Bản án số 473/2026/DS-PT ngày 17/09/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 473/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 473/2026/DS-PT ngày 17/09/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 473/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà D tranh chấp với bà P
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 473/2026/DS-PT Bản án số 473/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 473/2026/DS-PT Bản án số 473/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 473/2026/DS-PT
Ngày: 17/9/2026
“V/v: Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai
Các Thẩm phán: Ông Võ Minh Triều
Bà Trần Thị Trâm Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông
Trịnh Văn Đương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 450/2026/TLPT-DS ngày 06 tháng 8
năm 2026, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2026/DS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 6 - An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 441/2026/QĐ-PT ngày 10
tháng 8 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 579/2026/QĐ-PT
ngày 28 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà A, sinh năm 1963; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: ấp
M, xã V, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị B, sinh năm 1999; CCCD
số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: ấp P, xã V, tỉnh An Giang (có mặt).
2. Bị đơn:
- Bà C, sinh năm 1972; CCCD số: xxxxxxxxxxxx (có mặt);
- Ông D, sinh năm 1973 (chồng bà C, vắng mặt);
Cùng địa chỉ: ấp N, xã V, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông E, sinh năm 1968; CCCD số:
xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: đường S, phường T, tỉnh An Giang (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông G, sinh năm 1970; CCCD
số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: ấp Q, xã V, tỉnh An Giang (có mặt).
- Người làm chứng: Bà H, sinh năm 1968 (vợ ông G); địa chỉ: ấp Q, xã V,
tỉnh An Giang (có mặt).
Người kháng cáo: Bị đơn bà C (có mặt) và ông D (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị B trình bày:
Do quen biết nên trong năm 2024 bà A cho bà C vay tiền nhiều lần, lãi suất
hai bên thỏa thuận là 3%/tháng. Thời gian đầu bà C có trả gốc và lãi, nhưng đến
ngày 26/11/2024 thì bà C ngừng đóng lãi và cũng không trả nợ gốc cho bà A. Tính
đến ngày 26/11/2024, bà C còn nợ lại bà A số tiền vay gốc là 2.900.000.000 đồng
(Hai tỷ chín trăm triệu đồng). Nay bà A yêu cầu vợ chồng bà C, ông D phải có trách
nhiệm liên đới trả cho bà A số tiền vay gốc còn thiếu là 2.900.000.000 đồng và lãi
suất theo quy định pháp luật từ ngày 26/11/2024 đến khi trả hết nợ cho bà A.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 20/5/2026, căn cứ các chứng cứ bổ sung (sao kê
ngân hàng, biên nhận, các khoản vay được bị đơn thừa nhận), nguyên đơn xác định
tổng số tiền đã cho bà C vay là 6.348.000.000 đồng, số tiền bà C đã chuyển trả là
4.309.496.000 đồng, còn nợ lại số tiền gốc là 2.038.504.000 đồng (Hai tỷ không
trăm ba mươi tám triệu năm trăm lẻ bốn nghìn đồng); nguyên đơn yêu cầu vợ
chồng bà C, ông D phải liên đới trả số tiền nợ gốc còn thiếu nêu trên và tiền lãi
theo quy định pháp luật, tính từ ngày 26/11/2024 (ngày cuối cùng bà C chuyển
tiền) cho đến khi trả hết nợ.
Tại đơn phản tố ngày 19/5/2025 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà C,
ông D và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông E trình bày:
Bị đơn thừa nhận có vay tiền của bà A 04 lần trong năm 2024 (ngày
12/4/2024 vay 1.500.000.000 đồng; ngày 25/5/2024 vay 500.000.000 đồng; ngày
18/7/2024 vay 700.000.000 đồng và ngày 15/8/2024 vay 200.000.000 đồng), tổng
cộng 2.900.000.000 đồng, mục đích vay để cho người khác vay lại đáo hạn ngân
hàng. Bị đơn cho rằng việc nguyên đơn tại phiên tòa dẫn chiếu thêm các giao dịch
chuyển tiền khác để nâng tổng số tiền cho vay lên 6.348.000.000 đồng là vượt quá
phạm vi khởi kiện ban đầu (khởi kiện nêu 2.900.000.000 đồng); đồng thời cho rằng
số tiền bị đơn đã chuyển trả cho nguyên đơn vượt quá số tiền nợ gốc và tiền lãi hợp
pháp, nên có đơn phản tố yêu cầu bà A phải trả lại số tiền chuyển thừa và tại phiên
tòa sơ thẩm bị đơn yêu cầu trả số tiền thừa là 255.852.000 đồng (Hai trăm năm
mươi lăm triệu tám trăm năm mươi hai nghìn đồng).
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2026/DS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2026,
Tòa án nhân dân Khu vực 6 - An Giang quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà A đối với bà C, ông D.
2
2. Buộc bà C, ông D phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà A số tiền vay gốc và
lãi là 2.645.352.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm bốn mươi lăm triệu ba trăm năm mươi
hai nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà C đòi bà A trả lại số tiền
255.852.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy
định của pháp luật.
Ngày 08 tháng 6 năm 2026, bị đơn bà C và ông D (do ông E đại diện theo ủy
quyền) có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2026/DS-ST, đề
nghị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo
hướng: không chấp nhận phần yêu cầu vượt quá phạm vi khởi kiện của nguyên
đơn; đồng thời chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Các đương sự thống nhất áp dụng lãi suất vay theo quy định tại khoản 2 Điều
468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là 10%/năm (0,83%/tháng).
Bị đơn bà C, ông D và người đại diện theo ủy quyền - ông E cho rằng: Bị đơn
thừa nhận có vay tiền của bà A 04 lần trong năm 2024 với tổng số tiền là
2.900.000.000 đồng. Đơn khởi kiện bà A chỉ yêu cầu đòi số tiền vay trong khoảng
thời gian vay này, nên ngoài 04 lần vay trong năm 2024, nếu nguyên đơn có yêu
cầu thì giải quyết bằng một vụ án khác. Đồng thời bị đơn cho rằng, đối với khoản
tiền vay ngày 18/7/2024 là 700.000.000 đồng bị đơn vừa xác nhận qua chuyển
khoản (400.000.000 đồng và 300.000.000 đồng), vừa thừa nhận vay với nguyên
đơn, nên lặp lại khoản vay hai lần, đề nghị trừ số tiền 700.000.000 đồng vào khoản
tiền gốc bị đơn phải trả.
Nguyên đơn bà A yêu cầu giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 28/2026/DS-ST
ngày 25/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - An Giang về việc buộc bị đơn trả
số tiền gốc là 2.038.504.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật (áp dụng lãi
suất 10%/năm).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ
lý phúc thẩm cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện và
chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm, căn cứ khoản 2
Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của bị
đơn. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2026/DS-ST ngày 25/5/2026 của
3
Tòa án nhân dân khu vực 6 - An Giang theo hướng buộc bị đơn phải trả cho
nguyên đơn số tiền gốc là 2.038.504.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất
10%/năm (0,83%/tháng) từ ngày 26/11/2024 đến khi xét xử sơ thẩm và tính lại án
phí bị đơn phải nộp theo quy định.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa; căn
cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các
chứng cứ; ý kiến của các đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà C, ông D được làm trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/5/2026); bị đơn nộp đơn kháng cáo
ngày 08/6/2026, đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Về việc xác định tổng số tiền cho vay: Theo đơn khởi kiện, bà A yêu cầu
bà C, ông D trả số tiền vay gốc 2.900.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp
luật. Quá trình giải quyết vụ án, trên cơ sở các bản sao kê ngân hàng, biên nhận
vay tiền và các khoản vay được chính bị đơn thừa nhận, nguyên đơn xác định lại
tổng số tiền đã cho bị đơn vay là 6.348.000.000 đồng, số tiền bị đơn đã chuyển trả
là 4.309.496.000 đồng, nên chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc còn lại là
2.038.504.000 đồng, số tiền này thấp hơn số tiền gốc 2.900.000.000 đồng nguyên
đơn yêu cầu tại đơn khởi kiện ban đầu và thấp hơn số tiền 2.248.500.000 đồng
được Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát đối chiếu, xác định qua các chứng từ
giao dịch chuyển khoản, biên nhận và thừa nhận nợ của bị đơn (số tiền vay
6.148.000.000 đồng trừ số tiền trả 3.899.500.000 đồng). Mặt khác, việc nguyên
đơn cung cấp thêm sao kê ngân hàng là thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo Điều
91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhằm làm rõ số tiền cho vay thực tế và số dư
nợ còn lại của cùng một quan hệ vay tài sản đã khởi kiện giữa bà A với vợ chồng
bà C, không phải là yêu cầu khởi kiện mới, độc lập. Căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015, do số tiền nợ gốc mà nguyên đơn yêu cầu tại phiên
tòa sơ thẩm (2.759.000.000 đồng, sau đó được Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận
2.038.504.000 đồng) đều không vượt quá số tiền 2.900.000.000 đồng nêu tại đơn
khởi kiện, việc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, xem xét và giải quyết theo yêu cầu nêu
trên của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật, không vượt quá phạm vi khởi
kiện. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn về nội dung này.
[2.2] Về yêu cầu phản tố của bị đơn: Do số dư nợ gốc được xác định như tại
mục [2.1] nêu trên là có căn cứ, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu
cầu phản tố của bị đơn đòi bà A trả lại số tiền dư 255.852.000 đồng là có căn cứ,
đúng pháp luật, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn về yêu cầu này.
[2.3] Về mức lãi suất áp dụng: Bản án sơ thẩm xác định mức lãi suất vay giữa
các bên là 20%/năm (1,66%/tháng). Xét thấy: trong hồ sơ vụ án, không có biên nhận
vay tiền nào (do nguyên đơn cung cấp) ghi nhận mức lãi suất cụ thể; theo lời trình
4
bày của bị đơn tại các biên bản hòa giải và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn
thừa nhận có vay tiền nhưng không xác nhận đã thỏa thuận cụ thể mức lãi suất
3%/tháng với nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã làm rõ mức
lãi suất 3%/tháng chỉ được thể hiện qua lời trình bày của nguyên đơn. Như vậy, đây
là trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất
và có tranh chấp về lãi suất, thuộc trường hợp điều chỉnh của khoản 2 Điều 468 Bộ
luật Dân sự năm 2015, theo đó lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới
hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tức 10%/năm
(0,83%/tháng), chứ không phải mức 20%/năm mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận thống nhất
mức lãi suất áp dụng là 10%/năm (0,83%/tháng) trên dư nợ gốc. Do đó, Hội đồng
xét xử có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa một phần Bản án
sơ thẩm về tiền lãi, tính lại số tiền lãi của số tiền nợ gốc 2.038.504.000 đồng mà bị
đơn phải trả, tính từ ngày 27/11/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm (25/5/2026), là 17
tháng 28 ngày, theo mức lãi suất 10%/năm (0,83%/tháng), như sau: (2.038.504.000
đồng x 0,83%) x 17 tháng 28 ngày = 303.424.000 đồng (Ba trăm lẻ ba triệu bốn
trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
Tổng cộng số tiền nợ gốc và lãi mà bà C, ông D phải liên đới trả cho bà A là:
2.038.504.000 đồng + 303.424.000 đồng = 2.341.928.000 đồng (Hai tỷ ba trăm
bốn mươi mốt triệu chín trăm hai mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/5/2026) cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án vẫn tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật
Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
[3] Về án phí:
[3.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch mà bà C, ông D phải
chịu được tính lại là: 72.000.000 đồng + 2% x (2.341.928.000 đồng -
2.000.000.000 đồng) = 78.839.000 đồng (Bảy mươi tám triệu tám trăm ba mươi
chín nghìn đồng).
Miễn toàn bộ tiền án phí cho bà A đối với phần yêu cầu khởi kiện không được
chấp nhận (do bà A thuộc đối tượng người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí).
[3.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận một
phần, dẫn đến sửa một phần Bản án sơ thẩm, căn cứ khoản 2 Điều 29 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 của Quốc hội, bà C, ông D không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
[4] Từ những nhận định trên, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử
phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận một phần
kháng cáo của bị đơn bà C, ông D; sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số
28/2026/DS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - An
5
Giang về mức lãi suất áp dụng, số tiền lãi và án phí dân sự sơ thẩm có liên quan;
giữ nguyên các nội dung còn lại của Bản án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015;
Áp dụng: các Điều 463, 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 91, Điều 148, khoản 1 Điều
244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12, Điều 14, khoản 2 Điều 26 và
khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà C, ông D.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2026/DS-ST ngày 25 tháng 5 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - An Giang.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà A đối với bà C, ông D.
Buộc bà C, ông D có nghĩa vụ liên đới trả cho bà A số tiền vay gốc và lãi là
2.341.928.000 đồng (Hai tỷ ba trăm bốn mươi mốt triệu chín trăm hai mươi tám
nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/5/2026) cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà C đòi bà A trả lại số tiền
255.852.000 đồng (Hai trăm năm mươi lăm triệu tám trăm năm mươi hai nghìn
đồng).
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà C, ông D phải chịu 78.839.000
đồng (Bảy mươi tám triệu tám trăm ba mươi chín nghìn đồng).
Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà A.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà C, ông D không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 600.000 đồng (Sáu
trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 00002001 và số 0002015 ngày 08/6/2026 của
Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
4. Các nội dung khác của Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2026/DS-ST ngày 25
tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - An Giang không bị kháng cáo,
kháng nghị hoặc không bị sửa theo Bản án này có hiệu lực thi hành.
6
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh An Giang;
- TAND KV6 - An Giang;
- THADS tỉnh An Giang;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Tuyết Mai
7
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 473/2026/DS-PT Bản án số 473/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 473/2026/DS-PT Bản án số 473/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất