Bản án số 46/2024/DS-PT ngày 24/12/2024 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 46/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 46/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 46/2024/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 46/2024/DS-PT ngày 24/12/2024 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lạng Sơn |
Số hiệu: | 46/2024/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 24/12/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Lâm trường Hữu Lũng II (gọi tắt là Lâm trường) nay là Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đ B (gọi tắt là Công ty Lâm nghiệp Đ B) được thành lập năm 1993. Trước năm 1996, Lâm trường được UBND tỉnh Lạng Sơn giao đất, giao rừng trong đó có diện tích đất tranh chấp và Lâm trường đã tổ chức quản lý trồng rừng trên thực tế nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ). Đến năm 1996, thực hiện theo Luật Đất đai năm 1993, Lâm trường được UBND tỉnh Lạng Sơn cấp GCNQSDĐ theo Quyết định số |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 46/2024/DS-PT
Ngày 24-12-2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng
đất, yêu cầu xác lập quyền sở
hữu tài sản và thanh toán giá trị
tài sản trên đất, yêu cầu bồi
thường thiệt hại do tài sản bị
xâm phạm.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Đức Chiến
Các Thẩm phán: Ông Lộc Sơn Thái
Bà Lương Thị Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà:
Bà Hoàng Thanh huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 10
năm 2024 về việc: "Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu xác lập quyền sở
hữu tài sản và thanh toán giá trị tài sản trên đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại do
tài sản bị xâm phạm".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2024/DS-ST ngày 03 tháng 7 năm 2024
của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn, bị kháng cáo. Theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 36/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 11 năm 2024;
Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 63/2024/QĐ-PT ngày 19/11/2024;
Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 65/2024/QĐ-PT ngày 29/11/2024 của
TAND tỉnh Lạng Sơn giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đ B. Địa chỉ
trụ sở: Số 58, đường X, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Văn Trung - Phó
Giám đốc Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đ B, là người đại diện
theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 31/8/2023). Có mặt.
- Bị đơn:
2
1. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1955. Địa chỉ: Thôn G, xã Thiện T,
huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
2. Bà Lê Thị D, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn G, xã Thiện T, huyện H,
tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị D: Ông Nguyễn Văn Đ. Địa chỉ
Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, là người đại diện theo ủy quyền (Văn
bản ủy quyền ngày 19/12/2023). Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị L, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn G, xã Thiện T, huyện H,
tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
2. Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Lạng Sơn.
Người đại diện hợp pháp của UBND tỉnh Lạng Sơn: Bà Đỗ Thị N, Viên
chức Văn phòng Đăng ký đất đai, trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Lạng Sơn, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 02/5/2024).
Có mặt.
- Người làm chứng: Ông Đặng Văn X, sinh năm 1957. Địa chỉ: Số 191,
đường B, khu C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Đ là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Lâm trường Hữu Lũng II (gọi tắt là Lâm trường) nay là Công ty TNHH
Một thành viên Lâm nghiệp Đ B (gọi tắt là Công ty Lâm nghiệp Đ B) được
thành lập năm 1993. Trước năm 1996, Lâm trường được UBND tỉnh Lạng Sơn
giao đất, giao rừng trong đó có diện tích đất tranh chấp và Lâm trường đã tổ
chức quản lý trồng rừng trên thực tế nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ). Đến năm 1996, thực hiện theo Luật
Đất đai năm 1993, Lâm trường được UBND tỉnh Lạng Sơn cấp GCNQSDĐ theo
Quyết định số: 214 QĐ/UB-KT ngày 24/02/1996.
Năm 1995, Lâm trường tổ chức dự án trồng rừng gỗ lớn, bằng nguồn vốn
từ ngân sách Nhà nước (còn gọi là trồng rừng theo Dự án 327), Lâm trường ký
hợp đồng trồng rừng theo Dự án 327 với ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn
Văn D, theo đó: Lô 5 theo hồ sơ trồng rừng năm 1995, ông Nguyễn Văn H (tên
gọi khác Nguyễn Nam H) ký Hợp đồng trồng rừng số 250/LT ngày 15/6/1995,
có hiệu lực đến ngày 15/6/2015.
Lô 9a và lô 12d theo hồ sơ trồng rừng năm 1995, ông Nguyễn Văn D ký
hợp đồng trồng rừng số 251/LT ngày 15/6/1995, có hiệu lực đến ngày
3
15/6/2015.
Sau khi UBND tỉnh Lạng Sơn triển khai đo đạc đất Lâm trường theo
Quyết định số: 2152/QĐ-UBND ngày 25/11/2015, của UBND tỉnh về lập hồ sơ
ranh giới sử dụng đất, cắm mốc ranh giới, đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính.
UBND tỉnh đã có Quyết định số: 135/QĐ-UBND ngày 19/01/2018, cho Công ty
thuê đất để sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh lâm nghiệp. Thực hiện
Quyết định số: 135/QĐ-UBND, Công ty và Sở Tài nguyên và Môi trường đã ký
hợp đồng thuê đất số: 62/HĐTĐ ngày 25/10/2018, trong đó có diện tích tranh
chấp. Diện tích đất tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng của Công ty, nhưng
các bị đơn đã tự ý trồng keo trên đất tranh chấp. Diện tích đất đang tranh chấp
nằm trong diện tích 54,9ha thuộc diện tích dự án 327 mà Công ty giữ lại sử dụng
theo phương án sử dụng đất đã được UBND tỉnh Lạng Sơn phê duyệt tại Quyết
định số: 1988/QĐ-UBND ngày 27/10/2017. Đồng thời diện tích đất tranh chấp
cũng chính là diện tích mà bà Duyên đã có đơn đề nghị gửi UBND huyện H vào
năm 2018 và UBND huyện đã ban hành Công văn số 2023/UBND-TNMT ngày
17/10/2018 trả lời đơn. Diện tích đất tranh chấp Công ty đã được UBND tỉnh
Lạng Sơn cho thuê năm 2018. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty,
trên cơ sở kết quả đo đạc tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ, tại phiên tòa Công
ty thay đổi, bổ sung nội dung yêu cầu khởi kiện, cụ thể như sau:
- Công ty yêu cầu được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp
72.866m
2
(Trong đó: 17.224m
2
thuộc một phần thửa đất số 721; 55.642m
2
thuộc
một phần thửa đất số 1332, đều thuộc tờ bản đồ số 1).
- Để giảm thiệt hại cho bị đơn phải bỏ chi phí di dời cây trồng trên đất
tranh chấp, Công ty yêu cầu được quyền sở hữu toàn bộ 11.160 cây keo và Công
ty có trách nhiệm thanh toán giá trị cho bà Lê Thị D, ông Nguyễn Văn Đ, theo
đơn giá mà Hội đồng định giá tài sản đã quyết định.
- Công ty rút yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn bà Lê Thị D, ông
Nguyễn Văn Đ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm... Do diện tích đất
rừng rộng nên khi chỉ, có bị nhầm vào diện tích để xem xét, thẩm định tại chỗ,
do đó phần diện tích 58m
2
đất này Công ty không yêu cầu xem xét giải quyết.
Về chi phí tố tụng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn bà Lê Thị D, ông Nguyễn
Văn Đ trình bày:
Vợ chồng bà Lê Thị D, ông Nguyễn Văn Đ đang tranh chấp với Công ty
Lâm nghiệpĐ B diện tích 72.866m
2
thuộc một phần thửa đất số 721 và 1332, tờ
bản đồ địa chính số 01, địa chỉ tại thôn Làng T, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Các bị đơn cho rằng được quản lý, sử dụng đất tranh chấp từ năm 1991 đến nay,
cụ thể: Từ năm 1991 đến giữa năm 1998, các bị đơn trồng sắn, ngô trên diện tích
đất tranh chấp, đến cuối năm 1998, bắt đầu trồng khoảng 01ha cây mỡ, các năm
sau đó vừa trồng sắn, vừa trồng xen thêm cây bạch đàn. Khoảng năm 2013, thì
chuyển sang trồng keo cho đến nay.
4
Năm 1995, Lâm trường Hữu Lũng II tổ chức trồng rừng theo Dự án 327,
trong đó: Lô 5 ông Nguyễn Văn H ký hợp đồng trồng rừng; Lô 9a và lô 12d ông
Nguyễn Văn D ký hợp đồng trồng rừng với Công ty, việc ký hợp đồng này các
bị đơn không được biết.
Khoảng cuối năm 2020, các bị đơn có nhận chuyển nhượng của vợ chồng
ông Nguyễn Văn H (chết năm 2021), bà Trần Thị L khoảng gần 01ha đất rừng
(trên đất có cây keo trồng năm 2017). Diện tích đất chuyển nhượng thuộc một
phần diện tích đất hiện nay đang tranh chấp, trên sơ hoạ chính là các thửa tạm
721.1, 721.2 và 721.3.
Theo Kết luận thanh tra số: 851/KL-STNMT ngày 29/8/2014, của Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn, yêu cầu Công ty Lâm nghiệpĐ B giao trả
lại đất cho chính quyền địa phương quản lý và xem xét giao cho người dân sử
dụng theo quy định, nên diện tích đất tranh chấp không thuộc quyền quản lý, sử
dụng của Công ty. Do đó, các bị đơn đề nghị Công ty thực hiện đúng theo chỉ
đạo tại Kết luận thanh tra số: 851/KL-STNMT. Tổng diện tích đất tranh chấp là
72.866m
2
, thì có 17.224m
2
thuộc một phần thửa đất số 721, đây là diện tích bị
đơn nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông Hồng; 55.642m
2
thuộc một phần thửa
đất số 1332, là đất các bị đơn tự khai phá có xác nhận của người làm chứng,
Biên bản xác định thửa đất ngày 01/6/2017, diện tích 58.000m
2
thuộc khoảnh
09, Lô 12 – 14, biên bản được UBND xã Thiện Kỵ (nay là UBND xã T) xác
nhận là sử dụng riêng của các bị đơn.
Do vậy, các bị đơn chỉ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty về phần
diện tích 17.224m
2
thuộc một phần thửa đất số 721, do nhận chuyển nhượng và
theo giấy tờ, diện tích đất này nằm trong dự án 327; còn phần diện tích
55.642m
2
thuộc một phần thửa đất số 1332, các bị đơn tự khai phá nên không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với yêu cầu khởi kiện được
quyền sở hữu toàn bộ cây trồng trên đất tranh chấp 11.160 cây keo và Công ty
có trách nhiệm thanh toán giá trị 618.191.000 đồng để trả các bị đơn và nguyên
đơn rút yêu cầu khởi kiện về việc buộc các bị đơn bồi thường thiệt hại do tài sản
bị xâm phạm, các bị đơn không có ý kiến gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét,
giải quyết theo quy định pháp luật.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đề nghị giải quyết
theo quy định của pháp luật.
Về án phí các bị đơn là người cao tuổi nên đề nghị được miễn án phí.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L trình bày: Bà là vợ
của ông Nguyễn Nam H (chết năm 2021). Ông Nguyễn Nam Hồng chính là ông
Nguyễn Văn H đã ký hợp đồng trồng rừng theo dự án 327, theo Hợp đồng số
250/LT ngày 15/6/1995. Sau khi kết thúc hợp đồng năm 2015, Lâm trường Hữu
Lũng II và gia đình không tiếp tục ký hợp đồng nữa. Đến khoảng cuối năm
2020, ông Nguyễn Nam H đã chuyển nhượng diện tích đất trên cho vợ chồng
ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị D khoảng gần 01ha đất rừng ở thôn Làng Trang,
xã T, trên đất có khoảng 1200 đến 1300 cây keo, diện tích chuyển nhượng nằm
5
trong diện tích đất đã ký hợp đồng ngày 15/6/1995 và thuộc một phần diện tích
đất hiện nay đang tranh chấp giữa Công ty lâm nghiệp Đ B và ông Nguyễn Văn
Đ, bà Lê Thị D.
UBND tỉnh Lạng Sơn trình bày: Diện tích đất hiện nay đang tranh chấp
nằm trong diện tích mà UBND tỉnh Lạng Sơn cho Công ty Lâm nghiệp Đ B thuê
tại Quyết định số: 135/QĐ-UBND ngày 19/01/2018, để sử dụng vào mục đích
sản xuất kinh doanh lâm nghiệp. Công ty Lâm nghiệp Đ B là đơn vị trực thuộc
Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam. Theo đó Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt
Nam đã được Thủ tướng phê duyệt Phương án cổ phần hoá Công ty mẹ - Tổng
Công ty Lâm nghiệp Việt Nam, trong đó bao gồm việc quản lý sử dụng đất tại
Quyết định số: 215/QĐ-TTg ngày 03/02/2016, của Thủ tướng Chính phủ. Thực
hiện Nghị định số: 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014, của Chính phủ, UBND
tỉnh Lạng Sơn đã phê duyệt phương án sử dụng đất cho Công ty Lâm nghiệpĐ B
tại Quyết định số: 1988/QĐ-UBND ngày 27/10/2017 và cho thuê đất tại Quyết
định số: 135/QĐ-UBND ngày 19/01/2018; tại thời điểm đo đạc năm 2016, đã
xác định lại theo ranh giới đất Công ty Lâm nghiệpĐ B đang quản lý, sử dụng;
có xác nhận kết quả đo đạc đúng hiện trạng của UBND xã Thiện Kỵ (nay là xã
T).
Với nội dung vụ án nêu trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2024/DS-
ST ngày 03/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã
quyết định: Căn cứ vào Luật đất đai và các quy định của pháp luật xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.1. Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đ B được quyền quản lý,
sử dụng diện tích đất tranh chấp 72.866m
2
, địa chỉ thôn Làng Trang, xã T, huyện
H, tỉnh Lạng Sơn (theo Hợp đồng thuê đất số: 62/HĐTĐ ngày 25/10/2018). Diện
tích 72.866m
2
, gồm:
- Diện tích 55.642m
2
thuộc một phần thửa đất số 1332, tờ bản đồ số 1, bản
đồ địa chính xã Thiện Kỵ (nay là xã T) năm 2017, được xác định bởi các đỉnh
thửa nối các điểm (đỉnh thửa), thể hiện tại Trích đo kèm theo Bản án.
- Diện tích 12.210m
2
thuộc một phần thửa đất số 721, tờ bản đồ số 1, bản
đồ địa chính xã Thiện Kỵ (nay là xã T) năm 2017, được xác định bởi các đỉnh
thửa nối các điểm (đỉnh thửa), thể hiện tại Trích đo kèm theo Bản án.
- Diện tích 5.014m
2
thuộc một phần thửa đất số 721, tờ bản đồ số 1, bản
đồ địa chính xã Thiện Kỵ (nay là xã T) năm 2017, được xác định bởi các đỉnh
thửa nối các điểm (đỉnh thửa), thể hiện tại Trích đo kèm theo Bản án.
1.2. Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đ B được quyền sở hữu
toàn bộ 11.160 cây keo trên đất tranh chấp và có nghĩa vụ thanh toán giá trị cây
keo cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị D, với tổng số tiền 618.191.000 đồng
(sáu trăm mười tám triệu một trăm chín mươi mốt nghìn đồng).
2. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn
bà Lê Thị D, ông Nguyễn Văn Đ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
6
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án phí, quyền
yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Trong thời hạn luật định, bị đơn ông Nguyễn Văn Đ, có đơn kháng cáo
toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xử sửa Bản án dân sự sơ thẩm
theo hướng. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị
đơn ông Nguyễn Văn Đ không phải chịu số tiền chi phí tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Người kháng cáo vẫn giữ nguyên nội dung
kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến về việc
chấp hành pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án cụ thể như sau:
1. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại
cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố
tụng có mặt tại phiên tòa đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình
theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
2. Về việc giải quyết kháng cáo: Kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Đ,
được làm trong thời hạn luật định, nên kháng cáo là hợp lệ.
3. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn: Về nguồn gốc và quá trình quản lý sử
dụng: Lâm trường Hữu Lũng II nay là Công ty Lâm nghiệp Đ B là doanh nghiệp
nhà nước được thành lập năm 1993, năm 1996 được UBND tỉnh Lạng Sơn cấp
GCNQSDĐ. UBND tỉnh Lạng Sơn đã phê duyệt phương án sử dụng đất của
Công ty lâm nghiệp Đ B tại Quyết định số 1988/QĐ ngày 27/10/2017 và cho
thuê đất tại Quyết định số 135/QĐ ngày 19/01/2018 để sử dụng vào mục đích
sản xuất kinh doanh lâm nghiệp. Năm 1995 Lâm trường tổ chức dự án trồng
rừng gỗ lớn, bằng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước (Dự án 327), đã ký hợp
đồng trồng rừng số 250 và 251 với ông Nguyễn Văn H tại lô 5, 15a và ông
Nguyễn Văn D tại lô 9a, 12d (hiệu lực đến ngày 15/6/2015). Kết quả chồng ghép
bản đồ xác định đất tranh chấp trùng một phần diện tích đất tại lô 5, 9a, 12d tờ
bản đồ giao đất lâm nghiệp xã T. Do đó có cơ sở khẳng định diện tích đất tranh
chấp 72.866m
2
thuộc một phần thửa đất số 721 và thửa 1332 thuộc quyền quản
lý, sử dụng của Công ty Đ B, đã được UBND tỉnh Lạng Sơn cấp GCNQSDĐ
năm 1996, nay chuyển sang hình thức cho thuê theo Quyết định số 135/QĐ-
UBND ngày 19/01/2018 của UBND tỉnh Lạng Sơn. Năm 2015 hết hạn hợp đồng
trồng rừng, Công ty Đ B đã làm việc với các hộ dân yêu cầu ký hợp đồng,
nhưng bà D, ông H không thực hiện. Bà D, ông Đ trồng cây trên đất đã được
Nhà nước giao cho Công ty. Mặt khác, năm 2018 bà Duyên, ông Hồng có đơn
đề nghị UBND huyện H được tiếp tục sử dụng diện tích đất rừng 327 (đất tranh
chấp hiện nay), UBND huyện H đã có Công văn trả lời số 2023/UB ngày
17/10/2018, trong đó khẳng định phần diện tích các hộ đề nghị nằm trong diện
tích 54,9ha Công ty Đ B giữ lại sử dụng theo phương án và quyết định cho thuê
của UBND tỉnh Lạng Sơn, nên không có cơ sở xem xét bố trí quỹ đất cho các
hộ. Hơn nữa, bị đơn ông Đ kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu

7
chứng minh việc khai phá và quản lý, sử dụng hợp pháp đất tranh chấp nên
không có căn cứ chấp nhận.
Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện về việc
buộc các bị đơn bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm và tại mục [12]
phần nhận định về chi phí tố tụng và mục 2. phần quyết định của bản án, Tòa án
cấp sơ thẩm không tuyên đình chỉ đối với diện tích 58m
2
và không tuyên quyền
khởi kiện lại cho đương sự đối với những yêu cầu đã rút là thiếu sót.
Từ những đánh giá trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân; xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn
Văn Đ, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 03/7/2024 của Tòa án
nhân dân huyện HữuLũng, tỉnh Lạng Sơn.
Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận nên
bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án
phí phúc thẩm. Tuy nhiên, bị đơn thuộc trường hợp được miễn nên không phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:[
[1] Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, một số
đương sự vắng mặt, nhưng nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan có mặt và Kiểm sát viên đều đề nghị xét xử vắng mặt họ. Căn cứ Điều 296
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án
theo thủ tục chung.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Đ. Hội đồng xét xử phúc
thẩm thấy rằng: Đất tranh chấp có tổng diện tích 72.924m
2
, trong đó: diện tích
17.224m
2
thuộc một phần thửa đất số 721; diện tích 55.642m
2
thuộc một phần
thửa 1332; diện tích 58m
2
thuộc một phần thửa 1331 cùng tờ bản đồ địa chính số
01, mục đích sử dụng: Đất rừng sản xuất, tại thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Lạng
Sơn. Trên đất có 11.160 cây keo đường kính gốc các loại theo Biên bản xem xét
thẩm định tại chỗ ngày 29/02/2024 (BL số 173). Sau khi có kết quả xem xét
thẩm định tại chỗ và định giá tài sản trên đất, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi
kiện, không đề nghị xem xét giải quyết diện tích 58m
2
thuộc một phần thửa
1331 và xin rút yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm đối với bị
đơn.
[3] Xét về nguồn gốc và quá trình quản lý sử dụng: Lâm trường Hữu
Lũng II nay là Công ty Lâm nghiệp Đ B là doanh nghiệp nhà nước được thành
lập năm 1993, năm 1996 được UBND tỉnh Lạng Sơn cấp GCNQSDĐ. Sau khi
UBND tỉnh Lạng Sơn triển khai đo đạc đất lâm trường theo Quyết định số:
2152/QĐ-UBND ngày 25/11/2015 của UBND tỉnh Lạng Sơn, về lập hồ sơ ranh
giới sử dụng đất, cắm mốc ranh giới, đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính. UBND
8
tỉnh đã có Quyết định số: 135/QĐ-UBND ngày 19/01/2018, cho Công ty thuê
đất để sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh lâm nghiệp. Thực hiện Quyết
định số: 135/QĐ-UBND, Công ty và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng
Sơn đã ký hợp đồng thuê đất số: 62/HĐTĐ ngày 25/10/2018, trong đó có diện
tích đất tranh chấp. Như vậy, có căn cứ khẳng định diện tích đất tranh chấp
thuộc quyền quản lý, sử dụng của Công ty Lâm nghiệp Đ B.
[4] Thực hiện Nghị định số 118/CP ngày 17/12/2014 của Chính Phủ,
UBND tỉnh Lạng Sơn đã phê duyệt phương án sử dụng đất của Công ty lâm
nghiệpĐ B tại Quyết định số 1988/QĐ ngày 27/10/2017 và cho thuê đất tại
Quyết định số 135/QĐ ngày 19/01/2018 để sử dụng vào mục đích sản xuất kinh
doanh lâm nghiệp. Diện tích đất cho thuê tại xã Thiện K (Thiện T) là
7.173.615m
2
, trong đó có thửa 721 diện tích 191.924,4m
2
và thửa 1332 diện tích
238.529,5m
2
tờ bản đồ số 01. Năm 1995 Lâm trường tổ chức dự án trồng rừng
gỗ lớn, bằng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước (Dự án 327), đã ký hợp đồng
trồng rừng số 250 và 251 với ông Nguyễn Văn H (Nguyễn Nam H) tại lô 5 và lô
15a và ông Nguyễn Văn D tại lô 9a và lô 12d, hiệu lực đến ngày 15/6/2015. (BL
số 22; 23). Theo sổ thống kê diện tích rừng thuộc Lâm trường Hữu Lũng II quản
lý xã Thiện K có lô 5 diện tích 1,3ha, lô 9a diện tích 2,7ha, lô 12d diện tích
3,1ha thuộc khoảnh 9. Kết quả chồng ghép bản đồ xác định đất tranh chấp trùng
một phần diện tích đất tại lô 5, 9a, 12d tờ bản đồ giao đất lâm nghiệp xã Thiện
Kỵ. Do đó có cơ sở xác định diện tích đất tranh chấp 72.866m
2
thuộc một phần
thửa đất số 721 và thửa 1332 thuộc quyền quản lý, sử dụng của Công tyĐ B, đã
được UBND tỉnh Lạng Sơn cấp GCNQSDĐ năm 1996 nay chuyển sang hình
thức cho thuê theo Quyết định số 135/QĐ-UBND ngày 19/01/2018 của UBND
tỉnh Lạng Sơn.
[5] Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị D ban đầu cho rằng nguồn gốc
đất do khai phá từ năm 1991 canh tác sử dụng đến nay, việc Công ty ký hợp
đồng trồng rừng bị đơn không biết, sau khi có kết quả xem xét thẩm định và tại
phiên tòa phúc thẩm hôm nay, thì bị đơn cho rằng phần diện tích thuộc thửa 721
là do nhận chuyển nhượng với vợ chồng ông Nguyễn Nam H, bà Trần Thị L
khoảng cuối năm 2020, còn phần diện tích đất thuộc thửa 1332 do gia đình bị
đơn khai phá. Xét thấy, năm 2015 hết hạn hợp đồng trồng rừng, theo Phiếu thu
ngày 20/12/2017; Công tyĐ B đã làm việc với các hộ dân yêu cầu ký hợp đồng,
được thể hiện tại Biên bản làm việc ngày 15/4/2018 với ông Nguyễn Văn H
(Nguyễn Nam H); các biên bản làm việc với bà Lê Thị D về tuyên truyền, vận
động ký hợp đồng với Công ty, hộ bà D ông Đ cho rằng là người đang trực tiếp
canh tác sử dụng đất tranh chấp nhưng bà D, ông Đ không thực hiện đăng ký
hoặc ký hợp đồng để xác lập quyền quản lý, sử dụng của bị đơn mà vẫn tiếp tục
trồng cây trên đất của Công ty. (BL số 25 đến 31). Trên đất có các cây keo bà D,
ông Đ trồng sau khi nhận chuyển nhượng với ông H, trong khi thửa đất đã được
Nhà nước giao cho Công ty Đ B từ năm 1996.
[6] Mặt khác, năm 2018 bà D, ông H có đơn đề nghị UBND huyện H được
tiếp tục sử dụng diện tích đất tranh chấp hiện nay, UBND huyện đã có Công văn
9
trả lời số 2023/UB ngày 17/10/2018 (bút lục 76-78), khẳng định phần diện tích
các hộ đề nghị nằm trong diện tích 54,9ha Công ty Đ B giữ lại sử dụng, theo
phương án và quyết định cho thuê của UBND tỉnh Lạng Sơn, nên không có cơ
sở xem xét bố trí quỹ đất cho các hộ. Hơn nữa, ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị D
cũng thừa nhận diện tích 55. 642 m
2
đất thuộc một phần thửa số 1332 là do ông
Nguyễn Văn D ký hợp đồng với Công ty năm 1995. Như vậy là mâu thuẫn với
chính lời khai của các bị đơn, cho rằng đất do khai phá từ năm 1991-1992. Đồng
thời ông Nguyễn Văn Đ kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng
minh việc khai phá và quản lý, sử dụng hợp pháp đất tranh chấp, quá trình quản
lý sử dụng không đi kê khai, đăng ký với cơ quan có thẩm quyền để cấp
GCNQSDĐ, nên không có căn cứ chấp nhận.
[7] Đối với tài sản (cây) trên đất: Để giảm thiệt hại cho bị đơn về chi phí
di dời cây trồng trên đất tranh chấp. Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ
và biên bản định giá ngày 29/02/2024. Công tyĐ B đã tự nguyện thanh toán giá
trị cây trên đất cho bị đơn; Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên: Công ty TNHH Một
thành viên Lâm nghiệp Đ B được quyền sở hữu toàn bộ 11.160 cây keo trên đất
tranh chấp và có nghĩa vụ thanh toán giá trị cây keo cho ông Nguyễn Văn Đ, bà
Lê Thị D, với tổng số tiền 618.191.000 đồng (sáu trăm mười tám triệu một trăm
chín mươi mốt nghìn đồng). Như vậy là đảm bảo được quyền lợi, tránh thiệt hại
cho bị đơn. Mặt khác, tại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như các lời khai
nhận tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị D, đều nhất trí để Công
tyĐ B được quyền sở hữu toàn bộ 11.160 cây keo trên đất tranh chấp và có
nghĩa vụ thanh toán giá trị cây keo, theo giá của Hội đồng định giá ngày
29/02/2024 không có ý kiến gì khác (BL 365, 366). Do đó bị đơn ông Nguyễn
Văn Đ kháng cáo yêu cầu được quyền quản lý, sử dụng đất tranh chấp, không
nhất trí để Công ty Đ B được sở hữu cây trên đất và thanh toán giá trị cây cho bị
đơn là không có căn cứ.
[8] Xét kháng cáo về việc không phải chịu chi phí tố tụng của ông
Nguyễn Văn Đ. Hội đồng xét xử thấy rằng; Tòa án cấp sơ thẩm đã có Hợp đồng
với Công ty cổ phần trắc địa bản đồ và Môi trường Sông Tô chi nhánh Lạng Sơn
(BL số 187 đến 190, 191), Danh sách chi tiền xem xét thẩm định tại chỗ và định
giá tài sản (BL 185, 186). Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, buộc bị đơn phải chịu chi phí tố tụng là có căn cứ. Từ những phân
tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo
của ông Nguyễn Văn Đ, vì không có căn cứ.
[9] Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng; sau khi có kết quả
xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29/02/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm. Nguyên
đơn đã rút yêu cầu khởi kiện về việc buộc các bị đơn bồi thường thiệt hại do tài
sản bị xâm phạm. Nhưng tại mục [10], [11] phần nhận định của bản án và tại
mục [12] phần nhận định về chi phí tố tụng đã nhận định..."còn lại 58m
2
đất
nguyên đơn không yêu cầu nên nguyên đơn phải chịu chi phí tương đương số
tiền 40.000 đồng, bằng 0,1% số tiền chi phí...". Tại mục 2. phần quyết định của
Bản án...Tuyên đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc
10
bị đơn bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Nhưng không tuyên đình chỉ
đối với diện tích 58m
2
đất...; nhưng tại mục 3. phần quyết định của bản án, Tòa
án cấp sơ thẩm tuyên ..."Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đ B phải
chịu 40.000 đồng (bốn mươi nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và
định giá tài sản...Đồng thời, không tuyên quyền khởi kiện lại cho đương sự đối
với những yêu cầu đã rút là thiếu sót. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần sửa Bản
án sơ thẩm về phần này. Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm,
tránh lặp lại.
[10] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phù hợp với nhận định của
Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[11] Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn Đ là người cao tuổi đã có
đơn xin miễn án phí, nên được Hội đồng xét xử miễn án phí theo quy định tại
điểm đ, khoản 1, Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[12] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I. Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; khoản 2 Điều 309; khoản 2 Điều 148 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ, khoản 1, Điều 12 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ. Sửa
một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2024/DS-ST ngày 03/7/2024 của Tòa án
nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Cụ thể như sau:
Căn cứ vào Điều 12; Điều 56; Điều 59; Điều 166; Điều 170; Điều 175;
khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013. Căn cứ vào Điều 160; Điều 161;
Điều 166; Điều 221; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Căn cứ
vào khoản 6, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều
147; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; Điều 227; Điều 228; Điều 244;
Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.1. Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đ B được quyền quản lý,
sử dụng diện tích đất tranh chấp 72.866m
2
, địa chỉ thôn L, xã T, huyện H, tỉnh
Lạng Sơn (theo Hợp đồng thuê đất số: 62/HĐTĐ ngày 25/10/2018). Gồm: Diện
tích 55.642m
2
(thửa tạm 1332.1)
thuộc một phần thửa đất số 1332, tờ bản đồ số
1, bản đồ địa chính xã Thiện K (nay là xã T) năm 2017, được xác định bởi các
đỉnh thửa: A27, A28, A29, A30, A31, A32, A33, A34, A35, A36, A37, A38,
A39, A40, A41, A42, A43, A44, A45, A46, A47, A48, A49, A50 A51, A52, A53,
A54, A55, A56, A57, thể hiện tại Trích đo kèm theo Bản án.

11
- Diện tích 12.210m
2
(thửa tạm 721.1; 721.2) thuộc một phần thửa đất số
721, tờ bản đồ số 1, bản đồ địa chính xã Thiện K (nay là xã Thiện T) năm 2017,
được xác định bởi các đỉnh thửa: A3, A4, A5, A6, A7, A8, A9, A10, A11, A12,
A13, A14, A15, thể hiện tại Trích đo kèm theo Bản án.
- Diện tích 5.014m
2
(thửa tạm 721.3) thuộc một phần thửa đất số 721, tờ
bản đồ số 1, bản đồ địa chính xã Thiện K (nay là xã Thiện T) năm 2017, được
xác định bởi các đỉnh thửa nối các điểm (đỉnh thửa): A16, A17, A18, A19, A20,
A21, A22, A23, A24, A25, A26, thể hiện tại Trích đo kèm theo Bản án.
1.2. Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đ B được quyền sở hữu
toàn bộ 11.160 cây keo trên đất tranh chấp và có nghĩa vụ thanh toán giá trị cây
keo cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị D, với tổng số tiền 618.191.000 đồng
(sáu trăm mười tám triệu một trăm chín mươi mốt nghìn đồng).
2. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn
bà Lê Thị D, ông Nguyễn Văn Đ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
Đình chỉ giải quyết đối với diện tích 58m
2
đất (thửa tạm 1331.1) thuộc một phần
thửa đất số 1331, tờ bản đồ số 1, bản đồ địa chính xã Thiện K (nay là xã Thiện
T) năm 2017. Đương sự có quyền yêu cầu khởi kiện lại theo quy định của pháp
luật.
3. Về chi phí tố tụng:
3.1. Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đ B phải chịu 40.000
đồng (bốn mươi nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài
sản, xác nhận Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đ B đã nộp đủ sơ tiền
trên.
3.2. Ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị D phải chịu 40.440.000 đồng (bốn
mươi triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và
định giá tài sản. Buộc ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị D phải hoàn trả số tiền trên
cho Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đ B.
4. Về nghĩa vụ chậm trả tiền: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
5. Về án phí sơ thẩm:
5.1. Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đ B phải chịu
28.727.000 đồng (hai mươi tám triệu bảy trăm hai mươi bảy nghìn đồng), án phí
dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước. Số tiền án phí trên được trừ vào số
tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.356.000 đồng theo biên lai số 0004583 ngày
17/11/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi
khấu trừ Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đ B còn phải nộp tiếp
27.371.000 đồng (hai mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
5.2. Ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị D, được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
12
6. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn Đ được miễn toàn bộ án phí
phúc thẩm.
7. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
CÁC THẨM PHÁN THÀNH VIÊN THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lộc Sơn Thái Lương Thị Nguyệt Cao Đức Chiến
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- TAND h Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn;
- Chi cục THADS h Hữu Lũng, tỉnh Lạng
Sơn;
- Những người tham gia tố tụng;
- HCTP; P. KTNV&THA;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Cao Đức Chiến
13
14
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 10/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 10/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Bản án số 152/2025/DS-PT ngày 10/03/2025 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất
Ban hành: 10/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 09/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 07/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 06/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm