Bản án số 438/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 438/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 438/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 438/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 438/2026/DS-PT Bản án số 438/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 438/2026/DS-PT Bản án số 438/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
Bản án số: 438/2026/DS-PT
Ngày: 15 - 9 - 2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hà
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
Ông Lý Thơ Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Việt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà
Trần Thị Xuân Linh Byă - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 189/2026/TLPT – DS
ngày 15 tháng 7 năm 2026, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2026/DS - ST ngày 23/4/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 396/2026/QĐ-PT ngày
06 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn Hoài S, sinh năm 1993; (vắng mặt)
Địa chỉ: A Q, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Công ty L.
Người đại diện theo pháp luật: Luật Sư Văn H, chức vụ: Giám đốc. (vắng
mặt)
Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Minh H1, sinh năm
1991; (có mặt)
Địa chỉ: D.01, nhà ở Xã H, đường T, phường T, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Viết T, sinh năm 1992; (vắng mặt)
Địa chỉ: 1 Y, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lăng Minh C, sinh năm 2001 và ông
Nguyễn Minh P, sinh năm 2001; (ông C vắng mặt, ông P có mặt)
Địa chỉ: A L, phường T, tỉnh Đắk Lắk.
2
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Viết T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và người
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Do quen biết và là bạn bè với nhau, nên từ tháng 05/2025 đến tháng
7/2025, ông Nguyễn Việt T1 đã vay mượn của ông Nguyễn Tấn Hoài S 04 lần
với tổng số tiền 6.200.000.000 đồng. Ông Nguyễn Tấn Hoài S stk 7396777777
của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 và stk 7929256789 Ngân hàng Thương
mại Cổ phần K1, chủ tài khoản ông Nguyễn Tấn Hoài S. Đã chuyển tiền bằng
hình thức chuyển khoản qua số tài khoản: 9211456789 của Ngân hàng T2 chủ
tài khoản là ông Nguyễn Việt T1. Cụ thể:
Ngày 12/05/2025, ông Nguyễn Việt T1 đã hỏi vay ông Nguyễn Tấn H2
Sang số tiền 2.500.000.000 đồng để lo công việc gia đình và kinh doanh nên ông
Nguyễn Tấn Hoài S đã chuyển khoản qua số tài khoản 9211456789 của Ngân
hàng T2 đứng tên chủ tài khoản là ông Nguyễn Việt T1 và ông T1 hẹn bằng
miệng 03 ngày sẽ hoàn trả lại cho ông S toàn bộ số tiền trên.
Đến ngày 07/07/2025, ông Nguyễn Việt T1 tiếp tục vay của ông Nguyễn
Tấn H2 S số tiền 1.000.000.000 đồng để lo công việc gia đình, ông Nguyễn Tấn
Hoài S đã chuyển khoản qua số tài khoản: 9211456789 của Ngân hàng T2 đứng
tên chủ tài khoản là ông Nguyễn Việt T1 và ông T1 hẹn bằng miệng 03 ngày sẽ
hoàn trả lại cho ông Nguyễn Tấn Hoài S toàn bộ số tiền vay nêu trên.
Ngày 23/07/2025, ông Nguyễn Việt T1 tiếp tục vay của ông Nguyễn Tấn
H2 S số tiền 1.700.000.000 đồng để lo công việc gia đình, ông Nguyễn Tấn
Hoài S đã chuyển khoản qua số tài khoản: 9211456789 của Ngân hàng T2 đứng
tên chủ tài khoản là ông Nguyễn Việt T1 và ông T1 hẹn bằng miệng 03 ngày sẽ
hoàn trả lại cho ông Nguyễn Tấn Hoài S toàn bộ số tiền trên. Đến hẹn ông T1 có
trả lại cho ông Nguyễn Tấn H2 Sang số tiền 700.000.000 đồng và ông T1 hẹn 01
tháng sau sẽ trả đầy đủ toàn bộ số tiền đã vay mượn của ông Nguyễn Tấn Hoài
S.
Ngày 30/07/2025, ông Nguyễn Việt T1 tiếp tục vay của ông Nguyễn Tấn
H2 S số tiền 1.000.000.000 đồng để lo công việc gia đình, ông Nguyễn Tấn
Hoài S đã chuyển khoản qua số tài khoản: 9211456789 của Ngân hàng T2 đứng
tên chủ tài khoản là ông Nguyễn Việt T1 và ông T1 hẹn bằng miệng 01 tháng sẽ
hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã vay nêu trên cho ông Nguyễn Tấn Hoài S.
Nhưng đến hẹn ông Nguyễn Tấn Hoài S đã nhiều lần yêu cầu ông Nguyễn
Việt T1 trả nợ cho ông Nguyễn Tấn Hoài S như đã cam kết. Nhưng ông T1 cứ
chây ì, hứa hẹn mãi không chịu trả nợ cho ông Nguyễn Tấn Hoài S.
3
Vì vậy để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, ông Nguyễn Tấn
Hoài S đề nghị quý Toà buộc ông Nguyễn Việt T1 phải có nghĩa vụ trả cho ông
Nguyễn Tấn H2 S tổng số tiền gốc là 5.500.000.000 đồng và không yêu cầu tính
lãi suất.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và người đại diện theo ủy
quyền của bị đơn trình bày:
Trên cơ sở quen biết làm ăn với nhau từ tháng 05/2025 đến tháng 7/2025,
ông Nguyễn Việt T1 đã vay mượn của ông Nguyễn Tấn Hoài S 04 lần với tổng
số tiền 6.200.000.000 đồng, việc vay mượn tiền trên cơ sở thỏa thuận và ông
Nguyễn Tấn Hoài S stk 7396777777 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 và
stk 7929256789 Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1, chủ tài khoản ông Nguyễn
Tấn Hoài S đã chuyển tiền bằng hình thức chuyển khoản qua số tài khoản
9211456789 của Ngân hàng T2 chủ tài khoản là ông Nguyễn Việt T1. Đến hẹn
ông T1 có trả lại cho ông Nguyễn Tấn H2 Sang số tiền 700.000.000 đồng.
Ông T1 thừa nhận có vay của ông S số tiền 5.500.000.000 đồng. Tuy nhiên,
từ ngày 25/7/2025 đến ngày 05/9/2025, ông T1 đã thanh toán cho ông S tổng số
tiền là 6.608.000.000 đồng bao gồm cả tiền gốc và lãi. Việc vay mượn tiền giữa
hai bên thông qua hình thức chuyển khoản, khi vay không thế chấp tài sản giấy
tờ gì, thỏa thuận lãi suất từ 1000/triệu/ngày đến 2.500 đồng/triệu/ngày tùy từng
thời điểm và S là người tính lãi. Đối với số tiền ông S khởi kiện đòi ông T1 là
5.500.000.000 đồng ông T1 đã trả toàn bộ tiền nợ gốc và lãi cho ông S từ tháng
7/2025 đến tháng 9/2025. Nay ông S khởi kiện đòi ông T1 trả số tiền trên là
không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với các tài liệu, chứng cứ phía nguyên đơn cung cấp thể hiện chốt nợ
qua tin nhắn điện tử “tổng 25ty35”, phía bị đơn xác nhận đây là tin nhắn điện tử
mà ông S ông T1 trao đổi qua Facebook, chủ Facebook của bị đơn là “Việt Tiến
N”, chủ Facebook của nguyên đơn Nguyễn Tấn Hoài S là “Sang N”. Nội dung
tin nhắn không liên quan đến số tiền 5.500.000.000 đồng mà ông S cho ông T1
vay và số tiền 6.608.000.000 đồng ông T1 đã trả. Đối với những khoản tiền khác
mà ông S cho rằng ông T1 còn nợ thì đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết bằng
vụ án khác theo quy định của pháp luật khi có yêu cầu.
Tại bản án sơ thẩm số 61/2026/DS - ST Ngày 23/4/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 1 - Đắk Lắk đã quyết định:
- Căn cứ Điều 4, Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 147, Điều 227, Điều 228,
Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
4
- Căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật dân sự
2015.
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn Hoài S.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Việt T1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông
Nguyễn Tấn Hoài S số tiền vay gốc còn nợ là 5.500.000.000 đồng (năm tỷ năm
trăm triệu đồng).
Về lãi suất nguyên đơn ông Nguyễn Tấn Hoài S không yêu cầu nên Hội
đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về lãi suất thi hành án, án phí và
quyền kháng cáo của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Viết T kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo
hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã tuân thủ đầy đủ và thực
hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của
bị đơn ông Nguyễn Viết T, căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng
Dân sự, hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 61/2026/DS - ST Ngày 23/4/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk để giải quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu,
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng
xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Viết T làm trong
hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo
thủ tục phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Viết T, Hội đồng xét xử thấy
rằng:
[2.1]. Về số tiền vay:
5
Quá trình giải quyết vụ án, cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận từ tháng
5/2025 đến tháng 7/2025, ông T có vay của ông S số tiền 6.200.000.000 đồng và
ông T đã đưa lại cho ông S số tiền 700.000.000 đồng, ông T còn nợ lại ông S số
tiền là 5.500.000.000 đồng.
Từ tháng 7/2025 đến tháng 9/2025, ông T cho chuyển khoản cho ông S
nhiều lần với tổng số tiền là 6.608.000.000 đồng. Ông S cho rằng số tiền
6.608.000.000 đồng là tiền ông T chuyển khoản trả khoản vay khác, không phải
khoản vay 5.500.000.000 đồng còn ông T cho rằng đây là số tiền ông T chuyển
khoản trả tiền gốc và lãi cho khoản vay 5.500.000.000 đồng từ tháng 5/2025 đến
tháng 7/2025.
[2.2]. Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Viết T thì thấy:
Nguyên đơn ông S khởi kiện yêu cầu bị đơn ông T phải trả số tiền
5.500.000.000 đồng đã vay từ tháng 5/2025 đến tháng 7/2025. Đối với số tiền nợ
khác, ông S cung cấp tin nhắn giữa nguyên đơn và bị đơn cụ thể: Lúc 15 giờ 07
phút ngày 01 tháng 9 năm 2025, ông S nhắn: “1ty 28/8; 2ty5 31/8; 2ty 6/8 -4/9
20ty; tổng 25ty5, T coi sắp xếp nha T” và xác định ngoài số tiền nợ là
5.500.000.000 đồng, ông T còn nợ ông S số tiền 25.500.000.000 đồng nhưng
ông S không khởi kiện trong vụ án này mà cho rằng ông T có dấu hiệu phạm tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên sẽ giải quyết bằng vụ án hình sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông T cho rằng số tiền
6.608.000.000 đồng mà ông T chuyển khoản từ tháng 7/2025 tới tháng 9/2025 là
trả cho khoản vay 5.500.000.000 đồng đã vay từ tháng 5/2025 đến tháng 7/2025
cả gốc và lãi. Đối với những khoản nợ khác không liên quan đến yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn trong vụ án này thì đề nghị Tòa án giải quyết bằng vụ án
khác nếu có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, ông S cho ông T vay số tiền 5.500.000.000 đồng từ tháng 5/2025
đến tháng 7/2025 và ông T trả cho ông S số tiền 6.608.000.000 đồng cả gốc và
lãi từ tháng 7/2025 đến tháng 9/2025 là ngay sau khi vay tiền và phù hợp với
thời gian vay tiền cũng như mục đích vay tiền mà hai bên thừa nhận là để làm
thủ tục đáo hạn ngân hàng.
Mặt khác, trong phạm vi giải quyết vụ án này, nguyên đơn chỉ khởi kiện
đòi số tiền 5.500.000.000 đồng cho vay từ tháng 5/2025 đến tháng 7/2025, đối
với số tiền còn lại, nguyên đơn cho rằng bị đơn có dấu hiệu phạm tội “Lam dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nên sẽ trình báo đến Cơ quan có thẩm quyền để xử
lý hình sự và không khởi kiện vụ án dân sự. Như vậy, việc nguyên đơn cho rằng
bị đơn có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với số tiền vay khác thì không
thể xác định số tiền 6.608.000.000 đồng là tiền bị đơn trả cho khoản vay đó, tại
phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng không cung
6
cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh số tiền 6.608.000.000 đồng trả cho
khoản vay khác là khoản nào.
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, ngoài tin nhắn vay mượn tiền,
nguyên đơn cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ xác định cụ thể số tiền
nợ trước đó ngoài số tiền 5.500.000.000 đồng vay từ tháng 5/2025 đến tháng
7/2025 cụ thể là bao nhiêu tiền, tiền gốc bao nhiêu, tiễn lãi bao nhiêu và sau khi
bị đơn trả 6.608.000.000 đồng thì còn nợ lại bao nhiêu nên không có căn cứ xác
định số tiền 6.608.000.000 đồng là trả cho khoản vay khác.
Do đó, có đầy đủ căn cứ xác định số tiền 6.608.000.000 đồng mà ông T trả
cho ông S từ tháng 7/2025 đến tháng 9/2025 là trả tiền gốc và lãi cho khoản vay
5.500.000.000 đồng vay từ tháng 5/2025 đến tháng 7/2025. Mặc dù tổng số tiền
ông T trả cho ông S cũng vượt quá số tiền gốc mà ông S cho vay, nguyên đơn
không yêu cầu tính lãi nhưng ông T cũng không có ý kiến về việc trả vượt quá
số tiền trên nên không xem xét đối với phần lãi và số tiền trả vượt quá là phù
hợp.
Đối với số tiền nợ khác ngoài khoản vay 5.500.000.000 đồng, nguyên đơn
được quyền yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, xét thấy cần chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị
đơn ông Nguyễn Viết T, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu
vực 1 – Đắk Lắk.
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Viết T không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự:
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Viết T;
Sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2026/DS - ST Ngày 23/4/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk.
[2]. Về điều luật áp dụng:
- Căn cứ Điều 4, Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 147, Điều 227, Điều 228,
Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật Dân sự
2015;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn
7
Hoài S về việc: Buộc bị đơn ông Nguyễn Việt T1 có trách nhiệm trả cho nguyên
đơn ông Nguyễn Tấn Hoài S số tiền vay gốc còn nợ là 5.500.000.000 đồng (năm
tỷ năm trăm triệu đồng).
[3] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn Hoài S phải chịu
113.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí
56.750.000 đồng (do ông Nguyễn Phú Gia K nộp thay) đã nộp tại Thi hành án
dân sự tỉnh Đ ngày 28/10/2025 theo biên lai thu số 0003500, ông S còn phải nộp
số tiền 56.750.000 đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Viết T không phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa PT TANDTC tại ĐN;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1 – Đắk Lắk;
- THDS tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Quốc Hà
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 438/2026/DS-PT Bản án số 438/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 438/2026/DS-PT Bản án số 438/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất