Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 11/12/2024 của TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 61/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST ngày 11/12/2024 của TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Dương (TAND tỉnh Hải Dương)
Số hiệu: 61/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/12/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 61/2024/HNGĐ-ST
Ngày 11/12/2024
“Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi
con”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hà;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Bắc và bà Hoàng Thu Hà.
- Thư ký phiên toà: Trần Thu Hồng - Tký Tòa án nhân dân thành phố
Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà:
Đỗ Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trsở Toà án nhân dân thành phố Hải Dương,
xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ thẩm số 618/2024/TLST-
HNGĐ ngày 22/10/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐST- HNGĐ ngày 26/11/2024, giữa các đương
sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; Nơi ĐKHKTT: Số A
ngách E ngõ C phố Đ, khu F, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở hiện
nay: Nhà trọ phòng số 6, số nhà I ngõ C phố Đ, khu F, phường T, thành phố H, tỉnh
Hải Dương (có mặt tại phiên toà).
2. Bị đơn: Anh Lê Hữu T, sinh năm 1980; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay:
Số A ngách E ngõ C phố Đ, khu F, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (Có mặt
tại phiên toà).
3. Người làm chứng: Ông Hữu T1, sinh năm 1936; Địa chỉ: Số C Đ, khu
F, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Thị M, sinh năm 1962; Địa chỉ:
Số D Đ, khu F, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Thị L, sinh năm
1973; Địa chỉ: 1 Đ, khu E, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Lê Thị T2,
sinh năm 1982; Địa chỉ: Số A B, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Anh
Hữu T3, sinh năm 2003; Địa chỉ: Số A ngách E ngõ C phố Đ, khu F, phường T,
thành phố H, tỉnh Hải Dương. (Đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H thể hiện:
Chị và anh Lê Hữu T được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân
phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương vào ngày 06/5/2002. Sau khi kết hôn, vợ
chồng sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do cả hai
không tiếng nói chung, tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Ba lần chị
sinh con, anh T đều không quan tâm, không chăm sóc tận tình. Con ốm đau, mình
chị lo lắng chăm sóc. Bmẹ chồng m đau, chị chăm sóc tận tình, đúng trách nhiệm
đạo người con nhưng khi mẹ đẻ chốm, anh T không hề hỏi han, chăm sóc.
cuối năm 2023 bị tai nạn nằm viện, chị không chăm sóc được mẹ chồng mà anh T
không công nhận toàn bộ công sức chăm lo của chị với gia đình chồng. Khi xây nhà,
anh T không nghe ý kiến của chị. Vợ chồng không kinh tế chung. tình nghĩa
các con còn nhỏ, chị đã nhiều lần bỏ qua nhưng anh T không thay đổi. Tháng
8/2024, chị đã nộp đơn ly hôn tại Toà án sau đó rút đơn. Sau đó, vợ chồng vẫn không
hòa hợp nên chị đã dọn ra riêng từ cuối tháng 8/2024 cho đến nay. Trong thời gian
ly thân không ai quan tâm đến ai, anh T4 còn nghi ngờ chị có người đàn ông khác.
Đến nay, chị không còn tình cảm với anh T, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được
ly hôn với anh T.
Chị anh T có 03 con chung Lê Hữu T3, sinh ngày 31/01/2003, Hữu
Đ, sinh ngày 15/02/2010 và Lê Thị Hồng N, sinh ngày 01/9/2015. Chị đề nghị giải
quyết cho chị nuôi con Thị Hồng N, anh T nuôi con Hữu Đ, hai bên không
phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Con Lê Hữu T3 đã trường thành nên không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp chung, chkhông yêu cầu Toà
án giải quyết.
* Theo lời khai của bị đơn anh Hữu T thể hiện: Việc vợ chồng kết hôn,
chung sống và sinh được 03 con như chị H trình bày. Trong quá trình chung sống,
vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan
điểm sống tuy nhiên anh chưa bao giờ đánh đập chị H. Anh quan tâm chăm sóc
chị H khi sinh nở nhưng vì con bị cấp cứu nằm ở phòng điều trị khác nên anh phải
đi lại hai bên. Từ khi chung sống cho đến nay, vợ chồng không kinh tế chung, khi
chi tiêu việc lớn thì vchồng cùng đóng góp. Anh nghĩ rằng vợ chồng mâu thuẫn
nhưng không lớn đến mức phải ly n. Trước đây, chị H đã nộp đơn ly hôn đến Tòa
án, trong thời gian này vợ chồng vẫn cùng nhau. Sau khi rút đơn được vài ngày,
không hiểu do chị H tự bỏ nhà đi thuê trọ sống ly thân tđó cho đến nay.
Anh nghĩ rằng chị H có chân đi thì tự về, anh không có lỗi nên không phải xin lỗi và
đến đón chị H về ở cùng. Vợ chồng mâu thuẫn, hai gia đình nội ngoại đều biết, mọi
người đã khuyên bảo nhưng chị H không thay đổi. Nay anh không đồng ý ly hôn vì
con trai lớn sắp lấy vợ, hai con còn lại phải chia rẽ, sống không bố hoặc không
mẹ. Nếu phải ly hôn, anh chấp nhận nuôi con Hữu Đ, chị H nuôi con Thị
Hồng N, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Con Hữu T3 đã trường
thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp chung, anh không tranh chấp
yêu cầu Toà án giải quyết, để vợ chồng tự thỏa thuận.
* Theo ý kiến của ông Lê Hữu T1 (bố đẻ anh T); Thị M, Lê Thị L,
chị Thị T2 (chị, em ruột của anh T) và anh Lê Hữu T3 (con trai anh T, chị H):
Mọi người đều quan điểm gia đình đang cuộc sống êm đẹp, anh T là người tốt,
03 con ngoan ngoãn, không có lý do chị H làm đơn ly hôn. Đề nghị Tòa án xem xét
nguyên nhân chị H làm đơn ly hôn, bác bỏ đơn ly hôn của chị H để vợ chồng đoàn
tụ.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện các ý kiến đã trình bày. Nguyên nhân
mâu thuẫn chính là anh T không làm tròn trách nhiệm của người con, người chồng
người cha trong gia đình. Ngoài ra, mâu thuẫn với chị em chồng, không hoà
thuận.
- Bị đơn đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của chị H. Nếu chị H đồng ý từ chối toàn
bộ tài sản thì anh đồng ý ly hôn.
- Những người làm chứng có mặt tại phiên tòa đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của
nguyên đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương phát biểu quan điểm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa tiến hành thụ lý, thu thập tài liệu chứng cứ, quyết
định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát theo đúng quy định tại
Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS). Hội đồng xét x(viết tắt là HĐXX)
tuân thủ đúng quy định về trình tự tại phiên tòa sơ thẩm của BLTTDS. Nguyên đơn,
bị đơn chấp hành đúng quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Ý kiến về
giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân
gia đình. Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lê Hữu T. Giao cho anh T
được trực tiếp chăm c, nuôi dưỡng con Hữu Đ, sinh ngày 15/02/2010; giao cho
chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Lê Thị Hồng N, sinh ngày
01/9/2015, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau; con Hữu T3
đã trường thành nên không đặt ra giải quyết. Về quan hệ tài sản, do các đương sự
không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Chị H phải chịu án ply hôn
theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét
tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1]. Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ n nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hữu T kết hôn tự nguyện,
đăng kết hôn tại Ủy ban nhân n phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương
vào ngày 06/5/2002 theo quy định của pháp luật. Nên hôn nhân của chị H và anh T
hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân
mâu thuẫn chính do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tiếng nói chung
trong suốt quá trình chung sống cùng nhau. Mâu thuẫn căng thẳng nên chị H đã làm
thủ tục ly hôn tại Toà án, sau đó được hoà giải rút đơn. Tại Quyết định s
120/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/8/2024 Toà án nhân dân thành phố Hải Dương
đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng vẫn không thể hoà hợp, hàn
gắn được tình cảm. Chị H đã dọn ra ở riêng từ tháng 8/2024 cho đến nay, vợ chồng
không nói chuyện, quan tâm đến nhau. Gia đình hai bên đã khuyên bảo nhưng không
có kết quả. Xét hôn nhân của chị H và anh T không hạnh phúc, vợ chồng không
biện pháp nào hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn kéo dài và đến nay đã trầm trọng, mục
đích của hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình,
HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Chị H anh T 03 con chung Hữu T3, sinh ngày
31/01/2003, Lê Hữu Đ, sinh ngày 15/02/2010 và Lê Thị Hồng N, sinh ngày
01/9/2015. Con Lê Hữu T3 đã thành niên, tự lập cuộc sống nên Toà án không xem
xét giải quyết.
Xét nguyện vọng của các con trên 07 tuổi Hữu Đ Thị Hồng N
cũng như ý kiến của chị H và anh T, HĐXX cần giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng
con Lê Thị Hồng N, giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng con Lê Hữu Đ là phù hợp
phù hợp với quy định của pháp luật tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia
đình. Xét chị H anh T tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng
xét xử chấp nhận.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp chung, các đương
sự không yêu cầu Toà án giải quyết. Nên quan hệ này, Toà án không xem xét giải
quyết.
[2]. Về án phí: Nguyên đơn chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147
Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của
Quốc hội; Nghị quyết số 326/NQ- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản và sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Lê Hữu T.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hanh Lê Hữu T03 con chung là
Hữu T3, sinh ngày 31/01/2003, Hữu Đ, sinh ngày 15/02/2010 Lê Thị Hồng N,
sinh ngày 01/9/2015.
Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị H trực tiếp chămc, nuôi dưỡng con Lê Thị
Hồng N; anh Hữu T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Hữu Đ cho đến khi
các con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc sự thay đổi khác. Chị H anh T không phải
cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.
Chị H anh T quyền nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung,
không ai được cản trở quyền này.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí
sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí
chị đã nộp theo biên lai thu số 0006230 ngày 16/10/2024 của Chi cục thi hành
án dân sự thành phố Hải Dương ã thi hành xong).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Hải Dương;
- Chi cục THADS TP. Hải Dương;
- UBND phường Thanh Bình, TP. Hải
Dương (kết hôn năm 2002);
- Các đương sự;
- Lưu Tòa;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Vũ Thị Hà
Tải về
Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST Bản án số 61/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất