Bản án số 121/2026/HS-PT ngày 21/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 121/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 121/2026/HS-PT ngày 21/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 121/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/05/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bị cáo dùng đá ném vào kính xe gây thiệt hại tài sản và gây thương tích
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 121/2026/HS-PT Bản án số 121/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký Gói dịch vụ 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 121/2026/HS-PT Bản án số 121/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký Gói dịch vụ 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 121/2026/HS-PT
Ngày: 21 5 2026.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
A ÁN NHÂN DÂN TNH ĐẮK LK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Hường
Các Thm phán: Ông Lê Trúc Lâm; ông Lê Quc Ly.
- Thư phiên a: Trương Cẩm Nhung Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh Đắk Lk tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Đình Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 21/5/2026, ti tr s Tòa án nhân dân tnh Đắk Lk xét x phúc
thm công khai v án hình s th s 69/2026/HS-PT ngày 16/3/2026 đối vi
bị cáo Trần Mạnh H, do kháng cáo của bị cáo Trần Mạnh H đối với toàn bộ
Bn án hình s sơ thm s 09/2026/HS-ST ngày 04/02/2026 ca Tòa án nhân
dân khu vực 9 - Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
-Họ tên: Trần Mạnh H, sinh năm 1977 tại tỉnh Quảng Trị; nơi trú:
Thôn G, xã E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ n hóa: 9/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Trần Mạnh L; con Thị P; vợ Hoàng Thị G; bị cáo 05 người
con, con lớn nhất sinh năm 2001 và con nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam tngày 20/02/2024 đến ngày 03/5/2024 thì được áp
dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Xuân T - Luật sư Văn phòng L2 -
Thuộc Đoàn luật tỉnh Đ. Địa chỉ: B, đường L, phường B, tỉnh Đắk Lắk (có
mặt).
- Người bị hại: Ông Nguyễn Hoài N, sinh năm: 1987; trú tại: Thôn C,
E, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời người làm chứng:
Ông Hồ Văn N1, sinh năm 1989; trú tại: Khu phố P, phường P, tỉnh Đồng Nai
(vắng mặt).
- Những người làm chứng:
2
1. Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1992; trú tại: Thôn C, E, tỉnh Đắk
Lắk (vắng mặt)
2. Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1985; trú tại: Thôn A, C (nay
E), tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
3. Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1972; trú tại: Thôn A, xã C (nay là xã
E), tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
4. Ông Hoàng Văn P1, sinh năm 1975; ttại: Thôn A, C (nay
E), tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
5. Hoàng Thị G, sinh năm 1978; trú tại: Thôn G, E, tỉnh Đắk Lắk
(vắng mặt).
6. Hoàng Thị T2, sinh năm 1985; trú tại: Thôn Đ, Đ (nay Đ),
tỉnh Lâm Đồng; Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
7. Ông Phạm Văn D1, sinh năm: 1987; trú tại: Thôn Đ, Đ (nay
Đ), tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo c tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên a, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ sáng ngày 28/9/2023, Hoàng Văn T1 điều khiển xe ô
bán tải biển số 48C - 239.23 chở theo Đoàn Thùy G1 đi từ cửa hàng thu
mua trái sầu riêng V (gọi tắt vựa thu mua sầu riêng) thôn E, E, huyện E
đi về hướng thành phố B được khoảng 04km thì bị một số người dân Nguyễn
Hoài N điều khiển xe ô tải biển số 47C - 217.30 chặn lại. Do đang tranh
chấp trong việc mua, bán, thanh toán tiền nên giữa N và T1 xảy ra mâu thuẫn, N
đã dùng tay đấm 01 cái trúng vào má của T1 rồi yêu cầu Trường quay lại vựa
thu mua sầu riêng Vĩnh Khang để giải quyết, thanh toán tiền nợ. Trên đường về
vựa thu mua sầu riêng, T1 gọi điện thoại cho Trần Mạnh H nói đang bị người
khác đánh và bắt cóc, nghe vậy H nói với T1 dùng phần mềm Zalo gửi vị trí của
T1 để H m đến. Lúc này, H một số người thân quen đang khu vực thị trấn
P, huyện K, sau khi nghe H nói sự việc T1 bị người khác đánh bắt cóc thì
Phạm Văn D1 dùng xe ô bán tải biển số 48C - 080.07 chở theo H, Hoàng Thị
T2 (em gái T1), Hoàng Văn P1 (anh trai T1), Nguyễn Thanh D (anh rể T1) đến
khu vực đối diện vựa thu mua trái sầu riêng theo vị trí mà T1 đã gửi, để xem tình
hình của T1 như thế nào.
Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, H và những người nêu trên đến vựa
thu mua sầu riêng V. Tại đây, H hỏi T1 bị ai đánh thì T1 chỉ về phía N đang
đứng ở khu vực trước sân của vựa thu mua trái sầu riêng, rồi T1H đi đến chỗ
N để hỏi chuyện. Sợ bị đánh N bỏ chạy ra phía sau kho sầu riêng trốn đồng thời
nhặt được con dao thái lan cái kéo cầm trên tay, khoảng 20 phút sau quay lại
3
khu vực trước sân thấy N cầm dao kéo, T1 chạy lại chỗ thùng xe ô của
mình lấy 01 cây gậy dạng gậy cây bóng chày, D1 ng chạy lại xe ô tô của mình
lấy 01 tuýp sắt. Lúc này, Hồ Văn N1 cũng đang đứng cửa hàng T3 thấy N chỉ
tay về phía những người đứng gần đó chửi bới. trước đó, vào ngày
27/9/2023, N1 đến lấy tiền bán sầu riêng tại cửa hàng thu mua trái cây V thấy N
cũng la hét, chửi bới làm cho N1 không lấy được tiền nên đã bức xúc. Khi thấy
nhóm của H đang chửi nhau với N thì N1 nhặt lấy cây kiếm từ trong thùng xe ô
gần đó (không biết là xe của ai) chạy đến phía N, N bỏ lên cabin xe tải của
mình đóng cửa lại nhưng bị H kéo cửa ra đồng thời lấy con dao của N. Lúc này,
N1 cầm kiếm chạy đến chém một nhát trúng vào khuỷu tay trái của N gây
thương tích, khi được mọi người can ngăn, T1, H, D1N1 đi sang khu vực bên
kia đường đối diện với vựa thu mua sầu riêng, thấy N xuống xe H cầm con dao
chạy sang định đánh N nhưng được anh Nguyễn Văn L1 (em trai N) đang trên
đường đi đến vựa thu mua quả thôn B, E đến can ngăn H. Bực tức bị
chém gây thương tích, N điều khiển xe ô của mình chạy qua bên kia đường
nơi để xe ô tô của Phạm Văn D1 rồi tông vào phần đuôi xe bán tải biển số 48C -
080.07 của D1, sau đó chạy về hướng Ủy ban nhân dân E được khoảng 200
mét, N quay đầu xe lại tiếp tục tông vào phần đầu xe ô của D1 lần thứ hai.
Thấy N tông xe ô tô của D1, Hà nhặt 02 cục đá bên đường, đứng phía trước cách
xe ô của N đang điều khiển khoảng 02m ném cục đá thẳng vào kính chắn gió
phía trước xe ô tải nơi N đang ngồi lái, cục đá xuyên qua kính chắn gió trúng
vào mũi của N, H ném tiếp phát thứ hai vào kính chắn gió làm rạn nứt phần kính
phía bên trái. Sau khi bị H ném đá, mặc dù bị thương tích ở taymũi, N vẫn cố
gắng điều khiển xe ô chạy về hướng thị trấn E, huyện E rồi đến Trung tâm Y
tế huyện E để cứu vết thương. Sau đó, N chuyển lên Bệnh viện Đ điều trị
thương tích.
Tại bản kết luận giám định số: 565 ngày 03/11/2023 của Trung tâm pháp
y thuộc Sở y tế tỉnh Đ, kết luận: Tỷ lệ tổn thương thể của Nguyễn Hoài N
16%. Vật tác động: Vật tày, cứng, có cạnh và vật sắc.
Tại Công văn số: 97/CV-TTPY, ngày 25/3/2024 của Trung tâm pháp y
thuộc Sở y tế tỉnh Đ, xác định t lệ phần trăm tổn thương thể do từng vết
thương của Nguyễn Hoài N, cụ thể như sau:
- Vết thương để lại sẹo hơi chéo tháp mũi, bờ nham nhở, kích thước (01x
0,1) cm, tỷ lệ 03%;
- Vết thương để lại sẹo mặt ngoài khuu tay trái, hơi cong mờ ra sau, bờ
đều, gọn. kích thước (4 x 0,3) cm, tỷ lệ 2%;
- Mẻ rạn xương lồi cầu ngoài cánh tay trái, không ảnh hưởng đến khớp, tỷ
lệ 4%;
4
- Gãy xương chính mũi đã nâng, tỷ l 08%; Tại Công n số: 97/CV-
TTPY, ngày 25/3/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đ, xác định tỷ
lệ phần trăm tổn thương thể do từng vết thương của Nguyễn Hoài N, cụ thể
như sau:
Tại Công văn số: 250/CV-TTPY, ngày 18/12/2025 của Trung tâm pháp y
thuộc Sở y tế tỉnh Đ, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương thể do thương
tích của Nguyễn Hoài N 16%, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương thể do hai
thương tích để lại sẹo hơi chéo tháp mũi gãy xương chính mũi đã nâng của
Nguyễn Hoài N là 11%.
Tại kết luận định giá tài sản số: 90/KL-HĐĐGTS, ngày 07/12/2023 của
Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện E kết luận: Các bộ phận
hỏng của xe ô tải nhãn hiệu DOTHANH, biển số kiểm soát 47C - 217.30
là 5.100.000 đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số: 82/KL-HĐĐGTS, ngày 01/7/2024 của
Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện E kết luận: Tổng giá trị
của xe ô tải (có mui), nhãn hiệu DOTHANH, biển kiểm soát 47C - 217.30
giá trị vào thời điểm tháng 9 tháng 2023 là 120.000.000 đồng.
Tại bản án hình sự thẩm số 09/2026/HS-ST ngày 04/02/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 9 - tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Cố ý gây thương tích” phạm
tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý
gây thương tích”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178, Điều 38, các điểm b, h, s khoản 1 khoản 2
Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H 09 (chín) tháng về tội
“Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự. Buc b cáo Trần Mạnh H phải chấp
hành hình pht chung ca hai ti là 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt
tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày
20/02/2024 đến ngày 03/5/2024.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên v trách nhim dân s; x vt
chng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định ca pháp lut.
5
Ngày 06/02/2026 bị cáo Trần Mạnh H đơn kháng cáo với nội dung: Đề
nghị trả hồ sơ cho cấp sơ thẩm điều tra, truy tố và xét xử bị cáo theo quy định tại
khoản 1 Điều 134 BLHS; Đối với tội “Cố ý làm hỏng tài sản”, bị cáo xin
giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt khác
nhẹ hơn.
Người bào chữa cho bị cáo cho rằng HVăn N1 hành vi gây thương
tích cho Nguyễn Hoài N trước nên cần xác định thương tích của Hồ Văn N1 gây
ra cho bị hại thương tích thứ nhất thứ hai, thương tích bị cáo gây ra thứ
ba, thứ tư. Áp dụng phương pháp cộng lùi với từng tổn thương thể tại khoản
4 Điều 3 Thông số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y thì thương
tích bị cáo gây ra cho bị hại 10% chứ không phải 11%. Bị cáo đồng ý với
quan điểm bào chữa của Luật sư.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
Đối vi kháng cáo ca b cáo đ ngh xem xét li ti danh C ý gây
thương tích: Quá trình điều tra ti phiên tòa, b cáo Trn Mnh H đều tha
nhận hành vi đã nhặt đá ném liên tiếp vào kính chn gió xe ô tải nơi Nguyn
Hoài N đang ngồi điều khin. H Văn N1 khẳng định trước thời điểm b cáo H
ném đá thì Nguyn Hoài N không thương tích vùng mặt. Nguyn Hoài N
cũng khai thương tích vùng mũi là do bị cáo H ném đá gây ra. Lời khai này p
hp vi din biến hành vi, phù hp vi v trí tác động phù hp với chế
hình thành thương tích theo kết luận giám định pháp y. V trí v kính chn gió
hướng tác động cũng phù hợp vi li khai ca b cáo. Do đó, đủ sở kết
lun vết thương vùng mũi ca Nguyn Hoài N là do Trn Mnh H gây ra.
Đối với quan điểm của người bào cha cho rng b cáo ch gây thương
tích 10% vic áp dng khoản 2 Điều 134 BLHS trái pháp lut: Bn kết
luận giám định s 565 xác định tng t l tổn thương thể 16%; Công văn
s 97 phân tách từng thương tích và xác định nhóm thương tích vùng mũi
(03% 08%) thuc hành vi ca b o; Công văn số 250 giải thích phương
pháp tính theo Thông tư 22/2019/TT-BYT, xác định tng t l tổn thương do hai
thương tích vùng mũi11%. Việc xác định t l tổn thương cơ th là hoạt động
chuyên môn thuc thm quyn của quan giám định. Phương pháp cộng lùi
đưc áp dng da trên nguyên tc pháp lý, không ph thuc vào th t thi gian
gây thương tích như lp lun của người bào cha. B cáo s dụng đá, vật
kh năng gây nguy him, m trc tiếp vào vùng đầu, mt của người b hi
khong cách gần, gây thương tích 11%. Do đó, Tòa án cấp thẩm áp dng
khoản 2 Điều 134 BLHS, là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối vi kháng cáo xin gim nh hình phạt, xin hưởng án treo hoc ci to
không giam gi: b cáo thc hin hành vi nguy him, phm hai ti danh, trong
đó đối vi ti “C ý gây thương tích” b cáo không tha nhận đầy đủ hu qu,
6
chưa bồi thường thit hi v sc khỏe cho người b hại. Do đó, không đủ điu
kiện để áp dng án treo hoc hình pht ci to không giam gi theo quy định ca
pháp luật. Đề ngh Hội đồng xét x không chp nhn kháng cáo ca b cáo, gi
nguyên quyết định của án sơ thẩm.
Người bị hại không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét kháng cáo của bị cáo cho rằng hành vi ném đá vào kính chắn gió
của bị cáo làm Nguyễn Hoài N bị thương tích hay không tbị cáo không
rõ. HĐXX xét thấy:
Trong suốt quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo Trần Mạnh H đều
thừa nhận đã nhặt đá ném liên tiếp 02 lần vào kính chắn gió xe ô tải nơi
Nguyễn Hoài N đang ngồi điều khiển, trong đó có cục đá xuyên qua kính lọt vào
bên trong cabin (BL 235, 237, 242, 244), phù hợp với lời khai của người bị hại
Nguyễn Hoài N xác định thương tích vùng mũi do bị cáo ném đá gây ra. Tại
biên bản lấy lời khai ngày 19/10/2025, Hồ Văn N1 người không mâu
thuẫn với bị cáo khai: Khi tôi cầm kiếm chạy đến chém N thì tôi thấy N
không bị thương tích cả, trên mặt N không vết thương nào. Lúc N xuống
xe tải chửi về phía chúng tôi, tôi chạy qua phía Ninh thì thấy N không bị
thương tích mặt. Sau này N bị thương tích vùng mặt hay không tôi
không rõ, nhưng lúc tôi đến gần N thì mặt N hoàn toàn bình thường” (BL 621).
Đối với lời khai của Hoàng Văn T1, Nguyễn Thanh D, Hoàng Văn P1,
Hoàng Thị T2: Trước khi bị cáo ném đá vào kính chắn g xe ô tải của
Nguyễn Hoài N thì thấy trên mặt Nguyễn Hoài N vết đốm màu đỏ nghi
máu. Tuy nhiên, Nguyễn Hoài N bị thương tích vùng mặt hay không thì
không (BL 478, 479). Những người này đều mối quan hệ thân thích với bị
cáo, nội dung lời khai không rõ ràng, mang tính suy đoán, không chắc chắn.
Hơn nữa, vt chng mà Cơ quan điều tra đã thu được ti hiện trường gm:
01 cục đá kích thước (17 x13 x 5) cm và 01 cục đá hình lưi rìu dài 01 cm, phn
rng nht 08 cm, phn nh nht 03 cm, dày 04 cm, php với chế gây
thương tích được xác đnh trong kết lun giám định s 565 ngày 03/11/2023 ca
Trung tâm pháp y tỉnh Đ. V trí v kính chắn gió hướng tác động cũng phù
hp vi li khai ca b cáo và din biến hành vi.
Như vậy, có đủ căn cứ để xác định vết thương vùng mũi của Nguyễn Hoài
N là do bị cáo Trần Mạnh H gây ra.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo cũng như quan điểm của người bào
chữa cho rằng Hồ Văn N1 gây thương tích cho Nguyễn Hoài N trước, do đó cần
7
xác định thương tích mà Hồ Văn N1 gây ra cho bị hại thương tích thứ nhất và
thứ hai, thương tích bị cáo gây ra thứ ba, thứ tư. Áp dụng phương pháp
cộng lùi với từng tổn thương thể tại khoản 4 Điều 3 Thông tư số:
22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y thì thương tích bị cáo gây ra cho bị
hại là 10% chứ không phải 11%, do đó bị cáo chỉ phạm tội cố ý gây thương tích
quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. HĐXX xét thấy:
Bản kết luận giám định số 565 xác định tổng tỷ lệ tổn thương thể của
bị hại là 16%. Quá trình điều tra xác định được, trước khi thực hiện hành vi
phạm tội, giữa bị cáo Trần Mạnh H Hồ Văn N1 không mối quan hquen
biết, không bàn bạc, việc Trần Mạnh H Hồ Văn N1 thực hiện hành vi gây
thương tích cho Nguyễn Hoài N độc lập. Nguyễn Hoài N đã viết đơn xin rút
yêu cu khi t v án hình s đối với hành vi gây thương ch ca H Văn N1
nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đình chỉ v án đối vi hành vi ca H Văn N1.
quan điều tra đã đề ngh Trung tâm pháp y tỉnh Đ tách t l phần trăm từng
thương tích của Nguyn Hoài N (thương tích tại mũi riêng thương tích ti
khuu tay riêng).
Tại Công văn số: 97/CV-TTPY, ngày 25/3/2024 của Trung tâm pháp y
tỉnh Đ, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương thể của Nguyễn Hoài N như sau:
Vết thương để lại sẹo hơi chéo tháp mũi, bờ nham nhở, kích thước (01x 0,1) cm,
tỷ lệ 03%; Gãy xương chính mũi đã nâng, tỷ lệ 08%;
Để làm tỷ lệ phần trăm từng vết thương của Nguyễn Hoài N, Tòa án
nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk Công văn số: 85/CV-TA yêu cầu Trung tâm
pháp y tỉnh Đ giải thích xác định tỷ lệ phần trăm thương tích của Nguyễn
Hoài N.
Ngày 18/12/2025 Trung tâm pháp y tỉnh Đ Công văn số: 250/GĐTH-
TTPY phúc đáp Công văn số 85/CV-TA như sau:
1.1.Căn cứ Thông tư 22 ngày 28/8/2019 của Bộ Y, chúng tôi không áp
dụng phương pháp cộng (lùi) với từng tổn thương thể, chúng tôi chỉ áp dụng
phương pháp cộng (lùi) với tổng (hoặc từ hai) tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương
tích.
1.3. Các thương tích của Nguyễn Hoài N
- Vết thương để lại sẹo hơi chéo tháp mũi, bờ nham nhở, kích thước (01x
0,1) cm, tỷ lệ 03% (Mục I.1 Nguyên tắc 2 Chương 8).
- Gãy xương chính mũi đã nâng, tỷ lệ 08% (Mục II.3.1 Chương 12).
Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do hai thương tích trên:
+T là Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể.
+T1: Tỷ lệ % tổn thương thứ nhất (3%).
+T2 = (100 3) x 8/100 = 7,76%.
8
T = 3% + 7,76% = 10,76% làm tròn 11%.
Công văn s 250 ca Trung tâm pháp y đã áp dụng đúng phương pháp
cộng lùi theo quy định chuyên môn để xác đnh t l tổn thương do bị cáo gây ra
11%. Việc xác định t l tổn thương th hoạt động chuyên môn thuc
thm quyn của quan giám định. Các văn bản gii thích làm kết lun giám
định, không mâu thun kết luận giám định.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đầy đủ quy định của
BLTTHS về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Không vi phạm nghiêm trọng thủ
tục tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo hoặc làm
thay đổi bản chất vụ án. Do đó, không căn cứ để chấp nhận yêu cầu hủy án
của bị cáo
Như vậy, đủ căn cứ để xác định: Do ý thức coi thường pháp luật, vào
khoảng 05 giờ 30 phút, sáng ngày 28/9/2023 tại thôn E, E, huyện E, tỉnh Đắk
Lắk. Trần Mạnh H đã hành vi dùng đá ném thẳng vào vị trí Nguyễn Hoài N
đang ngồi lái ô tô, làm thủng kính chắn gió phía trước xe ô tải biển số 47C -
217.30 trúng vào mũi của Nguyễn Hoài N gây thương tích, tỷ ltổn thương
thể 11%; vỡ kính chắn gió xe ô tô tải biển số 47C - 217.30 gây thiệt hại
5.100.000 đồng.
Bị cáo sử dụng đá, là vật có khả năng gây nguy hiểm, ném trúng vào vùng
đầu, mặt của người bị hại khoảng cách gần, gây thương tích cho bị hại 11%..
Do đó, Toà án cấp thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo
điểm đ khoản 2 Điều 134 là đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Mức hình phạt 02 năm 03 tháng cấp thẩm áp dụng với bị cáo
tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi của bị cáo gây ra bởi bcáo không
thừa nhận hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, không bồi thường thiệt hại cho
người bị hại. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ
nào mới nên không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhhình phạt của tội Cố ý làm hư
hỏng tài sản”. Xét thấy:
Toà án cấp thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý làm hỏng tài sản” theo
khoản 1 Điều 178 BLHS đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy
nhiên, mức hình phạt 09 tháng phần nghiêm khắc bởi lẽ bị cáo hành vi
02 lần ném đá vào kính chắn gió xe ô tô gây thiệt hại 5.100.000 đồng. Trong khi
Nguyễn Hoài N 02 lần lái xe tông vào xe của ông Phạm Văn D1 em rể của bị
cáo trước, gây thiệt hại 9.800.000 đồng, mức độ hành vi nghiêm trọng hơn
nhưng chỉ bị xử phạt 09 tháng tù. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình;
bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt
hại cho Nguyễn Hoài N; trong thời gian được tại ngoại bcáo thường xuyên
9
tham gia các hoạt động từ thiện chở hàng cứu trợ cho bà con bị ảnh hưởng do
thiên tai tỉnh Phú Yên (nay tỉnh Đắk Lắk). Hiện nay bị cáo đang nuôi con
nhỏ bị khuyết tật đặc biệt nặng (có xác nhận của chính quyền địa phương). Do
đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Do bị cáo phạm nhiều tội nên không chấp nhận kháng cáo xin được
hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Khi xét xử thẩm lại, người bị hại không
yêu cầu thêm nên cấp thẩm không xem xét. Nội dung này không kháng
cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
[6] Từ những phân tích nhận định nêu trên, xét thấy căn cứ chấp nhận
một phần kháng cáo của bị cáo Trần Mạnh H, sửa một phần bản án thẩm số
09/2026/HS-ST ngày 04/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - tỉnh Đắk
Lắk.
[7] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Trần Mạnh H
không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Mạnh H. Sửa một phần
Bản án thẩm số 09/2026/HS-ST ngày 04/02/2026 ca Tòa án nhân dân khu
vực 9 - tỉnh Đắk Lắk.
Tuyên xử:
[1] Về điều luật và mức hình phạt:
[1.1] Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, khoản 2 Điều 51 Bộ
luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng về tội “Cố ý
gây thương tích”.
[1.2] Áp dụng khoản 1 Điều 178, Điều 38, các điểm b, h, s khoản 1
khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H 06 (sáu) tháng về tội “Cố ý làm hỏng
tài sản”.
[1.3] Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tng hp hình pht. Buc b cáo
Trần Mạnh H phải chấp hành hình pht chung ca hai ti 02 (hai) năm 09
(Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính tngày bắt thi hành án,
được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 20/02/2024 đến ngày 03/5/2024.
[2] Về án phí phúc thẩm: Bcáo Trần Mạnh H không phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng
10
nghị có liệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhn: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND Tối cao; THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
- Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; (Đã )
- Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk;
- CQ THAHS Công an tỉnh ĐắkLk;
- TAND Khu vực 9 - Đắk Lắk;
- Phòng THADS Khu vực 9- Đắk Lắk;
- Bị cáo; Bị hại; Lưu Thị Thu Hường
- Lưu hồ sơ.
Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký Gói dịch vụ 6 tháng trở lên. Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết Văn bản gốc. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 121/2026/HS-PT Bản án số 121/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký Gói dịch vụ 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 121/2026/HS-PT Bản án số 121/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký Gói dịch vụ 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất