Bản án số 419/2026/DS-PT ngày 27/07/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 419/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 419/2026/DS-PT ngày 27/07/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 419/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 419/2026/DS-PT Bản án số 419/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 419/2026/DS-PT Bản án số 419/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Hạnh
Ông Dương Hà Ngân
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Trí - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Vương Thị Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Lâm
Đồng, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân
sự thụ số 328/2026/TLPT-DS ngày 29-5-2026 v vic “Tranh chấp quyn s
dụng đất”.
Do Bản án n sự thm số 12/2026/DS-ST ngày 25-3-2026 của Tòa án
nhân n khu vực 8 - m Đồng bị kháng o. Theo Quyết định đưa vụ án ra t
xử phúc thẩm số 420/2026/-PT ny 04 tháng 6 năm 2026, gia c đương s:
- Nguyên đơn: ông Vũ Mnh Đ; đa ch: tC, Đ, tnh Lâm Đng - Vng mt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Long L (có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt); địa chỉ: số A, phường T, tỉnh Đắk Lắk ông Thanh
C (vắng mặt); địa chỉ: Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: ông Trần Hồng P Hoàng Thị C1; địa chỉ: tD, Đ, tỉnh
Lâm Đồng - đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 419/2026/DS-PT
Ngày 27 - 7 - 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: ông Nguyễn Văn T; địa chỉ: số B
Q, phường N, tỉnh Lâm Đồng - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: ông Phạm Hoài Q,
Luật Công ty L2.20 - Đoàn Luật tỉnh L; địa chỉ: tổ dân phố B N, phường
N, tỉnh Lâm Đồng - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chủ tịch UBND Đ, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ: tổ C, Đ, tỉnh Lâm
Đồng - Vắng mặt;
Người đại diện theo uỷ quyền: ông Văn D; chức vụ: Trưởng phòng
Kinh tế - Vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn K Đỗ Thị N; địa chỉ: ấp B, H, thành phố Đ -
Vắng mặt.
+ Ông Phan Văn K1; địa chỉ: thôn H, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng - Vắng mặt.
+ Bà Trần Thị M; địa chỉ: tổ C, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng - Vắng mặt.
- Người làm chứng: ông Văn K2, ông Bùi Văn H, ông Duy B, ông
Trần Văn N1, ông Văn Đ1, Phạm Thị L1, ông Nguyễn Văn D1, ông Bùi
Văn B1, ông Bùi Văn S, Phạm Thị N2 Phạm Thị T1; cùng địa chỉ: tổ
D, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng - Vắng mặt.
Người kháng cáo: người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông
Long L và ông Lê Thanh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, đơn trình bày và qtrình giải quyết vụ án, nguyên đơn
và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Năm 1997, ông Vũ Mạnh Đ chuyển nhượng cho ông Phan Văn K1 thửa đất
(06m ngang x 40m dài) tại tổ D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ), có viết
giấy tay đề ngày 12-6-1997. Nguồn gốc đất do ông Đ khai hoang, đất chưa
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2020, ông K1 ra nhận đất thì mới biết
năm 2005 ông Nguyễn Văn K lấy đất của ông K1 chuyển nhượng cho Trần
Hồng P bà Hoàng Thị C1. Do không đất giao cho ông K1 nên ông Đ phải
lấy đất của mình (06m ngang x 40m dài) để giao cho ông K1. vậy, ông Đ
khởi kiện ông P C1, yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông P và C1 phải
tháo dỡ nhà xây để trả lại đất.
3
Bị đơn và người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày:
Đất tranh chấp do ông P nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn K theo
giấy viết tay “Biên bản sang nhượng quyền sử dụng đất ngày 10-5-2005”. Cuối
năm 2005, ông P xây nhà, năm 2014 ông P khai sử dụng, hiện tại đất được
giải thửa trên tờ bản đồ 33, thửa 22, diện tích 189,1m
2
. Quá trình sử dụng, ông P
C1 nộp thuế sử dụng đất đầy đủ, không bị xử phạt hành chính về việc sử
dụng đất. vậy, ông Đ khởi kiện yêu cầu trả lại đất không căn cứ, ông P
và bà C1 không chấp nhận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn K Đỗ Thị N trình bày: thửa đất (06m x 40m)
ông chuyển nhượng cho ông P theo giấy ngày 10-5-2005 do ông nhận chuyển
nhượng của ông Đ vào năm 1997. Tại thời điểm nhận đất thì ông Đ còn chuyển
nhượng cho ông Phan Văn K1 (06m x 40m) liền kề với thửa đất (06m x 40m)
chuyển nhượng cho ông nên khi viết giấy, ông Đ viết chung giấy chuyển
nhượng diện tích (12m x 40m) đưa giấy này cho ông K1 gi. Gia ông
ông Đ đã thực hiện xong việc giao đất, nhận tiền từ năm 1997. Năm 2005, ông
không nhu cầu sdụng đất nên chuyển nhượng lại cho ông P. Vị trí thửa đất
ông chuyển nhượng cho ông P đúng vị trí thửa đất ông P xây nhà, ông
ông P không tranh chấp, ông yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định
pháp luật.
Ông Phan Văn K1 trình bày: năm 1997, ông Đ chuyển nhượng cho ông
thửa đất (06m x 40m) tại tổ dân phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ).
Lúc này, ông K cũng hỏi mua nên ông Đ cắt chuyển nhượng cho ông K (06m x
40m) liền kề. Năm 2014, nhà nước chủ trương đo đạc giải thửa nên ông
khai sử dụng, sau khi tờ bản đồ được phê duyệt thì đất ông khai thuộc thửa
23, tờ bản đồ 32, diện tích 189,7m
2
. Năm 2018, ông chuyển nhượng lại cho ông
Đ với giá 60.000.000 đồng. Sau khi nhận đủ tiền, ông đã đưa giấy mua bán gốc
năm 1997 cho ông Đ. Hiện ông không liên quan gì đến đất tranh chấp.
Trần Thị M trình bày: bà là vợ của ông Vũ Mạnh Đ, bà thống nhất với ý
kiến và yêu cầu của ông Đ.
UBND xã Đ, tỉnh Lâm Đồng trình bày: tại sổ mục đất đai lưu tại UBND
Đ, tỉnh Lâm Đồng không thông tin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đối với thửa đất có diện tích 209.9m
2
tại tổ dân phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh
Đắk Nông (cũ), nay là tổ D, Đ, tỉnh Lâm Đồng cho ông Vũ Mạnh Đ, Trần
4
Thị M, ông Trần Hồng P và bà Hoàng Thị C1. Tại sổ mục kê đất đai thể hiện đất
tranh chấp thuộc thửa số 22, tờ bản đồ số 32, kê khai tên người sử dụng, quản lý
đất ông Trần Hồng P. Tờ bản đsố 32 được phê duyệt hình dạng thửa đất
ràng. Tại thời điểm đo đạc năm 2014, xác định ông P C1 người đang
sử dụng thửa đất trên. Quá trình quản sử dụng, ông P bà C1 không bị xử
phạt vi phạm hành chính về việc sử dụng đất và đã thực hiện nghĩa vụ của người
sử dụng đất đúng, đủ theo quy định của pháp luật. Chủ tịch UBND xã Đ đề nghị
Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Những người làm chứng:
Phạm Thị T1, ông Duy B, ông Bùi Văn B1, ông Bùi Văn H
Phạm Thị N2 trình bày: người dân sinh sống lâu năm tại địa phương. Quá
trình sinh sống tại đây, thấy vợ chồng ông P làm nhà trên đất từ năm 2005,
không thấy ai tranh chấp đất ngoài ông Đ.
Ông Trần Văn N1 ông Văn Đ2 trình y: ông N1 em rể, còn ông
Đ2 là em trai của ông Đ. Các ông biết nguồn gốc đất tranh chấp do ông Đ
khai hoang, việc chuyển nhượng đất thì không biết.
Ông Bùi Văn S trình bày: ông em rể của ông Đ, hàng xóm của ông P.
Hiện tại ông đang sử dụng thửa đất số 21 (ông nhận chuyển nhượng của ông Đ
vào năm 1997) liền kề với thửa đất số 22 ông P đứng tên khai sử dụng. N
trên đất do ông P thuê ông xây vào năm 2005, quá trình xây nhà, ông không thấy
ai đến tranh chấp với ông P.
Ông Nguyễn Văn D1 trình bày: ông sinh sống ổn định tại địa phương t
năm 1995, năm 2012 ông được tín nhiệm bầu làm thôn trưởng. Quá trình sinh
sống làm thôn trưởng, ông thấy gia đình ông P sử dụng thửa đất tranh chấp
liên tục, nộp thuế sử dụng đất đóng góp các khoản của địa phương.
Khoảng năm 2022, ông được UBND thị trấn Đ (cũ) mời tham gia giải quyết
tranh chấp đất đai thì biết ông Đ tranh chấp đất với ông P.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2026/DS-ST ngày 25-3-2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng đã tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mạnh Đ về
việc yêu cầu bị đơn ông Trần Hồng P Hoàng Thị C1 phải trả lại diện tích
đất theo đo đạc thực tế là 209,9m
2
, địa chỉ tại: tổ dân phố D, thị trấn Đ, huyện Đ,
tỉnh Đắk Nông (cũ), nay là tổ D, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
5
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo
trách nhiệm thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật
Ngày 08-4-2026, ông Võ Long L và ông Lê Thanh C người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án
sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng
phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện
đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự các văn bản quy phạm
pháp luật liên quan vthụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước thời điểm
nghị án. Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ án.
Về nội dung: Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng
cứ mới chứng minh cho yêu cầu của mình. Tòa án cấp thẩm đã căn cứ vào
các tài liệu, chứng cứ thu thập được ý kiến của Ủy ban nhân dân Đ để
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn cứ, đề nghị Hội
đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn, gi nguyên Bản án sơ thẩm số 12/2026/DS-ST ngày 25-3-2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án, căn cứ vào các chứng
cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm, trên sở xem xét đầy đủ
toàn diện các chứng cứ, ý kiến các đương sự, quan điểm giải quyết vụ án của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn ông Long L ông Thanh C nộp trong thời hạn theo quy
định của pháp luật, đã nộp tiền tạm ứng án phí nên được xem xét theo trình tự
phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông
Long L ông Thanh C đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án
thẩm, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1]. Theo ông Mạnh Đ trình bày, năm 1997, ông chuyển nhượng cho
ông Phan Văn K1 diện tích đất 06m x 40m; đến năm 2020 khi ông K1 ra nhận
6
đất thì phát hiện ông Nguyễn Văn K đã lấy phần đất này chuyển nhượng cho
ông P (hiện nay thửa đất 22). Do không còn đất để giao cho ông K1 nên ông
Đ phải giao cho ông K1 thửa đất khác (hiện nay thửa đất 23). Từ đó, ông Đ
xác định diện ch đất hiện nay do ông P, C1 quản lý, sử dụng phần đất đã
chuyển nhượng cho ông K1 trước đây nên yêu cầu bị đơn trả lại đất. Song, ngoài
lời trình bày ông Đ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc
ông K đã lấy phần đất của ông K1 để chuyển nhượng cho ông P hoặc chứng
minh thửa đất số 22 hiện do ông P quản lý, sdụng chính thửa đất đã chuyển
nhượng cho ông K1 năm 1997.
[2.2]. Mặt khác, ông K cho rằng thửa đất s22 ông chuyển nhượng cho
ông P năm 2005 phần đất ông đã nhận chuyển nhượng tông Đ năm 1997.
Ông P, bà C1 sử dụng đất từ năm 2005, xây dựng nhà ở trên đất từ năm 2005, sử
dụng công khai, liên tục, ổn định cho đến khi phát sinh tranh chấp. Nội dung này
phù hợp với lời khai của nhng người làm chứng sinh sống tại địa phương đều
xác nhận ông P người quản lý, sdụng đất nhà trên đất liên tục từ năm
2005 đến nay.
[2.3]. Tại Biên bản sang nhượng quyền sử dụng đất ngày 10-5-2005 gia
ông Nguyễn Văn K ông Trần Hồng P xác định thửa đất chuyển nhượng có tứ
cận: phía Đông giáp rẫy rộng 06m, phía Tây giáp đường rộng 06m, phía Nam
giáp đất ông K1 dài 30m, phía Bắc giáp đất ông S dài 30m. Nội dung này phù
hợp với hồ địa chính thể hiện thửa đất của ông P nằm gia thửa đất của ông
Bùi Văn S thửa đất của ông Phan Văn K1. Đồng thời, lời khai của ông Phan
Văn K1 phù hợp với các tài liệu, chứng cứ nêu trên. Ông K1 xác nhận năm
1997, ông nhận chuyển nhượng của ông Đ một thửa đất diện ch 06m x 40m;
cùng thời điểm đó ông K cũng nhận chuyển nhượng của ông Đ một thửa đất
diện tích 06m x 40m liền kề. Năm 2014, ông K1 khai quyền sử dụng đất
được xác định thuộc thửa đất 23, tờ bản đồ 32. Vì vậy, lời khai của ông K1 phù
hợp với vị trí các thửa đất được thể hiện trên hồ sơ địa chính và phợp với nội
dung giấy chuyển nhượng gia ông K ông P ngày 10-5-2005. Ngoài ra, ông
K1 trình bày năm 2018 đã chuyển nhượng lại cho ông Đ thửa đất 23, tờ bản đồ
32 do ông K1 khai sử dụng. Ông Đ thừa nhận sau khi nhận chuyển nhượng
lại thửa đất này đã tiếp tục chuyển nhượng cho ông P. Quá trình giải quyết vụ án
không tài liệu, chứng cứ thhiện ông K1 tranh chấp, khiếu nại hoặc yêu
cầu được nhận lại thửa đất số 22 nên không căn cứ xác định thửa đất 22 hiện
nay do ông P quản lý, sử dụng là phần đất ông Đ đã chuyển nhượng cho ông K1
năm 1997 như nguyên đơn trình bày.
7
[2.4]. Tại sổ mục tờ bản đồ địa chính số 32 đo đạc năm 2014, phê
duyệt năm 2017 Văn bản xác nhận ngày 26-12-2025 của Ủy ban nhân dân xã
Đ, tỉnh Lâm Đồng xác nhận thửa đất 21 do ông Bùi Văn S đứng tên kê khai,
thửa đất số 22 do ông Trần Hồng P đứng tên khai và thửa đất số 23 do ông
Phan Văn K1 đứng tên khai. Tại thời điểm đo đạc năm 2014, ông P C1
người trực tiếp quản lý, sdụng thửa đất số 22. Ông Đ không đứng tên
khai bất kỳ thửa đất nào liền kề.
Từ nhng phân tích trên, thấy rằng người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn ông Võ Long L, ông Lê Thanh C kháng cáo không cung cấp tài liệu,
chứng cứ mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn ông Long L, ông Thanh C, gi nguyên Bản án
dân sự sơ thẩm s 12/2026/DS-ST ngày 25-3-2026 của Tòa án nhân dân khu vực
8 - Lâm Đồng.
[3]. Ván phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên
ông Võ Long L, ông Lê Thanh C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4]. Đối với c quyết định khác của bản án thẩm không kháng o,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ny hết thời hn kháng o, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
n cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng n sự; Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lphí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn ông Long L ông Thanh C. Gi nguyên Bản án dân sự thẩm số
12/2026/DS-ST ngày 25-3-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng.
Áp dụng các Điều 176, 196 của Bộ luật Dân snăm 1995; các Điều 170,
190 của Bộ luật Dân snăm 2005; các Điều 221, 182, 688 của Bộ luật Dân sự
năm 2015; các Điều 100, 101 khoản 5 Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013;
Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 2 Nghị định
01/2017/NĐ-CP của Chính phủ.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mạnh Đ về việc
yêu cầu bị đơn Trần Hồng P, Hoàng Thị C1 trả lại diện ch đất đo đạc thực tế
8
209,9m
2
tọa lạc tại tổ dân phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ), nay
tổ D, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2. Về chi phí tố tụng: ông Mạnh Đ phải chịu 10.600.000đ (mười triệu
sáu trăm nghìn đồng), ông Vũ Mạnh Đ đã nộp và quyết toán xong.
3. Về án phí:
Án phí dân sự thẩm: ông Mạnh Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm
nghìn đồng) án phí dân sự thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001662 ngày 05-10-2022 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ), nay Thi hành án
dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc ông Võ Long L, ông Lê Thanh C mỗi người phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền 600.000đ (Sáu
trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
0007731 ngày 28-4-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
4. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
36 Điều 72 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TANDTC (Vụ II);
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND khu vực 8 - Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 8 - Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 8 - Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Lưu: TDS, THCTP, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Võ Văn Vinh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 419/2026/DS-PT Bản án số 419/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 419/2026/DS-PT Bản án số 419/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất