Bản án số 472/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 472/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 472/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 472/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 472/2026/DS-PT Bản án số 472/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 472/2026/DS-PT Bản án số 472/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 472/2026/DS-PT
Ngày 14-8-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thanh Thái, bà Nguyễn Thị Thủy Tiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà:
Lương Thị Mai Chăm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng Cơ sở
1 xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 168/2026/TLPT-DS ngày 01 tháng 4
năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 305/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của
Toà án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 490/2026/QĐ-PT ngày
09/7/2026; Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 420/2026/QĐ-PT ngày
28/7/2026 của Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Địa chỉ trụ sở: Số G T, phường C, Tp Nội. Người đại diện theo ủy quyền
tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Minh T, chức vụ: Cán bộ xử lý nợ hội sở; ông Nguyễn
Văn H, chức vụ: Cán bộ xử nợ hội sở; ông Ngô Duy P, chức vụ: Cán bộ xử nợ
khu vực miền T; ông Nguyễn Thanh C, chức vụ: Cán bộ xlý nợ khu vực miền
trung; ông Nguyễn Vũ Bảo T1, chức vụ: Cán bộ xử nợ khu vực miền trung theo
giấy ủy quyền số 11/2025/UQ-SHBBTH ngày 25/8/2025.
Bị đơn: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Số B T, khu phố B, phường H, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền:
+ Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn M, H, tỉnh Lâm
Đồng (theo giấy ủy quyền số chứng thực: 884, quyển số 01/SCC/CK,ĐC ngày
06/6/2022 tại Văn phòng C1).
2
+ Ông Phạm Văn M, sinh năm 1977, địa chỉ: G S, phường T, Tp Hồ Chí Minh
(theo hợp đồng ủy quyền số công chứng: 03985, quyển số 04/2023TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 15/5/2023 tại Văn phòng C2).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1960
Người đại diện theo uỷ quyền của X: ông Ông Phạm Văn M, sinh năm
1977, chỗ ở hiện nay: 351 thôn M, xã H, tỉnh Lâm Đồng. theo hợp đồng ủy quyền số
công chứng: 05822/2026/CCGD ngày 06/8/2026 tại Văn phòng C3).
+ Anh Nguyễn Ngọc Hòa T3, sinh năm 2012, người đại diện của anh T3:
Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969, cùng địa chỉ: Số B T, khu phố B, phường H, tỉnh
Lâm Đồng.
Do có kháng cáo của b đơn bà Nguyn Th T2, người có quyn lợi và nghĩa vụ
liên quan bà Nguyn Th X và anh Nguyn Ngc Hòa T3.
Tại phiên toà mặt: Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị Thu H1, ông Phạm
Văn M, ông Nguyễn Văn H, ông Ngô Duy P, ông Nguyễn Vũ Bảo T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, lời khai tại phiên
tòa người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
trình bày:
Nguyễn Thị T4 vay vốn tại Ngân hàng TMCP S theo Hợp đồng cấp hạn
mức tín dụng số 153/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày 09/05/2019, thực hiện Hợp
đồng vay vốn, T2 đã rút tiền theo Khế ước nhận nợ số 03-153/2019/HĐHM-
CN/SHB.132100 ngày 07/05/2020, cụ thể như sau:
- Số tiền vay: 4.500.000.000 đồng, mục đích vay: Vay bổ sung vốn kinh doanh
thu mua thủy sản, Thời hạn vay: 179 ngày (07/05/2020-02/11/2020), lãi suất cho vay:
12,1%/năm, lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ thời điểm giải ngân,
mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tiếp theo bằng i suất huy động tiền gửi tiết
kiệm VNĐ kỳ 06 tháng trả lãi sau cao nhất KHCN của S1 tại thời điểm điều chỉnh
cộng với (+) Biên độ cho vay là 4,5%/năm.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên: Tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất số 172/2019/HĐTC-
CN/SHB.132100 ngày 09/05/2019, đã công chứng tại Văn phòng C2 ngày
09/05/2019, số ng chứng 007763, quyển số 08TP/CC-SCC/HĐGD, Ngân hàng
TMCP S đã tiến hành đăng thế chấp đối với tài sản thế chấp trên tại Chi nhánh
Văn phòng Đ ngày 09/5/2019. Cụ thể là toàn bộ đất và tài sản gắn liền với đất theo:
Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đấtsố D, hồ sơ gốc số: 464
do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 20/04/2001, chủ shữu của các bất động sản
trên là: Bà Nguyễn Thị T2.
Tính đến 29/9/2025 bà T2 đã trả tổng cộng số lãi là: 211.584.104 đồng.
3
Trong quá trình vay vốn, Nguyễn Thị T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy
định trong Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng đã kết. Ngân hàng đã nhiều lần gọi
điện thông báo, gửi Thông báo nợ, lập Biên bản làm việc... nhằm xử lý khoản nợ quá
hạn, tuy nhiên bà T2 không thực hiện theo cam kết trả nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng
tiếp tục gửi thông báo khởi kiện..., nhưng phía T2 vẫn không thực hiện nghĩa vụ
trả nợ cho ngân hàng.
Tính đến ngày 29/9/2025, bà Nguyễn Thị T2 còn nợ tại Ngân hàng số tiền: Nợ
gốc: 4.500.000.000 đồng; nợ lãi: 4.757.431.161 đồng (trong đó nợ lãi trong hạn:
57.589.854 đồng, lãi quá hạn: 4.679.876.999 đồng và lãi chậm trả: 19.964.308 đồng),
tổng cộng: 9.257.431.161 đồng.
Ngân hàng yêu cầu bà Nguyễn Thị T2 phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số
tiền còn nnh đến ngày 29/9/2025 9.257.431.161 đồng và kể từ ngày 30/9/2025
T2 phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng cấp hạn
mức số 153/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày 09/5/2019 Khế ước nhận nợ số:
03-153/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày 07/05/2020 cho đến khi thanh toán xong
toàn bộ khoản nợ.
Trong trường hợp Nguyễn Thị T2 không trả được nợ, Ngân hàng TMCP S
được quyền yêu cầu quan có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm Hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất số 172/2019/HĐTC-
CN/SHB.132100 ngày 09/05/2019, đã công chứng tại Văn phòng C2 ngày
09/05/2019, số công chứng 007763, quyển số 08TP/CC-SCC/HĐGD để thu hồi nợ.
Đồng thời bà Nguyễn Thị T2 phải hoàn lại cho ngân hàng tiền 3.000.000 đồng chi phí
tố tụng ngân hàng đã tạm ứng để xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế
chấp.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa người đại diện theo uỷ quyền
của bị đơn trình bày:
Năm 2002, bà Nguyễn Thị T2 ng chị gái Nguyễn Thị X số tiền tích
lũy chung khoảng 160.000.000 đồng, sau đó hai chị em dọn ra riêng rồi ng nhau
mua căn nhà tại E107 T, khu phố B, phường X, Tp P (nay sB đường T, khu phố
B, phường H, tỉnh Lâm Đồng). Bà X lớn hơn 09 tuổi nên thực tế phần lớn số tiền tích
lũy được từ việc mua bán hải sản ở chợ của bà Nguyễn Thị X.
Do số tiền mua nhà lớn, hai bà phải mượn thêm người thân Ngân hàng để
trả, tuy nhiên thời gian đã lâu, hiện chỉ còn giấy nhận tiền của ông Nguyễn Minh
T5 với số tiền 160.000.000 đồng.
Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất ở cấp ngày
10/4/2000 chỉ đứng tên T2 để thuận tiện thủ tục, nhưng thực tế tài sản chung do
T2 và bà X cùng tạo dựng.
Năm 2003, ngay sau khi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử
dụng đất cấp ngày 10/4/2000 được sang tên bà T2 tT2 với bà X đã dùng giấy
tờ này để thế chấp vào Ngân hàng A để tiền trả nợ toàn bộ số tiền đã mượn của
người thân để mua căn nE107 Trần Quang D. Từ năm 2003 đến năm 2018 hai
luôn có hợp đồng vay ở Ngân hàng A.
4
Năm 2010, gia đình lập Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 48A8008662,
đăng ký lần đầu ngày 29/07/2010, hoạt động đến nay.
Cơ cấu hoạt động:
Ông Nguyễn Ngọc L (người sống chung như vợ chồng với bà T2 từ năm 2009)
là lao động chính, tài xế, phụ trách thu mua hải sản tại cảng cá.
T2 phụ trách điều hành, ng với ông L đi thu mua hải sản, giao dịch vi
Ngân hàng.
Nguyễn Thị X trực tiếp bán hải sản tại chợ đầu mối P, đồng thời cũng
hợp đồng vay tại A.
Tất cả thu nhập đều đưa vào quỹ chung để trả nợ Ngân hàng duy trì sở
kinh doanh. Không ai sử dụng tiền riêng.
Điều này chứng minh ràng bà X đồng chủ sở hữu, đồng nghĩa vụ trong
việc trả nợ và tạo dựng tài sản.
Ngày 23/3/2024, ông Nguyễn Ngọc L bị tai biến nặng, đến nay phải sống đời
sống thực vật, liệt toàn thân, ăn uống qua ống dẫn.
T2 vừa phải lo chăm sóc ông L, vừa nuôi con nhỏ Nguyễn Ngọc Hòa T3
(sinh năm 2012). Gia đình rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không thể khả
năng chỉ trả khoản nợ lớn như Ngân hàng yêu cầu ngay lập tức.
T2 thừa nhận ký hợp đồng tín dụng hợp đồng thế chấp với ngân hàng
TMCP S. Tuy nhiên, việc bà T2 mất khả năng thanh toán không phải do lỗi chủ quan,
do các nguyên nhân khách quan, bất khả kháng như: Đại dịch C4 (2020-2022)
khiến hoạt động kinh doanh hải sản phục vụ khách du lịch bị liệt, nguồn thu sụt
giảm nghiêm trọng; Ngân hàng cố tình hạ thấp giá trtài sản bảo đảm bất thường từ
6,25 tỷ xuống còn 4,08 tỷ chỉ trong 17 tháng (2019-2020), trái thực tế thị trường;
T2 đã bổ sung thêm tài sản bảo đảm 02 xe tải, đồng thời đề nghị chia khoản đáo
hạn thành 02 lần để khắc phục khó khăn, nhưng ngân hàng không chấp thuận; ngân
hàng còn từ chối nhận tiền lãi trong nhiều tháng, đưa khoản vay vào nợ xấu, áp dụng
lãi phạt 150% tính lãi chồng lãi, có dấu hiệu trái quy định pháp luật lợi dụng
tình hình dịch bệnh; đầu năm 2021, Thanh tra Ngân hàng N đã kiểm tra ngân hàng tại
chi nhánh B, trong đó có hồ sơ của bà T2 và lập biên bản ghi nhận sự việc.
Nay bà T2 đề nghị:
Tòa xác định rõ tài sản thế chấp là tài sản chung của bà T2 và bà X, không phải
tài sản riêng của bà T2.
Đề nghị xem xét quyền lợi hợp pháp của X, người đồng sở hữu tài sản
cùng tham gia trả nợ nhiều năm, ng sức đóng góp của ông Nguyễn Ngọc L, từ đó
xác định hợp đồng thế chấp vô hiệu một phần.
Đề nghị Hội đồng xét xcân nhắc hoàn cảnh đặc biệt (ông L sống thực vật,
con nhỏ cần nuôi dưỡng) khi giải quyết vụ án, để bảo vệ quyền lợi chính đáng của gia
đình.
5
Đề nghị Tòa án xem xét yếu tố bất khả kháng do dịch bệnh Covid-19, cùng
hành vi bất thường của ngân hàng để giảm nhẹ nghĩa vụ thanh toán, miễn giảm lãi
phạt, không tính lãi chồng lãi.
Đề nghị Tòa án buộc Ngân hàng T6, cấu lại khoản nợ theo đúng Thông
01/2020/TT-NHNN và các văn bản liên quan.
Đề nghị xem xét lại Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng s 153/2019/HĐHM-
CN/SHB.132100 ngày 09/5/2019 và Khế ước nhận nợ số: 03-153/2019/HĐHM-
CN/SHB.132100 ngày 07/5/2020 ngày 09/5/2020 đã hết thời hạn hợp đồng hạn
mức tín dụng nhưng ngày 07/5/2020 vẫn ngân hàng giải ngân cho bà T2. vậy hợp
đồng tín dụng đã hết hạn nên.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X trình bày:
Năm 2002, cùng Nguyễn Thị T2 cùng bỏ tiền mua n nhà tại E107 T,
khu phố B, phường X, Tp P. Năm 2003 khi T2 được đứng tên trên giấy chứng
nhận thì hai dùng giấy chứng nhận này để thế chấp cho ngân hàng A để số tiền
trả ntoàn bộ số tiền đã mượn để mua căn nhà trên. Mặc giấy chứng nhận chỉ
đứng tên một mình T2 nhưng thực tế căn nhà là tài sản hình thành tcông sức,
tiền bạc chung của bà với bà T2.
Nay bà đề nghị: Công nhận quyền sở hữu chung của bà đối với căn nhà, đất tại
số B đường T, khu phố B, phường H, tỉnh Lâm Đồng. Xác định phần quyền, lợi ích
hợp pháp của trong tài sản đbảo vệ, không làm ảnh hưởng bất lợi bởi việc xử
tài sản thế chấp theo yêu cầu của ngân hàng. Xem xét hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó
khăn hiện nay do ông Nguyễn Ngọc L sống thực vật, cháu T3 đang còn nhỏ để
hướng xthấu tình đạt lý, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các thành viên trong
gia đình.
Nguyễn Thị T2 người đại diện theo pháp luật của người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc Hòa T3 trình bày:
Căn nhà và đất tọa lạc tại số B đường T, khu phố B, phường H, tỉnh Lâm Đồng
thuộc quyền sở hữu của Nguyễn Thị T2 Nguyễn Thị X và trước thời
điểm anh Nguyễn Ngọc Hòa T3 sinh. Nay do anh T3 đang còn nhỏ nên đề nghị bảo
vệ quyền lợi của anh T3.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc L không trình bày ý
kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, ng như cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho mình.
Tại Bản án dân sự thẩm s305/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của
Toà án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 157, Điều 201, Điều
227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân
sự; Điều 280, Điều 298, Điều 319, Điều 357, Điều 466 của Bộ luật dân sự; Điều 91,
Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày
01/9/2017; Thông số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy
định về hoạt động cho vay của Tổ chức n dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài
6
đối với khách hàng; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Luật
thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
Buộc Nguyễn Thị T2 phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến
ngày 29/9/2025 9.257.431.161 đồng (trong đó bao gồm nợ gốc là 4.500.000.000
đồng, nợ lãi trong hạn 57.589.854 đồng, lãi quá hạn 4.679.876.999 đồng lãi
chậm trả: 19.964.308 đồng).
Kể từ ngày 30/9/2025, bà T2 còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo lãi suất
các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số
153/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày 09/5/2019 và Khế ước nhận nợ số: 03-
153/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày 07/5/2020 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ
trả nợ.
Trường hợp trong hợp đồng hạn mức tín dụng khế ước nhận nợ nêu trên,
các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân
hàng cho vay thì lãi suất T2 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay
theo quyết định của Tòa án ng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh
lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp Nguyễn Thị T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ trả n cho Ngân ng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu quan thẩm
quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất s172/2019/HĐTC-CN/SHB.132100 ngày 09/5/2019, đã công chứng tại
Văn phòng C2 ngày 09/5/2019, số công chứng 007763, quyển số 08TP/CC-
SCC/HĐGD để thu hồi nợ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên các quy định khác về quyền nghĩa vụ thi hành
án, chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp
luật.
Cùng ngày 14/10/2025, b đơn bà Nguyn Th T2, người quyn lợi nghĩa
v liên quan bà Nguyn Th X anh Nguyn Ngc Hòa T3 kháng cáo toàn b bn
án thẩm. Đề ngh cp phúc thm hu bản án thm, giao h về cho cấp
thm xét x lại theo quy định pháp lut.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo,
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn, người quyền lợi nghĩa vliên
quan trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, đề nghị hủy bản án
thẩm vì cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng với các lý do sau:
+ Không thụ lý giải quyết yêu cầu độc lập của X.
+ Tạm đình chỉ giải quyết vụ án không đúng.
7
+ Ông L đã chết nhưng không đưa người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng.
+ Ngân hàng đã bán khoản nợ của bà T2 cho công ty khác.
+ Quyền sở hữu chung căn nhà thế chấp chưa được xem xét, ảnh hưởng đến
quyền lợi của X.
+ Cần phải bảo vệ quyền lợi của trẻ em khi con của T2 chưa thành niên
đang sinh sống cùng bà T2 tại căn nhà thế chấp.
+ Việc T2 không trả được nợ do bất khả kháng, đại dịch covid-19 ảnh
hưởng đến việc kinh doanh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu việc kiểm sát tuân
theo pháp luật trong vụ án:
+ Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng
người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật.
+ Vnội dung: Kháng cáo của b đơn Nguyn Th T2, người quyn li
và nghĩa vụ liên quan bà Nguyn Th X và anh Nguyn Ngc Hòa T3 là không có căn
cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,
không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án thẩm số 305/2025/DS-ST
ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ vụ án đ được thẩm tra tại
phiên tòa phúc thẩm; trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý
kiến trình bày tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét
xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị X, anh Nguyễn Ngọc Hòa T3 vắng mặt nhưng người đại diện hợp
pháp tham gia nên Hội đồng xét x tiến hành xét x vng mt những người này.
[2] Về hợp đồng mua, bán nợ giữa Ngân hàng TMCP S với Công ty Cổ phần
D1:
Sau khi xét xử thẩm, ngày 30/12/2025, Ngân hàng đã bán toàn bộ số nợ của
Nguyễn Thị T2 cho Công ty Cổ phần D1. Quá trình giải quyết vụ án, Công ty Cổ
phần D1 đã ý kiến bằng văn bản thống nhất với nội dung bản án thẩm đề
nghị không tham gia giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, nếu tranh chấp đối với
khoản nợ trên thì Công ty sẽ khởi kiện Ngân hàng trong một vụ án khác. Do đó, T
án không xem xét hợp đồng mua, bán nợ giữa Ngân hàng TMCP S với Công ty Cổ
phần D1 trong vụ án. Việc Công ty Cổ phần D1 không tham gia ttụng trong vụ án
không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của các đương sự, đề nghị hủy bản án thẩm, Hội
đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Về việc ông Nguyễn Ngọc L đã chết trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc
thẩm: Theo bị đơn trình bày, ông L chung sống với T2 nhưng không quan
hệ vợ chồng, ông L cũng không đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở,
8
quyền sử dụng đất tài sản thế chấp, thực tế quyền nghĩa vụ của ông L không bị
ảnh hưởng khi giải quyết vụ án. Do vậy, việc ông L đã chết không ảnh hưởng đến
việc giải quyết vụ án, nên không cần thiết phải đưa người kế thừa quyền nghĩa vụ
của ông L vào tham gia tố tụng.
[3.2] Về nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và cơ cấu thời hạn trả nợ.
Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 153/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày
09/5/2019 Khế ước nhận nợ số 03-153/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày
07/5/2020 được các bên xác lập trên stự nguyện, chủ thể đầy đủ năng lực
hành vi dân sự, nội dung mục đích không vi phạm điều cấm của luật, không trái
đạo đức hội. Ngân hàng đã giải ngân đầy đủ số tiền vay cho T2 nên các thỏa
thuận này có hiệu lực, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Theo Khế ước nhận nợ, khoản vay được giải ngân ngày 07/5/2020, thời hạn trả
nợ cuối cùng ngày 02/11/2020. Việc Ngân hàng giải ngân khoản vay trong thời hạn
duy thạn mức theo hợp đồng không làm chấm dứt nghĩa vụ của T2 đối với
khoản vay đã nhận. Do đó, ý kiến của T2 cho rằng Hợp đồng cấp hạn mức tín
dụng hết hạn ngày 09/5/2020 nên không còn ràng buộc trách nhiệm là không có cơ sở
chấp nhận.
Khoản nợ đến hạn nhưng T2 không thanh toán cũng không được cấu
lại thời hạn trả nợ nên Ngân hàng quyền khởi kiện yêu cầu bà T2 thực hiện nghĩa
vụ trả số tiền nợ gốc 4.500.000.000 đồng căn cứ và phù hợp với quy định tại
các Điều 280, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự Điều 95 Luật Các tổ chức tín
dụng.
Đối với đề nghị của T2 yêu cầu Ngân hàng thương lượng, cấu lại khoản
nợ theo Thông tư số 01/2020/TT-NHNN các văn bản liên quan, Hội đồng xét xử
xét thấy đây là vấn đề thuộc quyền thỏa thuận của các bên, không thuộc trường hợp
Tòa án buộc Ngân hàng phải thực hiện nên không có cơ sở xem xét.
Về tiền lãi: Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng và Khế ước nhận nợ có thỏa thuận
về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và lãi chậm trả. Các thỏa thuận này phù hợp với
Điều 13 Thông số 39/2016/TT-NHNN và Điều 91 Luật Các tchức tín dụng. Do
T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu lãi theo thỏa thuận.
Tính đến ngày 29/9/2025, T2 phải trả tổng số tiền lãi 4.757.431.161 đồng,
gồm: lãi trong hạn 57.589.854 đồng, lãi quá hạn 4.679.876.999 đồng lãi chậm trả
19.964.308 đồng. Bà T2 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 30/9/2025 cho đến
khi thanh toán xong khoản nợ, theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận phù hợp
với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
Đối với đề nghị miễn, giảm lãi do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 xem
xét hành vi của Ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để giảm nghĩa
vụ trả lãi theo yêu cầu của T2; việc cấu, miễn, giảm lãi thuộc phạm vi thỏa
thuận giữa các bên.
[3.3] Về xử lý tài sản bảo đảm:
9
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất số
172/2019/HĐTC-CN/SHB.132100 ngày 09/5/2019 được công chứng và đăng ký giao
dịch bảo đảm theo quy định pháp luật. Các bên tham gia giao kết có đầy đủ năng lực
hành vi dân sự, việc thế chấp được thực hiện tự nguyện, nội dung không vi phạm
điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
T2 X cho rằng tài sản thế chấp tài sản chung của hai bà. Xét thấy,
tài sản thế chấp phải tài sản chung của T2 X hay không không ảnh
hưởng đến hiệu lực của hợp đồng thế chấp vì trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
chỉ một mình T2 đứng tên T2 người trực tiếp quản lý, sử dụng căn nhà
tài sản thế chấp. Trường hợp bà T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng quyền yêu cầu quan thẩm quyền xử tài sản
bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Cấp thẩm chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn căn cứ. Vđnghị của bđơn cần bảo vquyền lợi của trẻ em
con của bà T2 hiện đang sinh sống cùng trong căn nhà thế chấp, vấn đề này sẽ
được xem xét trong quá trình thi hành án.
[4] Về yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị X:
Ngày 20/9/2025, bà Nguyễn Thị X đơn yêu cầu độc lập. Tuy nhiên, yêu cầu
này được đưa ra sau khi Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ hòa giải nên căn cứ khoản 2 Điều 201 Bộ luật Tố tụng
dân sự nên Tòa án cấp thẩm không xem xét, giải quyết trong vụ án phù hợp.
Nếu có tranh chấp về tài sản chung sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy Toà án cấp thẩm
chấp nhận yêu cầu khởi kiện là đúng quy định. Kháng cáo của b đơn Nguyn Th
T2, người có quyn lợi nghĩa v liên quan Nguyn Th X anh Nguyn Ngc
Hòa T3 v vic hu bản án thẩm không có căn cứ chp nhận. Hội đồng xét xử
giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[6] Về án phí: Do kháng cáo của b đơn Nguyn Th T2, người có quyn li
nghĩa vụ liên quan Nguyn Th X anh Nguyn Ngc Hòa T3 không được
chấp nhận nên các đương sự phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, X và
anh T3 thuộc trường hợp và đơn xin miễn án phí nên không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của của b đơn bà Nguyn Th T2, người có quyn
lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyn Th X và anh Nguyn Ngc Hòa T3. Giữ nguyên
bản án dân sự thẩm số 305/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Toà án
nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng.
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 201
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025;
10
- Điều 280, Điều 298, Điều 319, Điều 357, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm
2017
- Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
Buộc Nguyễn Thị T2 phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến
ngày 29/9/2025 9.257.431.161 đồng (trong đó bao gồm nợ gốc là 4.500.000.000
đồng, nợ lãi trong hạn 57.589.854 đồng, lãi quá hạn 4.679.876.999 đồng lãi
chậm trả: 19.964.308 đồng).
Kể từ ngày 30/9/2025, bà T2 còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo lãi suất
các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số
153/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày 09/5/2019 và Khế ước nhận nợ số: 03-
153/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày 07/5/2020 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ
trả nợ.
Trường hợp trong hợp đồng hạn mức tín dụng khế ước nhận nợ nêu trên,
các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân
hàng cho vay thì lãi suất T2 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay
theo quyết định của Tòa án ng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh
lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp Nguyễn Thị T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ trả n cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu quan thẩm
quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất s172/2019/HĐTC-CN/SHB.132100 ngày 09/5/2019, đã công chứng tại
Văn phòng C2 ngày 09/5/2019, số công chứng 007763, quyển số 08TP/CC-
SCC/HĐGD để thu hồi nợ.
3. Về chi phí tố tụng: Nguyễn Thị T2 phải hoàn trả lại số tiền 3.000.000
đồng chi phí tố tụng cho Ngân hàng TMCP S.
4. Án phí:
- Về án phí sơ thẩm:
+ Bà Nguyễn Thị T2 phải chịu 117.257.431 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
+ Hoàn trả lại số tiền 56.520.000 đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009635 ngày 26/4/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự
thành phố Phan Thiết (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - Lâm Đồng) cho
Ngân hàng TMCP S.
- V án phí phúc thm:
11
+ Nguyn Th T2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng
được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tám ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu
tiền số 0006456 ngày 23/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. T2 đã
nộp đủ.
+ Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Ngọc Hòa T3 được miễn án phí dân s
phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
Dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 36 Điều 72 Luật Thi
hành án Dân sự năm 2025, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án Dân sự năm 2025.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (14/8/2026).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND, VKS khu vực 10 – Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 10 – Lâm Đồng;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Quản
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 472/2026/DS-PT Bản án số 472/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 472/2026/DS-PT Bản án số 472/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất