Bản án số 612/2026/DS-PT ngày 21/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 612/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 612/2026/DS-PT ngày 21/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 612/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp “Quyền sử dụng đất” gữa nguyên đơn Mai Vĩnh P với bị đơn Dương Chí T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 612/2026/DS-PT Bản án số 612/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 612/2026/DS-PT Bản án số 612/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 612/2026/DS-PT
Ngày: 21 - 7 - 2026
V/v tranh chấp: “Quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Kiến;
Nguyễn Thị Ánh Phương.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Thành - Thư Tán nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Huỳnh Hữu
Nghi - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 21 tháng 7 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 346/2026/TLPT-DS ngày 14/5/2026 về
việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số: 111/2026/DS-ST ngày 02 tháng 3 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1114/2026/QĐ-PT
ngày 08 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Mai Vĩnh P, sinh năm 1975;
Địa ch: p C, P, huyn T, tnh Tin Giang (Nay p P, T, tnh
Đồng Tháp).
Đại din theo y quyn:
- Bà H Ngc T, sinh năm 1979 (có mặt).
Địa ch: p C, P, huyn T, tnh Tin Giang (Nay p P, T, tnh
Đồng Tháp).
- Ch Nguyn Th Hunh N, sinh năm 1988 (có mặt);
Địa ch: p Đ, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
2. B đơn: Anh ơng Chí T1, sinh năm 2000 (có mặt);
2
Địa ch: p P, P, huyn T, tnh Tin Giang (Nay p P, T, tnh
Đồng Tháp).
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Mai Vĩnh P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm,
* Theo đơn khởi kiện quá trình ttụng nguyên đơn ông Mai Vĩnh P
người đại diện theo ủy quyền Hồ Ngọc T người bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp Luật sư Nguyễn Xuân Q trình bày:
Ông Mai Vĩnh P người quyn s dng đất đối vi tha đất s 128, t
bn đồ PT-C6, đất nuôi trng thy sn, din tích 23.869m2, đất ti ấp C, P,
huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp), theo Giy chng
nhn quyn s dng đất s 00069/CCQSDĐ ngày 06/10/1997 do Ủy ban nhân
dân huyện G, tnh Tin Giang cp cho h ông Mai Vĩnh P. Ti thi đim cp
giy chng nhn, h ông P ch có 01 thành viên là ông P.
Phía Tây Nam ca tha đất 128 tiếp giáp vi tha đất s 137 thuc quyn
s dng ca anh Dương Chí T1. Ranh gii gia tha đất được c định tr
đin gn Cầu S hướng Bc, n hướng Nam ct mc bng tr tông, được
hai bên thng nht. Tuy nhiên, qua nhiu năm s dng, anh T1 đã dùng máy xúc
đào đất ti ranh gii, ln chiếm qua tha đất 128 ca ông P mt din tích khong
3.500m2, đầu phía Bc ln chiếm chiu ngang khong 5m chy dài v phía
Nam có ch chiu ngang đến hơn 20m.
Do đó, ông P khi kin yêu cu ông T1 phi khôi phc li ranh gii tr
cho ông P din tích ln chiếm 3.500m2, thuc tha đất s 128, t bn đồ PT-C6,
đất ti ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
* Theo bn t khai quá trình t tng, b đơn anh Dương Chí T1 trình
bày:
Anh Dương Chí T1 người quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 137,
tờ bản đồ PT-C6, diện tích 31.260m
2
, đất nuôi trồng thủy sản, đất tại ấp C, P,
huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp), theo Giấy chứng
nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số
CS00216 ngày 07/9/2017 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp cho ông
Mai Vĩnh P, điều chỉnh ngày 05/10/2020 chuyển đổi qua anh Dương Chí T1 do
có nhầm lẫn về thửa đất. Anh T1 đứng tên quyền sử dụng đất đối với thửa đất số
121, tờ bản đồ số PT-C6, diện tích 33.354,3m
2
, đất nuôi trồng thủy sản, đất tại
ấp C, P, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay ấp C, T, tỉnh Đồng Tháp), theo
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số CS00348 ngày 10/8/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T
cấp cho anh T1. Giữa anh T1 ông P đã làm Hợp đồng chuyển đổi quyền sử
dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân vào ngày 01/10/2020. Hai bên s
dụng đất ổn định. Vào năm 2019, anh T1 từng xảy ra tranh chấp quyền sử dụng
3
đất được giải quyết tại Tòa án đối với thửa đất 137 với Huỳnh Thị K (bà nội
của anh T1), ông Dương Văn S (cha của anh T1). Trong quá trình giải quyết vụ
án đã tiến hành đo đạc thửa đất 137, khi đó ông P với cách hộ sử dụng đất
liền kề tại thửa 128 đã thống nhất ranh giới. Ranh giới từ khi đo đạc đến nay đều
ổn định, không thay đổi. Mặt khác, thửa đất 128 của ông P đã chuyển nhượng 01
phần với diện tích 1.701m
2
(tách thành thửa 384) cho anh T1, sự việc đã được
Tòa án giải quyết bằng bản án hiệu lực pháp luật anh T1 đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 13/10/2022.
Do đó, anh T1 hoàn toàn không hành vi làm thay đổi ranh giới hay lấn
chiếm quyền sử dụng đất của ông P. Đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông
P, anh T1 không đồng ý.
Tại phiên tòa thẩm, bà T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn ông P xác định diện tích đất tranh chấp 2.571,2m
2
theo kết quả đo đạc
ngày 18/11/2024, đồng thời yêu cầu anh T1 hoàn trả toàn bộ chi ptố tụng. Bị
đơn anh T1 chấm dứt ủy quyền đối với Bùi Thị P1, xác định tmình tham
gia tố tụng, đồng thời anh T1 giữ nguyên ý kiến trình bày, không đồng ý toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của ông P.
Luật Nguyễn Quân Q1 người bảo v quyền lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn đưa ra lập luận về nguồn gốc, hiện trạng sử dụng đất, kết quả đo
đạc, nội dung tăng giảm diện tích đối với phần đất giữa các bên, đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Mai Vĩnh P, buộc anh
Dương Chí T1 khôi phục lại ranh giới, trả cho ông P phần diện tích đất
2.571,2m
2
theo kết quả đo đạc ngày 18/11/2024, đồng thời buộc anh T1 hoàn trả
toàn bộ chi phí tố tụng cho ông P liên quan đến chi phí xem xét, thẩm định tại
chỗ, chi phí đo đạc, định giá, trích lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
* Bản án dân sự sơ thẩm số: 111/2026/DS-ST ngày 02 tháng 3 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 2, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39,
khoản 1 Điều 147, Điều 235, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 2 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân
sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản
và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Điều 166, Điều 169, Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Vĩnh
P vviệc buộc anh Dương Chí T1 khôi phục ranh giới giữa hai thửa đất 128
4
137, trả lại ông P phần đất diện tích 2.571,2m2, thuộc thửa đất số 128, tờ bản
đồ PT-6, đất tại ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng
cáo và quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 12 tháng 3 năm 2026, nguyên đơn Mai Vĩnh P kháng cáo bản án
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc
anh Dương Chí T1 giao trả lại cho ông P phần đất lấn chiếm diện tích
2.571,2m² thuộc một phần thửa đất 385 tờ bản đồ số 6, mục đích sử dụng: Đất
nuôi trồng thuỷ sản, toạ lạc tại ấp C, T, tỉnh Đồng Tháp theo Phiếu xác nhận
kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 18/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ1).
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện yêu cầu kháng
cáo, bị đơn không đồng ý việc rút yêu cầu khởi kiện yêu cầu kháng cáo của
nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa của
người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm
đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên nhận định: Tại phiên tòa phúc thẩm,
nguyên đơn đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và rút toàn bộ yêu cầu
kháng cáo. Tuy nhiên, bị đơn không đồng ý việc nguyên đơn rút yêu cầu khởi
kiện nên căn cứ khoản 1 Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét
xử vẫn tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án. Mặt khác, nguyên đơn không cung cấp
được tài liệu, chứng cứ mới đchứng minh cho nội dung kháng cáo, đồng thời
vẫn giữ nguyên ý chí rút toàn bộ kháng cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử
đình chỉ xét xphúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1] Ông Mai Vĩnh P nộp đơn kháng cáo và thực hiện thủ tục kháng cáo hợp
lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi
kiện yêu cầu kháng cáo, bị đơn không đồng ý việc rút yêu cầu khởi kiện và
yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn nên Hội đồng xét xcăn cứ vào khoản 1
Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án.
5
[2] Về yêu cầu khởi kiện yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Mai
Vĩnh P:
Nguyên đơn ông Mai Vĩnh P khởi kiện yêu cầu anh Dương Chí T1 giao trả
lại cho ông P phần đất lấn chiếm có diện tích 2.571,2m² thuộc một phần thửa đất
385 tờ bản đồ số 6, mục đích sử dụng: Đất nuôi trồng thuỷ sản, toạ lạc tại ấp C,
T, tỉnh Đồng Tháp theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất
ngày 18/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện T, tỉnh Tiền
Giang (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ1). B đơn anh Dương Chí T1 không đồng
ý vi yêu cu khi kin ca ông P, anh T1 cho rng anh không ln chiếm đất
ca ông P. Tòa án cấp thẩm không chp nhn yêu cu khi kin ca ông P.
Ông P không đồng ý vi bản án sơ thẩm nên kháng cáo yêu cu Tòa án cấp phúc
thẩm xét xsửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
ông.
[3] Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Theo kết quả đo đạc ngày 18/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ1, tổng
diện tích thực tế các thửa đất của các bên schênh lệch so với diện tích ghi
trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trong đó, diện tích các thửa đất số 121
và 385 giảm, còn diện tích thửa đất số 137 tăng. Tuy nhiên, cơ quan chuyên môn
xác định không căn cứ xác định nguyên nhân dẫn đến việc tăng, giảm diện
tích các thửa đất, do việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây
được thực hiện trên sbản đồ địa chính tỷ lệ 1/5.000 đo vẽ bằng phương
pháp ảnh hàng không. Mặt khác, cả ông P anh T1 đều quản lý, sử dụng nhiều
thửa đất liền kề, hiện trạng các thửa đất đã nhiều biến động do việc thu hồi
đất để thực hiện dự án, tách thửa cũng như đặc điểm tự nhiên của khu vực tiếp
giáp bãi bồi biển Đ. vậy, việc diện tích thực tế chênh lệch so với diện tích
ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa đủ sở để xác định anh T1
đã có hành vi lấn chiếm quyền sử dụng đất của ông P.
Đối với việc hai bên lập hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất ngày
01/10/2020, tài liệu trong hồ thể hiện việc chuyển đổi được thực hiện nhằm
khắc phục sự nhầm lẫn giữa số hiệu thửa đất trên Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất với hiện trạng sử dụng thực tế đối với thửa đất số 121 thửa đất số
137. Nội dung chuyển đổi không thể hiện việc các bên thỏa thuận điều chỉnh lại
diện tích quyền sử dụng đất. Do đó, việc diện tích thực tế của thửa đất số 137
lớn hơn diện tích ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đồng nghĩa
với việc anh T1 đã nhận thêm diện tích đất của ông P.
Đồng thời, trong các vụ án dân strước đây liên quan đến các thửa đất số
137 thửa đất số 384 đã được Tòa án giải quyết bằng các bản án hiệu lực
pháp luật, ông P đều người tham gia tố tụng trực tiếp xác định ranh giới
giữa phần đất của mình với phần đất của anh T1 tại các thời điểm đo đạc ngày
18/10/2019 ngày 26/02/2020. Các tài liệu này đều thể hiện ranh giới sử dụng
đất không phải đường thẳng như ông P trình bày trong vụ án này. Đồng thời,
theo kết quả đo đạc ngày 18/11/2024, ranh giới do ông P yêu cầu xác định còn
làm phát sinh đoạn ranh giới gãy khúc dài 28,7m, khác với hiện trạng ranh giới
6
đã được xác định trong các lần đo đạc trước đó. Tuy nhiên, ông P không cung
cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh ranh giới sử dụng đất đã bị thay đổi
hoặc chứng minh anh T1 có hành vi dịch chuyển ranh giới, lấn chiếm đất.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần giữ nguyên bản án
dân sự sơ thẩm.
[4] Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Ông Mai Vĩnh P phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm
theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 299, khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố
tụng dân sự;
Đình chỉ yêu cầu kháng cáo của ông Mai Vĩnh P.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 111/2026/DS-ST ngày 02 tháng 3
năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp.
Căn cứ Điều 166, Điều 169, Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các điều 11, 26, 235 và 236 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Vĩnh P về
việc buộc anh Dương Chí T1 khôi phục ranh giới giữa hai thửa đất 128 137,
trả lại ông P phần đất diện tích 2.571,2m
2
, thuộc thửa đất số 128, tờ bản đồ
PT-6, đất tại ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
2. Về án phí:
2.1. Án phí dân sự thẩm: Ông Mai Vĩnh P phải chịu 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí
13.200.000 đồng (Mười ba triệu, hai trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu
số 0008394 ngày 19/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú
Đông, tỉnh Tiền Giang (nay Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Đồng
Tháp) nên ông P được trả lại 12.900.000 đồng (Mười hai triệu, chín trăm nghìn
đồng).
2.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Mai Vĩnh P phải chịu 300.000 đồng án
phí dân sự phúc thẩm được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo
7
biên lai thu số 0011534 ngày 13/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng
Tháp, ông P đã nộp xong án phí phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND KV X - Đồng Tháp;
- Phòng THADS KV X - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thanh Phong
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 612/2026/DS-PT Bản án số 612/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 612/2026/DS-PT Bản án số 612/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất