Bản án số 800/2026/DSPT ngày 15/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 800/2026/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 800/2026/DSPT ngày 15/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 800/2026/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo. Sửa án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 800/2026/DSPT Bản án số 800/2026/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 800/2026/DSPT Bản án số 800/2026/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 800/2026/DS-PT
Ngày: 15-9- 2026
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay
tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng.
Các Thẩm phán: - Ông Lê Thành Tôn;
- Ông Nguyễn Chí Dững.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Vân- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Võ Trung Hiếu- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 294/2026/TLPT-DS ngày 29/4/2026 về
việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2026/DS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 5- Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1004/2026/QĐ-PT ngày
18 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ C, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh An Giang.
Đại diện ủy quyền: Trần Văn L, sinh năm 1987 (có mặt).
Địa chỉ: ấp M, xã M, tỉnh Đồng Tháp
- Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1971 (có mặt);
2. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1971 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ A ấp B, xã A, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T, bà L1: Ông Lê Hoàng
Â- Luật sư Văn phòng L2 (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức A, sinh năm
1993 (xin vắng mặt)
2
Địa chỉ: Tổ A ấp B, xã A, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm,
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ C có đại diện theo ủy quyền anh Trần Văn
L trình bày:
Bà C và ông T là chị em ruột nên vào năm 2007 vợ chồng ông T và bà L1
có vay mượn của bà C số tiền 98.000.000 đồng để cất nhà, có trả vốn lãi đến năm
2014 thì xin ngưng trả lãi và có vay mượn vàng nhiều lần. Đến ngày 01/01/2017,
ông T và bà L1 làm biên nhận với số nợ còn lại là 70.000.000 đồng và 23 chỉ
vàng 24Kr, hứa mỗi năm trả 10.000.000 đồng cho hết số tiền 70.000.000 đồng và
sau đó trả một lần 23 chỉ vàng 24Kr. Trước đây bà C có khởi kiện yêu cầu ông T
và bà L1 liên đới trả cho bà C số tiền 20.000.000 đồng và 23 chỉ vàng 24Kr. Tuy
nhiên vào năm 2018 ông T và bà L1 trả 10.000.000 đồng, năm 2019 trả 8.000.000
đồng và năm 2020 trả 52.000.000 đồng.
Do đó có thay đổi yêu cầu khởi kiện là yêu cầu ông T và bà L1 liên đới trả
cho bà C 23 chỉ vàng 24Kr.
* Bị đơn ông Nguyễn Đức T trình bày:
Ông với bà L1 là vợ chồng và là em ruột của bà C. Vào năm 2007 vợ chồng
ông có vay mượn của bà C số tiền 80.000.000 đồng và đã trả xong. Vợ chồng ông
đã trả cho bà C nhiều lần như sau:
+ Trả lãi từ tháng giêng năm 2010 đến ngày 30/12/2014 AL và không có trả
vốn. Năm 2015, 2016 và 2017 thì không có trả lãi và vốn.
+ Về vốn: Ngày 30/12/2010AL trả 10.000.000 đồng, ngày 01/01/2018 trả
10.000.000 đồng, ngày 01/01/2019 trả 8.000.000 đồng và ngày 25/10/2020 trả
52.000.000 đồng. Tổng cộng vợ chồng ông và bà L1 đã trả xong 80.000.000 đồng.
Số tiền 52.000.000 đồng do Nguyễn Đức A là con ông trả.
Ông xác định giấy mượn tiền và vàng 24 Kr ngày 01/01/2017 thì ông và bà
L1 có ký tên, ghi họ tên nhưng nội dung thì ông không biết vì năm 2017 vợ chồng
ông không có vay mượn tiền và vàng của bà C.
Nay ông không đồng ý trả 23 chỉ vàng 24Kr và không yêu cầu giám định
chữ ký tên, ghi họ tên của ông tại giấy mượn tiền và vàng 24 Kr ngày 01/01/2017.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị L1 trình bày:
Bà là vợ của ông T, thống nhất với lời trình bày của ông T.
3
Bà xác định trong giấy mượn tiền và vàng 24 Kr ngày 01/01/2017 thì bà và
ông T có ký tên, ghi họ tên nhưng nội dung thì bà không biết vì năm 2017 vợ
chồng bà không có vay mượn tiền và vàng của bà C. Bà không yêu cầu giám định
chữ ký tên, ghi họ tên của bà tại giấy mượn tiền và vàng 24 Kr ngày 01/01/2017.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Đức A trình bày:
Anh là con của ông T bà L1, số tiền 52.000.000 đồng do anh trả ngày
25/10/2020. Anh không biết việc mượn tiền và vàng 24 Kr ngày 01/01/2017.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 54/2026/DS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 5- Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ:
- Các điều 463,466 của Bộ luật dân sự 2015.
- Điều 5, khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật
Tố tụng dân sự 2015.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ C.
- Buộc ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị L1 liên đới trả cho bà Nguyễn
Thị Lệ C 23 (hai mươi ba) chỉ vàng 24Kr. Thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp
luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, phần quyền kháng cáo của đương sự
theo luật định
Ngày 03 tháng 3 năm 2026, các bị đơn ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị
L1 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm
theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
* Ông T, bà L1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, ông T, bà L1 xác định tên
trong biên nhận là của ông bà nhưng ông bà không thừa nhận chữ viết, chữ ký
trong biên nhận là của ông bà.
* Đại diện ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho phía bị đơn có ý kiến cho rằng
trình bày của bà C có nhiều mâu thuẫn vì mục đích bà C cho vay là lấy lãi thế
nhưng bà lại cho anh T, chị L1 mượn 23 chỉ vàng 24kr là tài sản có giá trị lớn lại
không lấy lãi và cũng không kiện đòi từ năm 2017 đến nay, việc này là vô lý. Mặt
khác, từ năm 2014 đến năm 2017 giai đoạn này phía anh T không còn khả năng
chi trả nên phía bà C đã miễn lãi thì trong giai đoạn này bà C lại cho ông T vay
4
mượn tiếp 23 chỉ vàng 24kr là không thể xãy ra. Với phân tích trên đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T, chị L1, sửa bản án sơ thẩm,
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng, đầy
đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan đến
việc xét xử vụ án. Người tham gia tố tụng chấp hành đúng, đầy đủ quyền và nghĩa
vụ theo qui định của pháp luật.
- Về nội dung: Cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C là có
căn cứ, phía bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới chứng
minh nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân
sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ
thẩm số 54/2026/DS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 5- Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thể hiện tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các
đương sự; căn cứ kết quả tranh tụng và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại
phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Lệ C khởi kiện yêu cầu buộc ông Nguyễn
Đức T và bà Nguyễn Thị L1 liên đới trả 20.000.000đ và 23 chỉ vàng 24Kr, cấp
sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, và thụ lý
giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều
39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/3/2026, bị đơn kháng cáo bản án là trong
hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo
thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của bà C là chưa có căn cứ vững
chắc, bỡi lẽ, bà C và ông T là chị em ruột, ông T vay tiền (không có biên nhận và
cũng không thống nhất số tiền) của bà C từ năm 2007, theo ông T trình bày, số
tiền vay là 80.000.000đ, cứ mỗi 06 tháng phía ông T phải trả cho bà C 4.800.000đ
tiền lãi, thực hiện đầy đủ, liên tục đến năm 2014 (lần cuối nhận lãi vào 30/12/2014
al, số tiền 8.000.000đ, bút lục 23), từ năm 2015 đến 2018 bà C cho ông T hoãn
trả tiền (bút lục 22), đến ngày 25/10/2020 anh Nguyễn Đức A (con ông T) đã trả
xong hết số nợ của bà C là 52.000.000đ và bà C đã viết giấy cam kết (bút lục 19),
5
phần cuối của giấy cam kết còn ghi rõ nội dung “… tiền 52.000.000đ trả dứt
điểm”, nội dung này thể hiện đến thời điểm này phía ông T đã trả xong nợ cho bà
C. Đồng thời, nếu phía ông T còn nợ vàng thì tại sao từ năm 2017 đến năm 2025
( 08 năm) phía bà C chưa lần nào đòi hay khởi kiện để yêu cầu ông T trả nợ vốn,
lãi của phần vàng, việc này không hợp logic. Mặt khác, việc bà C trình bày cũng
không thống nhất, không đáng tin, tại đơn khởi kiện (bút lục 07) bà C cho rằng
ngày 01/01/2017 cho ông T vay 70.000.000đ, 23 chỉ vàng 24kr, đã trả
50.000.000đ, còn nợ 20.000.000đ và 23 chỉ vàng 24kr, đến lúc ông T xuất trình
giấy cam kết (bút lục 19) thì lại cho rằng trước đây đã trả xong nợ. Chính người
đại diện ủy quyền của bà C khai tại phiên tòa sơ thẩm rằng từ cuối năm 2014 đến
năm 2017 thì bà C đã cho ông T ngưng trả tiền thì không có lý do gì trong giai
đoạn này bà C lại tiếp tục cho ông T vay thêm 70.00.000đ và 23 chỉ vàng 24kr
khi biết ông T đã mất khả năng thanh toán.
Đối với biên nhận nợ ngày 01/01/2017 bà C làm căn cứ khởi kiện, phía ông
T, bà L1 xác định không ký, viết biên nhận này, quá trình chuẩn bị xét xử phúc
thẩm, theo yêu cầu của ông T, Tòa đã Trưng cầu Phòng K Công an tỉnh Đ giám
định chữ ký, chữ viết. Tại kết luận giám định số 1481/KL-KTHS ngày 07/9/2026
kết luận: không đủ cơ sở kết luận chữ ký trong biên nhận ngày 01/01/2017 là do
ông T, bà L1 ký ra.
Như nhận định trên, lời khai phía bà C có nhiều mâu thuẫn, chưa có căn cứ
vững chắc để kết luận phía ông T nợ bà C theo biên nhận nợ ngày 01/01/2017 mà
bà C làm căn cứ khởi kiện nên cấp sơ thẩm buộc ông T, bà L1 trả 23 chỉ 24kr là
không có cơ sở.
Từ những nhận định trên, yêu cầu khởi kiện của bà C chưa có cơ sở vững
chắc để chấp nhận nên yêu cầu kháng cáo của phía bị đơn là có căn cứ nên được
Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ý kiến của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T, bà L1 là có
căn cứ nên được chấp nhận.
Ý kiến và đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem
xét khi nghị án.
[3] Về án phí: Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn nên phía bị đơn không phải chịu án phí
sơ và phúc thẩm. Đối với yêu cầu của bà C không được chấp nhận đáng lý phải
chịu án phí theo luật định nhưng bà Nguyễn Thị Lệ C là người cao tuổi nên thuộc
đối tượng được miễn tiền án phí, tạm ứng án phí.
6
[4] Các vấn đề khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Đức T;
Sửa bản án số 54/2026/DS-ST ngày 25/02/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 5- tỉnh Đồng Tháp:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật
Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ C về việc đòi
ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị L1 liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Lệ C 23
(hai mươi ba) chỉ vàng 24Kr.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Lệ C được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
H lại cho ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị L1 300.000đ tạm ứng án phí
theo biên lai thu số 0003031 ngày 03/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng
Tháp.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng
chế thi hành theo qui định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vực 5-Đồng Tháp;
- VKSND khu vực 5- Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Ngọc Thái Dũng
7
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 800/2026/DSPT Bản án số 800/2026/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 800/2026/DSPT Bản án số 800/2026/DSPT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất