Bản án số 43/2026/DS-PT ngày 25/03/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 43/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 43/2026/DS-PT ngày 25/03/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 43/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T2.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 43/2026/DS-PT
Ngày: 25 - 3 - 2026.
V/v: Tranh chấp quyền sử
dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Hoàng Anh Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông: Hoàng Hữu Truyền.
Bà: Lý Thị Thuý.
- Thư phiên tòa: Nguyễn ThÁnh Nguyệt - Thư Toà án nhân
dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Ông Nguyễn
Xuân Thắng - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 25/02/2026 25/3/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 202/2025/TLPT-DS
ngày 04 tháng 11 năm 2025 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự thẩm số: 20/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực 3 - Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 20/2026/QĐPT-DS
ngày 07 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm: 1953. Vắng mặt.
Người đại diện theo y quyền của Trần Thị T: Ông Nguyễn Văn H,
sinh năm 1975. Có mặt.
Đều có địa chỉ: Xóm Đ, xã L, tỉnh Thái Nguyên.
2. Bị đơn:Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1962. Vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã L, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị T1: Chị Nguyễn Thị
T2, sinh năm 1991. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ B, phường Q, tỉnh Thái Nguyên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Thái Nguyên.
2
Người đại diện theo ủy quyền: Ông P - chức vụ: PCh tịch
UBND xã L, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
3.2. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T3 - chức vụ: Giám đốc
Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực 6, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
3.3. Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1956. Vắng mặt.
3.4. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Xóm G, xã L, tỉnh Thái Nguyên.
3.5. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1991. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ B, phường Q, tỉnh Thái Nguyên.
4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị T1, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan chị Nguyễn Thị T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai quá trình
giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
T khởi kiện bà Nguyễn ThT1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất tại
thửa đất 810 803, tờ bản đồ 11, địa chỉ thửa đất tại T, huyện Đ, tỉnh Thái
Nguyên. Thửa đất 810, tờ bản đồ 11 nguồn gốc do Hợp tác Trung Na bán
cho T năm 1991, có được trên bản đồ của xóm Đ, T. Về diện tích thì
không nhớ rõ. Gia đình bà T sử dụng tnăm 1991 đến nay, trồng cây vải trên
đất từ năm 1991, năm 2005 thì trồng chè trên đất và một số cây ăn quả trên
đất. Mặc T không nhớ diện tích đất của gia đình nhưng về ranh giới giáp
ranh với các hộ thì đều ràng được thể hiện trên thực địa. Thửa đất 810, tờ
bản đồ số 11 của gia đình bà có tiếp giáp nhà ông Lộc C; một mặt giáp đường liên
xóm; một mặt giáp nhà Nguyễn Thị T1 (thửa 803 tờ bản đồ số 11); một mặt
giáp ao và đất của nhà ông P2.
Nguyễn ThT1 nhận chuyển nhượng thửa 803, tờ bản đồ số 11 của ông
Nguyễn Văn P1; ông P1 mua thửa đất trên của ông Nguyễn Văn Đ. Nguyễn
Thị T1 sử dụng thửa đất từ năm 2019, gia đình bà T1 có trồng cây ăn quả trên đất.
Năm 2019 thì gia đình T1 gia đình bà T đã cùng nhau xây dựng tường rào
làm ranh giới giữa hai thửa đất. Bà T xác định cả hai nhà cùng bỏ tiền để xây dựng
tường rào. Việc xây dựng tường rào các bên đều không ý kiến gì. ng năm
2019 thì T1 đo đạc thửa đất 803, tờ bản đồ số 11 thấy thiếu đất thì gia đình
T1 đã làm đơn đề nghị UBND huyện Đ giải quyết.
Năm 2023 bà T gửi đơn đến UBND huyện Đ giải quyết về việc xin cấp giấy
CNQSD đất đối với thửa 810, tờ bản đồ số 11, tuy nhiên có một phần thửa đất 810
của bà đã bị đo bao vào thửa 803 của bà T1 đã được cấp Giấy CNQSD đất. Phòng
Tài nguyên môi trường huyện Đ đã xác định Giấy CNQSD đất cấp cho
Nguyễn Thị T1 đối với thửa 803, tờ bản đồ số 11 cấp không đúng diện tích sử
dụng đất. Đồng thời hướng dẫn khởi kiện ra Toà án. T xác định Phòng Tài
3
nguyên và môi trường huyện Đ đã tiến hành làm việc với cả hai gia đình, vận động
hai gia đình để làm thủ tục trích đo phần diện tích lấn giữa 2 thửa đất trên, tuy
nhiên giữa hai gia đình không thống nhất về ranh giới.
Bà T xác định thửa đất 803, tờ bản đồ số 11 của bà T1 đo bao phần diện tích
đất 1.209,3m
2
(theo kết quả đo đạc của Công ty cổ phần Đ1) của gia đình bà. Nay
khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc gia đình T1 trả lại cho phần
diện tích đất trên.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày:
Gia đình T1 đang sử dụng thửa đất 803, tờ bản đồ số 11, có nguồn gốc:
Ông Nguyễn Văn Đ sử dụng đất từ năm 1985. Đến năm 1998 ông Đ chuyển
nhượng cho ông Nguyễn Văn P1. Đến năm 2016 ông Nguyễn Văn P1 làm thủ tục
xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu và sau đó chuyển nhượng cho
Nguyễn Thị T1.
Trong Hồ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông P1 thể
hiện các tài liệu: Trích lục bản đồ địa chính Chi nhánh văn phòng đăng đất
đai huyện Đ xác nhận ngày 27/9/2016 thể hiện thửa đất số 803, diện tích 6070m
2
;
thông báo niêm yết công khai; biên bản vviệc kết thúc ng khai việc cấp GCN
cho hộ ông P1 không nhận được đơn thư, thắc mắc, khiếu nại; phiếu lấy ý kiến dân
cư.
Tại Trích lục bản đồ địa chính đo vẽ năm 2009 của T cũng thể hiện thửa
đất số 803, diện tích 6070 m
2
. Trong tDanh sách sử dụng đất tbản đồ số 11
cũng thể hiện hộ ông P1 sử dụng thửa đất số 803, diện tích 6070 m
2
.
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P1, H1 đúng trình
tự quy định của pháp luật. Do đó, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông
P1, bà H1 theo đúng diện tích ghi trên giấy chứng nhận có hiệu lực pháp lý.
Xét Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Nguyễn Thị T1 (người
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông P1). Ông Nguyễn Văn
P1 Nguyễn Thị H1 đã Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng cho
Nguyễn Thị T1, công chứng, chứng thực theo đúng quy định của pháp luật.
Nguyễn Thị T1 đã làm thủ tục sang tên tại quan Nhà nước thẩm quyền, nộp
thuế, phí, lphí đầy đủ. Do đó, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho
Nguyễn Thị T1 do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng diện tích
ghi trên giấy chứng nhận là đúng quy định của pháp luật.
Diện tích thửa đất T1 được cấp giấy chứng nhận căn cứ trên Trích lục
bản đồ địa chính đo vẽ năm 2009 của T Trích lục bản đồ địa chính Chi
nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ xác nhận ngày 27/9/2016 (thể hiện thửa
đất số 803, diện tích 6070m
2
). Đây các văn bản pháp của quan Nnước.
Việc đo vẽ, lập bản đồ cũng là của quan Nhà nước. quan Nhà nước đã đo
đạc, lập bản đồ địa chính thửa đất của các hộ dân bản đồ giá trị thể hiện
quyền của hộ dân đối với diện tích, vị trí thửa đất. Không thể có việc cơ quan Nhà
nước đo rồi lập bản đồ, sau đó lại nói việc đo đó sai được. Nếu ncăn cứ o
ranh giới thửa đất để cho rằng đo sai thì cũng không khách quan thửa đất rất
4
rộng, ông P1, ông Đ thể sẽ không quản lý, không xác định được ranh giới
ràng.
Mặt khác, năm 2019, khi giải quyết tranh chấp, Văn phòng đăng đất đai
huyện Đ đo đạc thì diện tích đất nhà T1 thực tế sử dụng ít hơn so với giấy
chứng nhận 1264 m². T1 thuê Công ty Đ2 thì thực tế T1 đang sử dụng
4845,4 m
2
(hụt so với diện tích trên GCN: 1224,6 m
2
). Trong khi đó, diện tích thực
tế bà T đang sử dụng lớn hơn nhiều so với diện tích đất trong bản đồ địa chính. Do
đó, việc cho rằng thửa đất số 803 của T1 đo bao sang thửa đất s810 của bà T
là không hợp lý.
Theo quy định tại Điều 133 Bộ Luật Dân sự 2015 thì "Chủ sở hữu không có
quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người
này không bị hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng quyền khởi
kiện, yêu cầu chủ thể lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba
phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại".
T1 được xác định người thứ ba ngay tình. Do đó, giả sử nội dung
liên quan đến việc đo đạc không chính xác thì T cũng không quyền đòi
T1 phải đòi từ ông Nguyễn Văn P1 hoặc ông Nguyễn Văn Đ để yêu cầu các
ông này hoàn trả các khoản chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.
Do đó, đề nghị Tòa án hướng dẫn nguyên đơn xác định bị đơn trong vụ việc
này ông Nguyễn Văn P1 hoặc ông Nguyễn Văn Đ, còn T1 chỉ người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Theo quy định của pháp luật thì việc hòa giải tại UBND phải đáp ứng
được các yêu cầu về thành phần tham dự cũng như quy định chung về thủ tục. Tuy
nhiên, việc hòa giải này chưa được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, yêu cầu khởi kiện của T không sở, đề nghị Tòa án bác yêu
cầu khởi kiện của bà T.
Bị đơn có yêu cầu phản tố: Yêu cầu Tòa án buộc Trần Thị T phải trả lại
phần diện tích thực tế đang sử dụng ln sang phần diện tích đất Nguyễn Thị T1
đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là: 1.264 m
2
(một nghìn hai trăm
sáu mươi tư mét vuông).
- Nguyễn Thị T1 chủ sử dụng thửa đất số 803, tờ bản đồ số 11, diện
tích: 6070m
2
tại T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (nay L, tỉnh Thái Nguyên)
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà i sản gắn liền
với đất số: CG 940152, số vào sổ cấp GCN: CS00123 do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh T cấp ngày 19/12/2016.
Thửa đất này nguồn gốc: Ông Nguyễn Văn P1 (địa chỉ: xóm G, L,
tỉnh Thái Nguyên) nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn
Đ (địa chỉ: xóm Đ, xã L, tỉnh Thái Nguyên), sau đó thì ông Nguyễn Văn P1
chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị T1.
- Bên cạnh thửa đất của Nguyễn Thị T1 thửa đất số 810, tbản đồ số
11 của Trần Thị T. Trần Thị T chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa đất này.
5
- Theo Biên bản về việc giải quyết đơn của Trần Thị T, xóm Đ, T
ngày 31/01/2019 thể hiện: Kết quả kiểm tra hiện trạng (do Phòng TNMT huyện Đ
kiểm tra ngày 25/12/2018) như sau:
+ Thửa đất số 803, tờ bản đồ số 11 của Nguyễn Thị T1: Theo bản đồ địa
chính theo GCNQSD đất đã được cấp thì thửa đất diện tích 6070 m
2
.
Kiểm tra thực tế theo ranh giới sử dụng đo đạc bằng máy toàn đạc điện tử thì
diện tích thửa đất bà T1 thực tế sử dụng thiếu 1.264 m
2
so với bản đồ địa chính và
theo GCNQSD đất đã được cấp.
+ Thửa đất s810, tờ bản đồ số 11 của Trần Thị T: Theo bản đồ địa
chính diện tích 2.666 m
2
. Kiểm tra thực tế theo ranh giới sử dụng đo đạc
bằng máy toàn đạc điện tử thì diện tích thực tế sử dụng là 3.566 m
2
. Như vậy, diện
tích thửa đất T thực tế sử dụng thừa 900 m
2
so với bản đồ địa chính.
Việc đo đạc trên thể hiện Trần Thị T đã sử dụng lấn sang đất của
Nguyễn Thị T1.
Người đại diện hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở
Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T trình bày: Về quy trình, thủ tục và căn cứ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 940152, cấp ngày 19/12/2016 mang tên
Nguyễn Thị T1: Giấy chứng nhận CG 940152 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh T (nay Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh T) cấp cho Nguyễn Thị T1
nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn P1 Nguyễn Thị H1. Sở
T tinh thái N đã thực hiện đầy đủ, đúng quy trình về cấp giấy chứng nhận do nhận
chuyển quyền, chủ sdụng đất đã hoàn thành đầy đnghĩa vtài chính. Tại thời
điểm thực hiện chuyển quyền, thửa đất số 803, tờ bản đồ số 11 được UBND huyện
Đ cấp cho ông Nguyễn Văn P1 Nguyễn Thị H1 tại giấy chứng nhận CH
00086 ngày 03/11/2016. Sở T không thực hiện đo đạc lại ranh giới thửa đất mà
thực hiện theo thửa đất đã được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận.
Đối với yêu cầu của đương sự về việc trả lại diện tích tranh chấp nằm trong
thửa đất 803, tờ bản đồ số 11 được cấp tại giấy chứng nhận số CG 940152: Từ
năm 1991 đến năm 2016 giữa gia đình ông P1 gia đình T không tranh
chấp gì về đất, các bên xác định ranh giới giữa thửa đất 803 và 801 rõ ràng, không
tranh chấp về ranh giới xác định ranh giới theo bản đồ địa chính không
đúng với thực tế sử dụng đất. Năm 2016 ông P1 chuyển nhượng cho T1
cũng đã chỉ ranh giới thực tế của thửa đất cho bà T1. Năm 2019, gia đình nhà bà T
và bà T1 cùng nhau làm hàng rào trên phần ranh giới thực tế sử dụng giữa hai nhà
đúng với ranh giới thửa đất do ông P1 chỉ dẫn.
Do hiện nay, giữa Trần Thị T4 bà Nguyễn Thị T1 không thống nhất
được ranh giới giữa thửa đất số 803 thửa đất số 810 thuộc tờ bản đồ số 11
xét thấy đây cũng một vụ việc tranh chấp đất đai Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, Chi nhánh Văn phòng Đ3 đề nghị Tòa án quyết định trên sở xem xét
quá trình cấp giấy chứng nhận đăng biến động đất đai cũng như thực tế sử
dụng đất. Quyết định của Tòa án làm sở để thực hiện thủ tục đăng cấp giấy
chứng nhận.
Người đại diện hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy
ban nhân dân L, tỉnh Thái Nguyên trình bày: Đối vi nội dung đề ngh xác
6
định quy trình, th tục căn cứ cp GCNQSD đất số phát hành CB 518929, cấp
ngày 03/11/2016 mang tên ông Nguyễn Văn P1 Nguyễn Thị H1. Ngày
12/9/2023, UBND xã T cũ (nay L) đã phối hp vi phòng T, Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai huyện Đ tchức làm việc với Trần Thị T và bà Nguyễn
Thị T1 để tuyên truyền các quy định về pháp luật đất đai hướng dẫn thủ tục
trích đo phần diện tích chồng lấn giữa 2 thửa đất trên, tuy nhiên Trần ThT
Nguyễn Thị T1 không thống nhất được ranh giới giữa hai thửa đất.
Từ kết quả làm việc, kiểm tra cho thấy: GCNQSD đất số phát hành CB
518929, số vào sổ CH 00086 do UBND huyện Đ cấp ngày 03/11/2016 mang tên
ông Nguyễn Văn P1 bà Nguyễn Thị H1 GCNQSD đất số phát hành CG
940152, số vào sổ CS 00123 do Sở T cấp ngày 19/12/2016 mang tên Nguyễn
Thị T1 tại thửa đất số 803, tbản đồ số 11, diện tích 6.070m
2
đất trồng cây lâu
năm, địa chỉ thửa đất tại xã T không đúng diện tích sử dụng đất.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Nguyễn Thị T1
phải trả lại diện tích tranh chấp 1.209,3 m
2
nằm trong thửa đất 803 tờ bản đồ
số 11 được cấp tại giấy chứng nhận số CG 940152, cấp ngày 19/12/2016 mang
tên Nguyễn Thị T1.
Từ năm 1991 đến năm 2016 giữa gia đình ông P1 và gia đình bà T không có
tranh chấp về đất, các bên xác định ranh giới giữa thửa đất 803 801 ràng,
không tranh chấp về ranh giới xác định ranh giới theo bản đồ địa chính
không đúng với thực tế sử dụng đất. Năm 2016 ông P1 chuyển nhượng cho bà T1
và cũng đã chỉ ranh giới thực tế của thửa đất cho bà T1. Năm 2019 gia đình nhà bà
T bà T1 cùng nhau làm hàng rào trên phần ranh giới thực tế sử dụng giữa hai
nhà đúng với ranh giới thửa đất do ông P1 chỉ dẫn.
Do hiện nay, giữa Trần Thị T Nguyễn Thị T1 không thống nhất
được ranh giới giữa thửa đất số 803 và thửa đất số 810, tờ bản đồ số 11 và xét thấy
đây vụ việc tranh chấp đất đai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND
xã L đề nghị Tòa án quyết định trên cơ sở xem xét quá trình cấp Giấy chứng nhận,
đăng ký biến động đất đai và thực tế sử dụng đất. Quyết định của Tòa án làm cơ sở
để thực hiện thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận QSD đất theo quy định.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P1, Nguyễn
Thị H1 trình bày: Khoảng năm 1992 - 1993, gia đình ông, mua của ông
Nguyễn Văn Đ 01 thửa đất chè (hiện nay thửa đất bà T T1 đang tranh
chấp). Khoảng 1 - 2 năm sau khi mua đất của ông Đ, thì ông, bà thấy gia đình
Trần Thị T mua thửa đất liền kề với thửa đất của gia đình. Hai gia đình canh tác và
sử dụng đất không có tranh chấp gì về ranh giới. Ông, bà xác định ranh giới giữa 2
thửa đất trước đây hào đất. Năm 2004, Nhà nước tiến hành đo đạc đất, khi đó
gia đình ông, không được tham gia chỉ giới thửa đất. Tuy nhiên, ông,
được nhận thửa đất tại UBND xã T, thhiện diện tích, số thửa đất số tờ bản
đồ. Năm 2016, gia đình ông, bà đi khai cấp quyền s dụng đất mang tên
Nguyễn Văn P1 Nguyễn Thị H1 đối với thửa 803, tờ bản đồ số 11, diện tích
6070m
2
đất trồng cây lâu năm. Cùng năm 2016, ông, đã bán lại cho bà Nguyễn
Thị T1 thửa đất trên với số tiền 300.000.000 đồng. Khi mua bán lập hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND T xác nhận. Ông,
7
xác định khi bán đất đi chỉ giới thửa đất cho T1, T1 đồng ý với ranh giới
đất thì mới làm thủ tục mua bán. Khi làm thủ tục mua bán thì ông, không đi đo
đạc thửa đất, nhưng đi chỉ ranh giới đất. Sau đó, ông, giao bìa đỏ cho gia
đình T1 T1 đã đi làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định.
Nay ông, xác định, ranh giới thửa đất 803 (ông, mua của ông Đ) với thửa
810 (đất của T) ranh giới hào đất. Nay được xác định trên hiện trạng hàng
rào lưới B40 mà hai gia đình đã cùng nhau làm. Ông P1 xác định đã được tham gia
xác định ranh giới cùng Toà án vào ngày 25/6/2025 đến nay khẳng định hàng
rào lưới B40 ranh giới của hai thửa đất 803 810. Nay ông, bà xác định đã
chuyển nhượng xong cho T1, hiện tại không còn quyền lợi liên quan đến
mảnh đất.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T2 trình bày:
Nguyễn Thị T1 (mẹ chị T2) là chủ sử dụng thửa đất 803, tờ bản đồ số 11, diện tích
6070 m
2
đất tại xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã được cấp Giấy CNQSD đất số
CG 940152, số vào sổ GCN: CS00123 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp
ngày 19/12/2016. Ngày 20/11/2017 Nguyễn Thị T1 đã tặng cho chị T2 toàn bộ
diện tích của thửa đất nêu trên tại Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đề ngày
20/11/2017 được công chứng tại Phòng C1 tỉnh Thái Nguyên. Nay T khởi kiện
yêu cầu bà T1 trả lại diện tích đất đo bao sang chị T2 không đồng ý. Vì bà T1 thực
tế không chiếm hữu, sử dụng phần diện tích đất bà T đòi, bà T1 là người thứ ba
ngay tình do nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông P1, trên cơ sở cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho vchồng ông P1. Mặt khác, T1 đã tặng cho chị
toàn bộ diện tích đất nêu trên từ năm 2017. Ngoài ra, bà T1 đơn phản tố yêu
cầu T phải trả lại phần diện tích thực tế đang sdụng lấn sang thửa đất của
T1. Chị T2 đồng ý với yêu cầu phản tố của T1. Chị đề nghị Toà án giải quyết
theo quy định của pháp luật.
Tại bản án dân sự thẩm số: 20/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 3 - Thái Nguyên đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 34, điểm a c
khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 165,
khoản 1 Điều 166, Điều 184, Điều 185, Điều 217, Điều 218, Điều 227, Điều 235,
Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 11, Điều 15,
Điều 123, Điều 155, Điều 166, Điều 175 Điều 176 Bộ luật Dân sự; Điều 135,
152, 166, 235, 236 Luật Đất đai năm 2024; Điều 12, khoản 2 Điều 26, khoản 2
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí lệ phí Tòa án; Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của
Toà án nhân dân tối cao; Luật Người cao tuổi.
Tuyên xử:
1. Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 940152, số vào số CS
00123 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp ngày 19/12/2016, mang tên
Nguyễn Thị T1.
8
2. Tuyên Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 20/11/2017 giữa bà
Nguyễn Thị T1 và chị Nguyễn Thị T2 đối với thửa đất 803, tờ bản đồ 11, diện tích
6070m
2
đất trồng cây lâu năm tại xã T, tỉnh Thái Nguyên vô hiệu.
3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Thị T, công nhận quyền sử
dụng đất của bà Trần Thị T đối với phần diện tích 1209,3m
2
đất trồng cây lâu năm,
tại thửa 803, tờ bản đồ số 11 L, tỉnh Thái Nguyên các vị trí
1,2,3,4,5G,8,F,A,10,Z,Y,1. (có sơ đồ kèm theo).
Các đương sự quyền nghĩa vụ liên hệ với quan Nhà nước thẩm
quyền để tiến hành làm thủ tục khai, đăng quyền sdụng đất; điều chỉnh
giấy chứng nhận quyền sử dụng được cấp. Trường hợp bên phải thi hành án không
giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án
được quyền yêu cầu quan Nhà nước thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, huỷ
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Thị T1 về việc
buộc Trần Thị T phải trả lại phần diện tích thực tế đang sdụng lấn sang phần
diện tích đất Nguyễn Thị T1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
là 1.209,3 m
2
.
5. Về chi phí tố tụng: Nguyễn Thị T1 phải thanh toán cho Trần Thị T
số tiền là 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án người
phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi
hành án theo quy định tại Điều 357 khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
6. Về án phí: Trần Thị T không phải chịu án phí dân sự thẩm do
người cao tuổi nên được miễn nộp tạm ứng án phí dân sư sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị
T1 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố
không được chấp nhận và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương s
theo quy định của pháp luật.
Ngày 03 tháng 10 năm 2025, bị đơn Nguyễn Thị T1 và người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T2 kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm
đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án dân sự thẩm số
20/2025/DSST, ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 -
Thái Nguyên theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và
chấp nhận yêu cầu phán tố của bị đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của bđơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan là chị Nguyễn Thị T2 không nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, ginguyên nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa
toàn bộ bản án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
Trần Thị T, chấp nhận yêu cầu phản tố của T1. bản án thẩm xét xử vụ
án không khách quan không áp dụng đúng các quy định của pháp luật gây
ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của bà. Với các do:
9
T1 người nhận chuyển nhượng đất tông P1, khi chuyển nhượng không
bàn giao mốc giới, chỉ bằng tay, không biên bản bàn giao mốc giới, mua
bán đất trên bìa đỏ đã được nhà nước cấp cho ông P1 thủ tục chuyển nhượng
mua bán theo đúng trình tự pháp luật quy định. Mặt khác, T1 chuyển nhượng
cho chị T2 toàn bộ thửa đất vào năm 2017, người quyền lợi trực tiếp
người thứ ba ngay tình. Ngoài ra, phía T có ký sổ giao nhận đất năm 2004 với
diện tích 2666 m
2
.
Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Nguyên phát biểu: Việc tuân theo
pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên toà, người
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo đúng quy định của
pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét x không chấp
nhận kháng cáo của bđơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn
Thị T2, giữ nguyên bản án thẩm của Toà án nhân dân khu vực 3 - Thái
Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thtục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp
thẩm đã xác định đúng thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh
chấp, người tham gia tố tụng, tiến nh thu thập, tiếp cận, công khai chứng cứ,
hoà giải, trình tự thủ tục tại phiên toà sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.
Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T1 người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T2 làm đúng theo các quy định của pháp luật
nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt chị T2
còn những người khác đều vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến
lần thhai. Đại diện Viện kiểm sát các đương sự đề nghị Hội đồng xét xử
tiếp tục xét xử. Xét thấy việc vắng mặt của những người này không làm ảnh
hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét
xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về nội dung: Xét toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn
Thị T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T2, Hội đồng
xét xử nhận thấy:
[2.1] Phần diện tích đất tranh chấp theo kết quả đo đạc do Công ty Cổ phần
Đ1 đo đạc thể hiện có diện tích 1209,3 m
2
có các vị trí 1, 2, 3, 4, 5G, 8, F, A,10, Z,
Y, 1 tại thửa 803, tờ bản đồ số 11 xã T, huyện Đ nay là xã L, tỉnh Thái Nguyên.
[2.2] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Năm 1989 Hợp tác Trung
Na bán cho ông Nguyễn Văn Đ thửa đất trồng c(nay xác định thửa đất 803,
10
tờ bản đồ số 11 do bà T1 đang sử dụng và tranh chấp với T). Năm 1992 - 1993
ông Đ chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn P1 canh tác và sử dụng đến năm 2016
thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 518929, cấp ngày
03/11/2016 đối với thửa 803, tờ bản đồ số 11, diện tích 6070 m
2
đất trồng cây lâu
năm mang tên ông Nguyễn Văn P1 Nguyễn Thị H1. Sau đó ông P1 đã
chuyển nhượng cho Nguyễn Thị T1 toàn bộ thửa đất trên, T1 đã được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 940152, cấp ngày 19/12/2016 đối với
thửa 803, tờ bản đồ số 11, diện tích 6070 m
2
đất trồng cây lâu năm. Bà Trần Thị T
có thửa đất 810, tờ bản đồ số 11 nằm giáp ranh với thửa 803 (hiện tại các bên đang
tranh chấp). Thửa đất của bà T có nguồn gốc do Hợp tác xã T5 bán năm 1991.
Quá trình sử dụng đất, giữa bà Trần Thị T với gia đình ông Nguyễn Văn P1
không tranh chấp về ranh giới đất. Sau khi gia đình T1 vcanh tác trên
thửa 803 cũng không tranh chấp về ranh giới với gia đình T. Năm 2019
hai gia đình ng nhau làm brào ngăn cách giữa hai thửa đất. Năm 2023 khi gia
đình T làm đơn đề nghị để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì
phát hiện một phần diện tích đất của bà T đang sử dụng đã bị đo bao vào thửa 803,
tờ bản đồ số 11 của gia đình bà T1.
[2.3] Xác định ranh giới đất trong vụ án này thấy rằng: Tại Biên bản m
việc của Toà án nhân dân huyện Đại Từ nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Thái
Nguyên ngày 25/6/2025 đối với ông Nguyễn Văn ĐNguyễn Văn P1 (là các chủ
sử dụng thửa đất 803, mặt Thị O công chức pháp T, ông Nguyễn
Văn K thư chi bộ xóm Đ) tại vị trí khu đất tranh chấp giữa Trần Thị T
Nguyễn Thị T1 xác định rằng:
- Ông Nguyễn Văn Đ xác định: Ranh giới thửa đất ông Đ sử dụng giáp ranh
với thửa đất T hiện nay đang sử dụng hàng o B40 mà gia đình T
T1 xây dựng. Trước thời điểm bán thì ranh giới hai nhà là hào đất.
- Ông Nguyễn Văn P1 xác định: Thửa đất ông bán cho T1 hiện nay đang
tranh chấp với T, ông mua của ông Đ khoảng năm 1992 - 1993. Khi bán đất thì
ông Đ có đi chỉ giới đất cho ông, đối với phần giáp đất bà T đang sử dụng ranh
giới hào đất, ông xác định ranh giới này chính hàng rào B40 mà nhà T
T1 xây dựng. Năm 2016, gia đình ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa đất mua của ông Đ. Sau đó thì ông đã bán luôn cho T1.
Khi bán cho T1 thì ông được chỉ giới đất cho T1 xác định ranh giới
giữa nhà ông và bà T là hàng rào lưới B40 hiện nay.
Như vậy kể cả người sử dụng lần đầu khi chưa được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ông Đ cũng như người được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất lần đầu là ông P1 đều khẳng định ranh giới đất giữa thửa đất của bà T
và bà T1 chính là hàng rào lưới B40 hiện nay do gia đình T và bà T1 cùng nhau
xây dựng.
Phía bđơn không công nhận ranh giới đất hàng rào B40 với các do:
Khi nhận chuyển nhượng đất từ ông P1 không bàn giao mốc giới mà chỉ bằng tay,
không có biên bản bàn giao mốc giới, mua trên bìa đỏ đã được nhà nước cấp, mua
bán theo đúng trình tự thủ tục của pháp luật, là người thứ ba ngay tình... Hội đồng
xét xử thấy rằng khi chuyển nhượng đất các bên phải trách nhiệm xác định
11
đúng diện tích, mốc giới, loại đất trên thực địa, sử dụng thực tế đây là cơ sở để các
bên xác lập giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. T1 xác định
ông P1 chỉ ranh giới đất nhưng không lập thành văn bản về việc xác định mốc
giới đất. Phía ông P1 người chuyển nhượng đất cho T1 c định khi chuyển
nhượng đất cho T1 đã chỉ ranh giới đất chính bờ rào B40 hiện nay danh
giới này cũng được ông Đ người sử dụng đất đầu tiên xác định ( ông Đ ông
P1 không có mâu thuẫn gì với các bên đương sự).
Mặt khác, bờ rào B40 do hai gia đình T T1 cùng xây dựng năm
2019, phía chị T2 con gái T1 xác định cũng chuyển tiền cho gia đình T để
xây dựng bờ rào B40. Bờ rào B40 theo ông Đ, ông P1 xác định chính trên o
đất trước đây ranh giới giữa gia đình T với đất của ông Đ, ông P1 trước
khi chuyển nhượng cho T1. Như vậy, xác định ranh giới đất của T và T1
ng rào lưới B40 do nhà T T1 làm hoàn toàn sở. Phía T1
cho rằng bờ rào B40 được xây dựng là để chống xói mòn đất, không phải ranh
giới đất giữa nT1 T nhưng không đưa ra được căn cứ nào nên không
có cơ sở chấp nhận.
[2.4] Về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ ông P1
và bà T1.
Phần đất tranh chấp giữa T và bà T1 1.209,3 m
2
phía ông Đ, ông P1 cũng
như T1 chưa bao giờ sử dụng gia đình T quản lý, sử dụng từ khi nhận
đất từ Hợp tác T5 năm 1991 trồng các y lâu năm, cây ăn quả trên đất
không xảy ra tranh chấp với ai, việc sử dụng đất công khai liên tục, không xảy ra
tranh chấp. Do đó, việc ông P1 cũng như T1 được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng vào phần đất của T đang quản lý, sử dụng không đúng đối tượng sử
dụng đất.
Trong văn bản số 265/TNMT-TH, ngày 12/9/2023 của Phòng Tài nguyên và
Môi trường huyện Đ nội dung: “Ngày 25/12/2018, Phòng T đã phối hợp với
UBND T kiểm tra thực địa, đo đạc tại thực địa thửa đất số 803 và thửa đất số
810, tờ bản đồ số 11 cho thấy: Thửa đất số 803, tờ bản đồ số 11 của Nguyễn
Thị T1 đã đo bao một phần diện tích của thửa đất số 810, tờ bản đồ số 11 của gia
đình bà Trần Thị T (chủ sử dụng đất liền kề). Tuy nhiên, do không biết việc bản đồ
địa chính đo bao, đo sai, năm 2016 ông Nguyễn Văn P1 Nguyễn Thị H1
(người chuyển nhượng cho Nguyễn Thị T1) đã khai đề nghị UBND huyện
cấp GCNQSD đất lần đầu tại thửa đất s803, tờ bản đồ số 11, diện tích 6.070m²
đất trồng cây lâu năm.
Ngày 03/11/2016, ông Nguyễn Văn P1 Nguyễn ThH1 được UBND
huyện Đ cấp GCNQSD đất số phát hành CB 518929, số vào số CH 00086 tại thửa
đất số 803, tờ bản đồ số 11, diện tích 6.070m² đất trồng cây lâu năm. Sau đó, ông
P1 và bà H1 chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất tại thửa đất trên cho bà Nguyễn
Thị T1. Đến ngày 19/12/2016, Nguyễn Thị T1 được Sở T cấp GCNQSD đất số
phát hành CG 940152, số vào sổ CS 00123 tại thửa đất số 803, tờ bản đồ số 11,
diện tích 6.070m² đất trồng cây lâu năm.
...
12
Từ kết quả kiểm tra trên cho thấy: GCNQSD đất số phát hành CB 518929,
số vào số CH 00086 do UBND huyện Đ cấp ngày 03/11/2016 mang tên ông
Nguyễn Văn P1 Nguyễn Thị H1 GCNQSD đất sphát hành CG 940152,
số vào số CS 00123 do Sở T cấp ngày 19/12/2016 mang tên bà Nguyễn Thị T1 tại
thửa đất số 803, tờ bản đồ số 11, diện tích 6.070m² đất trồng cây lâu năm
không đúng diện tích sử dụng đất.”
Tại Văn bản số 154/CNKV 6 - ĐKCGCN, ngày 28/7/2025 của Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai khu vực 6 thể hiện: Tại thời điểm thực hiện chuyển
quyền, thửa đất số 803, tờ bản đồ số 11 được UBND huyện Đ cấp cho ông Nguyễn
Văn P1 Nguyễn Thị H1 tại giấy chứng nhận CH 00086 ngày 03/11/2016. S
T không thực hiện đo đạc lại ranh giới thửa đất thực hiện theo thửa đất đã
được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận.
Tại biên bản làm việc ngày 26/3/2019 với thành phần gồm Phòng Tài
nguyên Môi trường huyện Đ, bà Trần Thị T, Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn
Văn P1, ông Nguyễn Văn Đ T1 đã ý kiến: “Gia đình tôi mua thửa đất của
ông Nguyễn Văn P1 với diện tích 6070 m
2
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, qua xác định ranh giới đất của gia đình tôi đã bị giảm 1250 m
2
, như vậy
gia đình tôi bị thiệt hại về kinh tế, nhưng tôi nhận thấy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của gia đình mình đã cấp là sai, tôi nhất trí việc thu hồi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của gia đình tôi do cấp không đúng diện tích sử dụng đất...”
Theo quy định tại Điều 100 của Luật đất đai năm 2013 quy định: “1. Hộ gia
đình, nhân đang sử dụng đất n định một trong các loại giấy tờ sau
đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...”.
Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông P1 và cho
T1 đối với diện tích đất tranh chấp 1209,3 m
2
, trong khi diện tích đất 1209,3
m
2
T người thực tế sử dụng đất là không đúng đối tượng sử dụng cũng như
điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đây điều kiện cần
đủ, phải đảm bảo đủ các điều kiện như quy định nêu trên thì mới được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, Tòa án cấp thẩm đã hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà T1 là hoàn toàn có căn cứ.
[2.5] Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 20/11/2017 giữa bà
Nguyễn Thị T1 chị Nguyễn Thị T2 thửa đất 803, tờ bản đồ số 11, diện tích
6070m
2
tại T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án cấp thẩm đã tuyên hợp
đồng này vô hiệu là có cơ sở. Đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
của T1 cấp không đúng đối tượng sử dụng đất, điều kiện cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất như đã phân tích ở trên, do đó việc tặng cho là không hợp pháp.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa T1 chị T2 liên quan đến yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu tuyên hiệu hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất không vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các giao
dịch chuyển quyền sử dụng đất phát sinh hoặc liên quan đến giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nêu trên đều không giá trị pháp lý. Trong việc chuyển
nhượng đất giữa ông P1 T1, một bên tham gia giao dịch T1 phải
trách nhiệm kiểm tra cụ thể ranh giới của thửa đất, xác định mốc giới, diện tích đất
chuyển nhượng...nhưng trên thực tế các bên không tiến hành bàn giao mốc giới,
13
không tiến hành kiểm tra đo đạc diện tích thực tế mà việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất không tiến hành đo đạc lại chuyển nguyên diện tích từ giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P1 sang cho T1, dẫn đến việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng thực tế sử dụng là do lỗi của các bên.
Do vậy, việc bị đơn là bà T1 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho rằng là
người thứ ba ngay tình không căn cứ để chấp nhận. Về hậu quả pháp khi
tuyên hợp đồng hiệu, do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét x
sơ thẩm không xem xét là có căn cứ.
[2.6]. Về chi phí thẩm định, định giá và đo đạc đất: Bị đơn không đồng ý vì
cho rằng buộc bị đơn phải chịu số tiền này không căn cứ. Hội đồng xét x
thấy rằng theo quy định các Điều 157, Điều 158 của Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị T được chấp nhận nên nguyên đơn
không phải chịu chi phí tố tụng. Stiền định giá, thẩm định tài sản, đo đạc đất
12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng). Nguyễn Thị T1 phải chịu chi phí tố
tụng theo quy định T1 phải trách nhiệm trả cho nguyên đơn Trần Thị
T số tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) tiền chi phí tố tụng như bản án
sơ thẩm giải quyết là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
[2.7] Đối với các vấn đề khác nêu trong đơn kháng cáo của bà T1 chị T2
Hội đồng xét xử thấy rằng:
+ Đối với ý kiến: Tòa án cấp thẩm đã xét xử vụ án vượt quá yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn T không yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất T đòi trên giấy tờ nhà nước cấp cho T1
nhưng Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu của T công nhận đối với
diện tích đất này cho T. T không yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nhưng Tòa án vẫn tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về nội dung này Hội đồng xét xử thấy rằng, trong đơn khởi kiện T biên
bản làm việc để làm nội dung yêu cầu khởi kiện của Tòa án thẩm đã xác
định bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T1 phải trả lại diện tích đất khoảng
1250 m
2
, thửa 803, tờ bản đồ số 11. Như vậy, với yêu cầu này Tòa án xác định
quan hệ pháp luật tranh chấp quyền sử dụng đất Tòa án trách nhiệm
xem xét, giải quyết xác định đất đó ai quyền sử dụng, Tòa án cấp sơ thẩm đã
căn cứ vào tài liệu, chứng cứ xác định đất tranh chấp không phải của T1
của T, do vậy bản án đã xác định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của T
hoàn toàn căn cứ pháp luật. Ngoài ra, khoản Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân
sự quy định: “1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định
biệt trái pháp luật của quan, tổ chức, người thẩm quyền xâm phạm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án nhiệm
vụ giải quyết...”. Do đó, Tòa án cấp thẩm hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của T1 không cần phải yêu cầu của đương sự hoàn toàn
căn cứ pháp luật.
+ Ý kiến về ranh giới đất: Nhận định của Tòa án cấp thẩm cho rằng
hai gia đình cùng nhau làm rào làm ranh giới không đúng. Hội đồng xét xử
nhận thấy Tòa án cấp thẩm xác định ranh giới đất không chỉ căn cứ vào lời
14
khai của các đương sự mà còn căn cứ vào hiện trạng thực tế sử dụng, căn cứ vào
các tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập, lời khai của những người tham gia tố
tụng...Như đã phân tích ở trên thì khẳng định ranh giới đất giữa bà T và bà T1
hàng rào lưới B40 là hoàn toàn có cơ sở.
+ Ý kiến về văn bản số 265/TNMT-TH ngày 12/9/2023 của Phòng Tài
nguyên Môi trường huyện Đ cũ, tỉnh Thái Nguyên: Ý kiến đưa ra tại văn bản
trên không đúng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho T1 trên
sở Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho vợ chồng ông P1, bà H1, đây
là văn bản pháp lý cao nhất do Nhà nước cấp chứng minh chủ quyền của người sử
dụng đất. Hội đồng xét xử thấy rằng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ
quan chuyên môn tham mưu cho UBND huyện Đ về công tác quản đất
đai tại địa phương. Trước khi ban hành văn bản trên đã tiến hành xác minh, kiểm
tra thực địa tiến hành làm việc với các đương sự liên quan trong đó có biên bản
làm việc ngày 26/3/2019 bà T1 đã xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
của gia đình đã cấp sai, nhất tviệc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của gia đình bà do cấp không đúng diện tích sdụng đất. Văn bản nêu trên
cũng một tài liệu đTòa án xem xét cùng với các tài liệu, chứng cứ khác trong
hồ vụ án để đánh giá khi giải quyết vụ án. Việc T1 cho rằng văn bản đó
không đúng mà không đưa ra được căn cứ nào nên không có cơ sở để chấp nhận.
+ Ý kiến về việc T đang sdụng đất tranh chấp do T đã lấn
chiếm đất của gia đình T1. Ntrên đã phân tích diện tích đất tranh chấp
gia đình T đã quản lý, sử dụng trồng các loại cây trên đất từ năm 1991, ông
Đ, ông P1 (người sử dụng đất trước khi chuyển nhượng cho T1) đều khẳng
định, việc sử dụng đất của T1 công khai, không xảy ra tranh chấp với ai.
T1 nhận chuyển nhượng đất tông P1 năm 2016, khi đó gia đình T đã
trồng các loại cây trên đất, phần đất T trồng cây từ bờ rào B40 hất sang phía
nhà bà T. Diện tích đất tranh chấp này bà T1 chưa sử dụng bao giờ. Do vậy, việc
T1 cho rằng bà T lấn đất là không có cơ sở để chấp nhận.
+ Ý kiến về việc nhận trong sổ điều tra diện tích, loại đất, chủ sử dụng
đất: T đã nhận diện tích đất như vậy đồng ý với việc đo đạc của
quan nhà nước thì không thể việc hiện tại sử dụng đất nhiều hơn thì đòi
sang cả diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận cho gia đình người khác.
Hội đồng t xử thấy rằng Phía T sổ giao nhận đất năm 2004 với diện
tích 2666 m
2
. Việc xác nhận vào sổ điều tra diện tích, loại đất không phải
căn cứ để quan thẩm quyền cấp quyền sử dụng đất. Khi cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cơ quan có thẩm quyền cấp phải tiến hành xác minh, đo
đạc trên thực tế đối với thửa đất, thửa đất phải đảm bảo điều kiện cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất một trong điều kiện đó sdụng ổn định,
công khai, liên tục và không có tranh chấp thì mới có được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Nên dù bà T có ký nhận diện tích nhỏ hay lớn hơn nhưng khi
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đủ điều kiện thì cơ quan thẩm
quyền cũng không căn cứ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
T.
15
Tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi Hội đồng xét xử thấy rằng đối với giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyễn Thị T1 quyết định cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất hay không Tòa án cấp thẩm chưa thu thập,
làm rõ. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tạm ngừng phiên tòa để thu thập thêm tài
liệu chứng cứ đó là quyết định có liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho T1. Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa để y thác cho
Tòa án cấp thẩm thu thập quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
của Nguyễn Thị T1. Kết quả thực hiện ủy thác như sau: Tại văn bản số
472/CNKVVI-TTLTr ngày 23 tháng 3 năm 2026 của Chi nhánh khu vực VI -
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T đã cung cấp: “Đối với Giấy chứng nhận số
CG940152 cấp cho bà Nguyễn Thị T1, không tồn tại Quyết định cấp Giấy chứng
nhận trong hồ lưu trữ. Đây trường hợp pháp luật không quy định phải lập
văn bản này, không phải do thất lạc hay thiếu sót trong quản hồ sơ”. Do đó,
Tòa án cấp thẩm chỉ hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyễn
Thị T1 mà không xem xét hủy quyết định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất là có căn cứ.
Như vậy, Toà án cấp thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan
toàn bộ các chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Bản án sơ
thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu
phản tcủa bđơn căn cứ. Bị đơn Nguyễn Thị T1, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T2 kháng cáo nhưng không cung cấp được
thêm tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo căn cứ
pháp luật. Do vậy, yêu cầu kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
Bản án thẩm tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
Nguyễn Thị T1 trong khi diện tích tranh chấp chỉ là 1209,3 m
2
. Ngoài ra,
nguyên đơn yêu cầu khởi kiện trả lại quyền sử dụng đất nên Tòa án chỉ tuyên
xác định cho bên nào quyền sử dụng đất. Do đó, để ràng, thuận lợi cho
việc thi hành bản án Hội đồng xét xử xét phúc thẩm thấy cần phải tuyên lại các
nội dung này của bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Do kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan không được chấp nhận nên các đương sphải chịu án pdân sphúc
thẩm. Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 là người cao tuổi được miễn án phí dân sự phúc
thẩm, chị Nguyễn Thị T2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 38, Điều 148, Điều 293, khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Uỷ ban Thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
16
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị T1,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T2.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 20/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9
năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Thái Nguyên, cụ thể:
1.1. Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 940152, số vào số CS
00123 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp ngày 19/12/2016, mang tên
Nguyễn Thị T1 đối với phần diện tích đất tranh chấp 1209,3 m
2
.
1.2. Tuyên Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 20/11/2017 giữa
Nguyễn Thị T1 và chị Nguyễn Thị T2 đối với thửa đất 803, tờ bản đồ 11, diện tích
6070m
2
đất trồng cây lâu năm tại xã T, tỉnh Thái Nguyên vô hiệu.
1.3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Thị T, bà Trần Thị T
quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 1209,3 m
2
đất trồng cây lâu năm, tại thửa
803, tờ bản đồ số 11 xã L, tỉnh Thái Nguyên có các vị trí 1, 2, 3, 4, 5G, 8, F, A, 10,
Z, Y, 1. (có sơ đồ kèm theo).
Các đương sự quyền nghĩa vliên hệ với quan Nhà nước thẩm
quyền để tiến hành làm thủ tục khai, đăng quyền sdụng đất; điều chỉnh
giấy chứng nhận quyền sử dụng được cấp. Trường hợp bên phải thi hành án không
giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án
được quyền yêu cầu quan Nhà nước thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, huỷ
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
1.4. Không chấp nhận yêu cầu phản tcủa bị đơn Nguyễn Thị T1 về việc
buộc Trần Thị T phải trả lại phần diện tích thực tế đang sdụng lấn sang phần
diện tích đất Nguyễn Thị T1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
là 1.209,3 m
2
.
1.5. Về chi ptố tụng: Nguyễn Thị T1 phải thanh toán cho Trần Thị
T số tiền là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án mà người
phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi
hành án theo quy định tại Điều 357 khoản 2 Điều 468 Bộ luật n sự, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Bà Nguyễn Thị T1 được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.
- Chị Nguyễn Thị T2 phải chịu 300.000
đ
(Ba trăm nghìn đồng) án phí dân
sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án dân s thẩm không kháng cáo,
không bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án n scó
17
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự”
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND khu vực 3 - Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp;
- Phòng THA khu vực 3 - Thái Nguyên;
- THA Dân sự tỉnh Thái Nguyên;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hoàng Anh Tuấn
Tải về
Bản án số 43/2026/DS-PT Bản án số 43/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 43/2026/DS-PT Bản án số 43/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất