Bản án số 59/2025/KDTM-PT ngày 22/09/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 59/2025/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 59/2025/KDTM-PT ngày 22/09/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 59/2025/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2025
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngày 02-6-2025, bà Mai Thị Ánh H1 có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm nói trên và đề nghị Toà án cấp phúc thẩm công nhận phần tài sản của bà H1 trong toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 299, tờ bản đồ số 21 tại xã T, Thành phố T, tỉnh Quảng Nam với tư cách là đồng sở hữu tài sản; yêu cầu chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra để làm rõ dấu hiệu tội phạm.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 59/2025/KDTM-PT Bản án số 59/2025/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 59/2025/KDTM-PT Bản án số 59/2025/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số 59/2025/KDTM-PT
Ngày 22 9 2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng chế chấp
tài sản và yêu cầu tuyên bố
hợp đồng thế chấp vô hiệu”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai
Các Thẩm phán: Ông Vũ Việt Dũng
Bà Mai Vương Thảo
Thư phiên tòa: Trần Ngô Khánh Loan - Thư Tòa án nhân dân
thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ông Xuân Tuấn
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 22-9-2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ số 18/2025/TLPT-
KDTM ngày 18-7-2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng chế chấp tài sản yêu
cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu”.
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 27/2025/KDTM-ST ngày
29-5-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam bị kháng
cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 296/2025/QĐ-PT ngày
11-8-2025; giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; địa chỉ: 2 N, phường X (trước đây là
phường H, quận C), thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ Chi nhánh Q: Số E, đường
P, phường T, thành phố Đà Nẵng (trước đây là thành phố T, tỉnh Quảng Nam).
Người đại diện theo u quyền: Ông ơng Quốc Â; chức vụ: Trưởng
phòng kiểm soát rủi ro tuân thủ; theo Giấy uỷ quyền số 54/2025/GUQ-
CNQN ngày 03-02-2025; có mặt.
* Bị đơn: Công ty TNHH T; địa chỉ: B N, phường Q, thành phố Đà Nẵng
(trước đây là phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam)
Người đại diện theo pháp luật: Phạm Thị H Chức danh: Giám đốc;
vắng mặt.
2
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Mai Thị Ánh H1, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn H, phường Q, thành
phố Đà Nẵng (trước đây T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam); địa chỉ liên lạc:
Thôn P, phường Q, thành phố Đà Nẵng (trước đây T, TP ., tỉnh Quảng
Nam) ; có mặt.
2. Phạm Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: K đường Đ, khối phố M,
phường T, thành phố Đà Nẵng (trước đây là phường A, thành phố T, tỉnh Quảng
Nam); vắng mặt.
3. Văn phòng C; địa chỉ: số A P, phường T, thành phố Đà Nẵng ( trước đây
thành phố T, tỉnh Quảng Nam); có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
* Người kháng cáo: Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Mai Thị
Ánh H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm, tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn - Ngân ng TMCP S người đại diện hợp pháp trình
bày tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án:
Ngân hàng TMCP S kết với Công ty TNHH T hợp đồng tín dụng s
202025854250/HĐTD ngày 24-11-2020, thoả thuận sửa đổi bổ sung số
01/202025854250 ngày 28-4-2021 với hạn mức cấp tín dụng 720.000.000
đồng; Hợp đồng tín dụng số 202025458412 ngày 16-6-2020, thoả thuận sửa đổi
bổ sung số 01/202025458412 ngày 22-6-2021 với hạn mức cấp tín dụng là
1.200.000.000 đồng.
Để đảm bảo cho Hợp đồng tín dụng số 202025458412 ngày 16-6-2020,
Phạm Thị H người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T đã kết
Hợp đồng thế chấp tài sản số 58412/HĐTC được Văn phòng C công chứng ngày
17-6-2020, tài sản đảm bảo quyền sử dụng đất tại thửa đất số 299, tờ bản đồ
số 21 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số CC 875194 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp
ngày 03-6-2016, biến động sang tên bà Phạm Thị H ngày 09-5-2019.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH T đã không thực hiện
nghĩa vtrả nợ đúng hạn dẫn đến việc khoản vay tại Ngân hàng TMCP S - Chi
nhánh Q phát sinh nợ quá hạn. Do vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án giải
quyết buộc Công ty TNHH T phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền gốc và lãi
theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên. Tại bản ánthẩm số 07/2024/KDTM-ST
ngày 29-01-2024 của Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ Bản án phúc thẩm
số 12/2024/KDTM-PT ngày 11-9-2024 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc bị đơn Công ty
TNHH T phải trả toàn bộ tiền gốc lãi theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín
dụng đã ký kết. Tuy nhiên, đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa
đất số 299 tờ bản đồ số 21 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
3
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CC 875194, H1 phát sinh tranh
chấp nên đã yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng thế chấp nêu trên vô hiệu.
Xét thấy, hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng TMCP S với Phạm Thị H
đảm bảo theo quy định của pháp luật. Do đó, trường hợp Công ty T không
thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số
202025458412 ngày 16-6-2020, thoả thuận sửa đổi bổ sung số
01/202025458412 ngày 22-6-2021 cho Ngân hàng thì đề nghị quan thẩm
quyền xử tài sản thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 299, tờ bản đồ
số 21 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số CC 875194 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp
ngày 03-6-2016, biến động sang tên Phạm Thị H ngày 09-5-2019 để Ngân
hàng thu hồi nợ.
* Bị đơn- Công ty TNHH T người đại diện hợp pháp trình bày tại bản
tự khai ngày 02-6-2022:
Vào ngày 24-11-2020, tôi vay tại Ngân hàng S số tiền 550.000.000
đồng, tài sản bảo đảm là xe ô tô mang biển kiểm soát 92A-22739.
Vào ngày 16-6-2020, tôi vay tại Ngân hàng S số tiền 1.200.000.000
đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, do bệnh tật, dịch bệnh, kinh doanh
thua lỗ nên chưa khả năng trả nợ. Nay, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu công ty
T phải trả số tiền trên, tôi đồng ý hoàn trả số tiền trên cho Ngân hàng trong thời
gian 6 tháng tới, thời gian trên để chữa bệnh phục hồi việc kinh doanh. H
không trình bày ý kiến đối với yêu cầu độc lập của bà Mai Thị Ánh H1.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan- Mai Thị Ánh H1 trình bày
tại đơn yêu cầu độc lập và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án:
Tài sản ngôi nhà gắn liền với Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 299, tờ
bản đồ số 21 tại T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CC
875194 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Q cấp ngày 03-6-2016, biến động
sang tên Phạm Thị H vào ngày 09-5-2019, đây tài sản thuộc sở hữu chung
của tôi Phạm Thị H bản thân tôi góp tiền mua chung tài sản này với
H. Việc góp tiền hai bên lập văn bản thoả thuận xác lập quyền sử dụng
đất, sở hữu chung tài sản vào ngày 17-5-2019.
Khi H đem tài sản này thế chấp vay vốn tại Ngân hàng TMCP S không
thông qua ý kiến của tôi. Mặt khác, tại thời điểm Ngân hàng S thẩm định tài sản
để cho bà H vay vốn, gia đình tôi đang trực tiếp quản lý, sử dụng căn nhà trên.
Theo tôi, Ngân hàng không tiến hành việc thẩm định, nếu việc thẩm định thì
tôi sẽ thông báo cho Ngân hàng biết việc tài sản trên do tôi đang quản
thuộc sở hữu chung của tôi H, tôi sẽ không đồng ý cho vay. Theo chứng
cứ Ngân hàng cung cấp tại thời điểm tiến hành thẩm định, mặt tiền căn nhà đã
sơn lại màu xanh. Như vậy là không đúng thực tế tại thời điểm Ngân hàng
thẩm định, mặt tiền căn nhà vẫn còn sơn màu cam. Đến cuối năm 2021, tôi mới
tiến hành sơn lại màu xanh.
4
Do vậy, tôi yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng thế chấp tài sản số:
58412/HĐTC giữa Ngân hàng thương mại Cổ phần S Phạm Thị H được
Văn phòng C công chứng ngày 17-6-2020, số công chứng 873 quyển số 01
TP/CC- SCC/HĐGD vô hiệu và giao trả tài sản trên cho tôi được quyền quản lý,
sử dụng.
Trong qtrình giải quyết vụ án, mặc đã được tống đạt hợp lệ các văn
bản tố tụng nhưng người đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty TNHH T
đồng thời người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị H vắng mặt
không có lý do nên Toà án không thể tiến hành lấy lời khai và hoà giải.
* Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 27/2025/KDTM-ST ngày
29-5-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã
quyết định (tóm tắt):
Căn cứ vào các Điều 117, 398, 401, 463 Điều 466, 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015; các Điều 100, Điều 103, Điều 104 Luật các Tổ chức tín dụng năm
2024;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối
với bị đơn Công ty TNHH MTV T về việc Tranh chấp hợp đồng thế chấp tài
sản"
Buộc công ty TNHH MTV T phải thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân
hàng TMCP S đối với khoản vay tại Hợp đồng tín dụng số 202025458412 ngày
16-6-2020, thoả thuận sửa đổi bổ sung số 01/202025458412 ngày 22-6-2021.
Trường hợp bđơn Công ty TNHH MTV T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ
hoặc thực hiện không đầy đủ tnguyên đơn quyền yêu cầu quan thẩm
quyền xử tài sản thế chấp Quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất tại
thửa đất s299, tờ bản đồ số 21 tại T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam theo
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số CC 875194 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 03-
6-2016, đã biến động sang tên bà Phạm Thị H ngày 09-5-2019 để thu hồi nợ.
2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Mai Th Ánh H1 về việc tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số
58412/HĐTC giữa Ngân hàng thương mại Cổ phần S Phạm Thị H được Văn
phòng C công chứng ngày 17-6-2020 vô hiệu.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ
thi hành án của các đương sự.
* Đơn kháng cáo:
Ngày 02-6-2025, bà Mai Thị Ánh H1 có đơn kháng cáo một phần bản án sơ
thẩm nói trên đề nghị Toà án cấp phúc thẩm ng nhận phần tài sản của
H1 trong toàn bộ Quyền sdụng đất tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số
299, tờ bản đồ số 21 tại xã T, Thành phố T, tỉnh Quảng Nam với tư cách là đồng
sở hữu tài sản; yêu cầu chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra để làm rõ dấu hiệu tội
phạm.
5
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên
tòa của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn
phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận đơn kháng cáo của Mai Thị Ánh H1 do không có căn cứ và
giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 27/2025/KDTM-ST ngày
29-5-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng; Hội đồng
xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn Công ty TNHH T người quyền lợi nghĩa vliên quan
Phạm Thị H đã được Toà án cấp phúc thẩm thực hiện thủ tục thừa phát lại các
văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng đến lần thứ hai vẫn không mặt.
Văn phòng C gửi văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn
cứ Khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự
này.
[2] Xét Đơn kháng cáo của Bà Mai Th Ánh H1 thì thy:
[2.1] Hợp đồng thế chấp tài sản số 58412/HĐTC ngày 17-6-2020 được lập
tại Văn phòng C giữa Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Q Phạm Thị H để
đảm bảo cho khoản vay của Công ty TNHH T tại Ngân hàng. Tài sản thế chấp là
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 299, tờ bản đồ số 21
tại T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 875194, số vào sổ cấp
giấy chứng nhận: CS00335/Q19T42 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp
ngày 03-6-2016, biến động sang tên bà Phạm Thị H vào ngày 09-5-2019.
[2.2] Bà Mai Thị Ánh H1 cho rằng tài sản thế chấp nói trên là tài sản chung
giữa bà Phạm Thị H và bà Mai Thị Ánh H1 vì bà H1 đã góp tiền mua tài sản này
với bà H. Hội đồng xét xử xét tài liệu trong hồ thì thấy: Chứng từ chuyển
tiền qua tài khoản ngân hàng của H1 cho H vào ngày 03-5-2019 thể hiện
nội dung: “Hang chuyen tien chung mua nha dat voi chi Hanh”. Đến ngày 09-5-
2019, Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 299, tờ bản
đồ số 21 tại T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam đã được chỉnh biến động
sang tên bà Phạm Thị H. Sau đó, ngày 17-5-2019 thì bà H1 và bà H mới lập Văn
bản thoả thuận xác lập quyền sdụng đất, sở hữu chung tài sản đối với nhà đất
nói trên. Ngày 17-6-2020, H đã thế chấp bất động sản này. Theo các giao
dịch dân sự thông thường quy định pháp luật về xác lập quyền đồng sở hữu
về tài sản thì Văn bản thoả thuận xác lập shữu chung phải được lập cùng thời
điểm với hoạt động chuyển tiền của H1 cho H, hoặc nếu lập sau thì H1
6
phải cùng với H thực hiện việc chỉnh biến động tại quan nhà nước
thẩm quyền quản đất đai từ H sang tên cho H H1 đồng sở hữu
nhưng trong vụ án này bà H1 đã không thực hiện các thủ tục để tự bảo vệ quyền
lợi của mình.
[2.3] Hơn nữa, tại nội dung thoả thuận của Văn bản thoả thuận xác lập
quyền sử dụng đất, sở hữu chung tài sản ngày 17-5-2019 thì:
“Điều 4. Tình trạng pháp lý của thửa đất:
Phạm Thị H và bà Mai Thị Anh H2 đồng ý, thống nhất để cho Phạm
Thị H được quyền dùng thửa đất nêu tại Điều 1 của Hợp đồng này để thể chấp
vạy vốn tại Ngân hàng T1
Phạm Thị H chịu trách nhiệm thanh toán, trả nợ vay cho Ngân hàng
(Bao gồm cả gốc lãi). Nếu hết thời hạn vay Phạm Thị H không trả
được nợ cho Ngân hàng thửa đât được nêu tại Điều 1 của Hợp đồng này bị
Ngân hàng hoặc các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm khi
đến hạn thì hai bên đồng ý, tnguyện hỗ trợ Ngân hàng c quan Nhà
nước xử lý tài sản bảo đảm và không có bất kỳ gây trở ngại nào.”
Như vậy, khi lập Văn bản thoả thuận xác lập quyền sử dụng đất, sở hữu
chung thì Mai Thị Ánh H1 đã đồng ý cho bà Phạm Thị H sử dụng tài sản để
thế chấp vay vốn cam kết không gây bất kỳ trở ngại nào khi H không
thanh toán được nợ vay.
[2.4] Từ những nhận định trên cho thấy Hợp đồng thế chấp tài sản s
58412/HĐTC ngày 17-6-2020 được lập giữa Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Q
và bà Phạm Thị H với nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật nên
không bị vô hiệu theo yêu cầu độc lập của bà Mai Thị Ánh H1.
[2.5] Đối với số tiền Mai Thị Ánh H1 đã chuyển chung mua nhà đất với
Phạm Thị H thì bà H1 có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định
pháp luật.
[2.6] Do vậy, Toà án cấp thẩm đã xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S; Buộc công ty TNHH MTV T phải thanh
toán toàn bộ khoản nợ; Trường hợp không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực
hiện không đầy đủ thì xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất tại thửa đất số 299, tờ bản đồ số 21 tại xã T, thành phố T, tỉnh Quảng
Nam. Đồng thời, không chấp nhận yêu cầu độc lập của Mai Thị Ánh H1 về
việc tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số 58412/HĐTC giữa Ngân ng
thương mại Cổ phần S với bà Phạm Thị H vô hiệu là phù hợp pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án cấp phúc thẩm, Mai Thị Ánh H1 không
cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo của
mình căn cứ nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, cần
giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên.
[2.7] Án phí dân sự phúc thẩm Mai Thị Ánh H1 phải chịu do không
được chấp nhận yêu cầu kháng cáo.
7
[3] Đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại
phiên tòa phúc thẩm phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 148, Điều 293, khoản 3 Điều 296, Khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ
luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 117, 398, 401, 463 Điều 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015; các Điều 100, Điều 103, Điều 104 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024;
- Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
I. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Mai Thị Ánh H1;
Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 27/2025/KDTM-ST
ngày 29-5-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, nay
là Toà án nhân dân Khu vực 5- Đà Nẵng:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối
với bị đơn Công ty TNHH MTV T về việc Tranh chấp hợp đồng thế chấp tài
sản"
Buộc công ty TNHH MTV T phải thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân
hàng TMCP S đối với khoản vay tại Hợp đồng tín dụng số 202025458412 ngày
16-6-2020, thoả thuận sửa đổi bổ sung số 01/202025458412 ngày 22-6-2021.
Trường hợp bđơn Công ty TNHH MTV T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ
hoặc thực hiện không đầy đủ tnguyên đơn quyền yêu cầu quan thẩm
quyền xử tài sản thế chấp Quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất tại
thửa đất s299, tờ bản đồ số 21 tại T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam theo
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số CC 875194 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 03-
6-2016, đã biến động sang tên bà Phạm Thị H ngày 09-5-2019 để thu hồi nợ.
Sau khi xử lý xong tài sản bảo đảm nêu trên mà không đủ để tất toán khoản
vay thì công ty TNHH MTV T phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng
cam kết đã với Ngân hàng Thương mại cổ phần S tại các hợp đồng đã kết
cho đến khi thanh toán hết số nợ còn lại.
2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Mai Th Ánh H1 về việc tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số
58412/HĐTC giữa Ngân hàng thương mại Cổ phần S Phạm Thị H được Văn
phòng C công chứng ngày 17-6-2020, số công chứng 873 quyền số 01 TP/CC-
SCC/HĐGD vô hiệu.
8
Kể từ ngày bản án thẩm có hiệu lực pháp luật, bà Mai Thị Ánh H1 được
quyền lưu trong thời hạn 03 tháng để sắp xếp chỗ ở mới. Hết thời hạn này bà
Mai Thị Ánh H1 phải nghĩa vụ bàn giao tài sản Quyền sử dụng đất tài
sản gắn liền với đất tại thửa đất số 299, tờ bản đồ số 21 tại T, Thành phố T,
tỉnh Quảng Nam theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số CC 875194 do Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh Q cấp ngày 03-6-2016, biến động sang tên Phạm Thị H ngày 09-5-2019,
cho Ngân hàng TMCP S để đảm bảo thi hành án.
3. Về chi phí tố tụng: Mai Thị Ánh H1 phải nghĩa vụ hoàn trả cho
Ngân hàng TMCP S số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày Ngân hàng TMCP S đơn yêu cầu thi hành án, nếu Mai
Thị Ánh H1 không thanh toán khoản tiền chi phí tố tụng nêu trên thì phải chịu
tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng
với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
4. Về án phí: Án phí thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), bà Mai Thị
Ánh H1 phải chịu, nhưng được trvào số tiền tạm ứng án phí H1 đã nộp
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa
án số 0009745 ngày 23-6-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam
Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Bà H1 đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
II. Án phí phúc thẩm: Mai Thị Ánh H1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm
ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba
trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000467
ngày 14-7-2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; đã nộp đủ.
III. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân squyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TPĐN;
- TAND KV5-ĐN;
- Phòng THADS KV5-ĐN;
- THADS TPĐN;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Thị Thanh Mai
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 59/2025/KDTM-PT Bản án số 59/2025/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 59/2025/KDTM-PT Bản án số 59/2025/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất