án nhân khu vực 7 - Vĩnh Long.
Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39;
các Điều 147, 157, 273, 278 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 166, 175, 248,
273, 579 của Bộ luật dân sự; Điều 26, 236 của Luật đất đai; Điều 27 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lệ pTòa
án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn T và bà Hồ Thị Thu H.
- Buộc ông Nguyễn Minh H1 trả lại cho ông Đỗ Văn T và Hồ Thị Thu
H phần đất qua đo đạc thực tế diện tích 372.0m
2
thuộc thửa đất số 231-1,
tờ bản đồ số 128, tọa lạc tại B, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh
Long). (Có phiếu đo đạc hiện trạng thửa đất kèm theo)
8
- Buộc ông Đỗ Văn T Hồ Thị Thu H nghĩa vụ trả cho ông
Nguyễn Minh H1 giá trị cây trồng trên đất là 7.440.000 đồng (bảy triệu bốn trăm
bốn mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015.
- Ông Đỗ Văn T Hồ Thị Thu H được quyền sở hữu, quản lý, sử
dụng phần đất diện tích 372.0m
2
thuộc thửa đất số 231-1, tờ bản đồ số 128,
tọa lạc tại xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long) các cây
trồng trên đất.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Minh H1 phải có nghĩa vụ trả cho
ông Đỗ Văn T, Hồ Thị Thu H số tiền 8.420.760 đồng (tám triệu bốn trăm
hai mươi nghìn bảy trăm sáu mươi đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Đỗ Văn T, HThị Thu H là người cao tuổi nên được miễn án
phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
+ Buộc ông Nguyễn Minh H1 phải chịu án phí 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng).
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Minh H1 phải chịu án p
phúc thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng theo biên
lai thu tiền số 0007065 ngày 15/04/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long,
và đã nộp xong.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34, 36, 71
72 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
của Luật thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
9
Nơi nhận:
- TAND khu vực 7;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 7;
- Các đương sự;
- Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thu Hương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 614/2026/DS-PT Bản án số 614/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 614/2026/DS-PT Bản án số 614/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất