Bản án số 43/2025/DS-PT ngày 04/03/2025 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 43/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 43/2025/DS-PT ngày 04/03/2025 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 43/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/03/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 43/2025/DS-PT
Ngày: 04/3/2025
V/v tranh chấp thừa kế quyền sử
dụng đất và yêu cầu vô hiệu
HĐCNQSD đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thành Đăng
Các Thẩm phán: Sơn Nữ Phà Ca
Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư phiên tòa: Nguyễn Vân Khanh - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 27/02/2025 và ngày 04/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 347/2024/TLPT-DS
ngày 06 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất u
cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số 112/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2014
của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐ-PT, ngày 05 tháng
02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Trần Thanh B, sinh năm 1962
2. Bà Trần Thanh N, sinh năm 1966
3. Ông Trần Thanh T, sinh năm 1968
Người đại diện theo ủy quyền của N, ông T: Bà Trần Thanh B.
4. Bà Trần Hồng T1, sinh năm 1969
5. Ông Trần Quốc K, sinh năm 1971
- Bị đơn: Ông Trần Quốc D, sinh năm 1975
2
Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trương Thị Thúy O, sinh năm 1974
2. Chị Trần Thị Thúy A, sinh năm 1998
3. Anh Trần Bá Q, sinh năm 2000
Người đại diện theo y quyền của O, chị A anh Q ông Trần
Quốc D.
Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã N, huyện T - Vĩnh Long.
4. Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1980
Địa chỉ: Số A, đường T, Tổ A, Khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh
Long.
Người kháng cáo: Nguyên đơn Trần Thanh B, Trần Thanh N,
ông Trần Thanh T, Trần Hồng T1, ông Trần Quốc K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 06/6/2023, đơn khởi kiện b sung ngày
06/11/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 08/5/2024, các tài liệu chứng cứ khác
trong hồ vụ án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa
sơ thẩm các nguyên đơn bà Trần Thanh B, bà Trần Thanh N, ông Trần Thanh T,
Trần Hồng T1 và ông Trần Quốc K cùng thống nhất trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc thửa 71, diện tích là 1695,7m
2
(theo
đo đạc thực tế thửa mới 71 - 1, diện tích 1147,9 m
2
; thửa 71 - 2, diện tích 100,4
m
2
; thửa 71 - 3, diện tích 94,9 m
2
; thửa 71 - 4, diện tích 52.6 m
2
và thửa 71 - 5,
diện tích 250,9 m
2
. Tổng diện tích đo đạc thực tế 1646,7 m
2
), tờ bản đồ số 48 và
thửa 34, diện tích 806,2 m
2
(theo đo đạc thực tế thửa mới 34 - 1 diện tích 727,1
m
2
và thửa 34 - 2 diện tích 117,8 m
2
. Tổng diện tích đo đạc thực tế là 844.9 m
2
),
tờ bản đồ số 48 là của cha cụ Trần Bá T2 (chết 2019) và mẹ cụ Dư Thị B1 (chết
2020) để lại cho các con gồm:
1. Bà Trần Thanh B, sinh năm 1962
2. Bà Trần Thanh N, sinh năm 1966
3. Ông Trần Thanh T, sinh năm 1968
4. Bà Trần Hồng T1, sinh năm 1969
5. Ông Trần Quốc K, sinh năm 1971
6. Ông Trần Quốc D, sinh năm 1975
Ngoài ra cụ Trần Bá T2, cụ Dư Thị B1 không có con riêng hay con nuôi.
Trước khi chết cụ T2 viết “Tờ di chúc” lập ngày 26/11/2008 được Ủy
ban nhân dân N, huyện T chứng thực ngày 10/12/2008 chữ của cụ T2,
3
B, N, T1, ông T, ông K ông D, theo di chúc thì cụ T2 cụ B1 chia
cho các con như sau:
1. Trần Thanh B được hưởng 01 nền nhà, B đã nhận đất xây
dựng nhà xong;
2. Trần Thanh N được hưởng 01 nền nhà, N đã nhận đất xây
dựng nhà xong;
3. Bà Trần Hồng T1 được hưởng 01 nền nhà, bà T1 chưa nhận đất;
4. Ông Trần Thanh T được hưởng 01 nền nhà, ông T đã nhận đất xây
dựng nhà xong; ngoài ra ông T còn được cụ T2 cụ B1 cho 02 công đất ruộng
tầm 2,8 mét;
5. Ông Trần Quốc K được hưởng 01 nền nhà, ông K đã nhận đất xây
dựng nhà xong; ngoài ra ông K còn được cụ T2 cụ B1 cho 02 công đất ruộng
tầm 2,8 mét;
6. Ông Trần Quốc D được hưởng 01 nền nhà, ông D đã nhận đất xây
dựng nhà xong; ngoài ra ông D còn được cụ T2 cụ B1 cho 02 công đất ruộng
tầm 2,8 mét;
7. Cụ Dư Thị B1 được hưởng 800m
2
và 01 công đất trồng cam.
8. Cụ T2 còn để lại cho mình 01 công đất trồng cam. Sau đó cụ T2 đã làm
thủ tục tặng cho ông Trần Quốc D, hiện nay phần đất này thuộc thửa 707
(thửa mới 228 mới 206), tbản đồ số 27, diện tích 3152 m
2
các anh chị em
đồng ý đcho ông D được hưởng toàn bộ phần đất này, các nguyên đơn không
tranh chấp.
9. Ngoài ra di chúc còn để lại đường đi cập đất ông T ngang 2 mét, dài từ
Quốc lộ E đến sông thuộc thửa 71 đường đi từ Quốc lộ E ra ruộng 2 mét
thuộc thửa 34. Khi cụ T2 qua đời các con sử dụng miếng vườn và căn nhà thuộc
thửa 71 để mua nhan đèn và mua đồ thờ cúng ông bà cha mẹ.
Sau khi cha mẹ chết các anh chị em có giao phần đất trên cho ông D quản
lý canh tác, ông D đã chuyển nhượng phần đất thửa 34 cho ông Nguyễn Thanh P
đứng tên các nguyên đơn không biết, đến khi ông P bơm cát sang lấp mặt bằng
thì các nguyên đơn mới biết việc chuyển nhượng. Sau đó các nguyên đơn đã
phát sinh tranh chấp, do đất cha mẹ để lại nhưng ông D tự ý chuyển nhượng
cho ông P. Đối với phần đất thửa 71 hiện ông D chưa chuyển nhượng cho ai
ông D đang quản lý sử dụng.
Trên phần đất thửa 71 01 nhà căn nhà cấp 4 của cụ T2 cụ B1 đlại
thờ cúng ông bà và 03 ngôi mộ và số cây trồng trên đất do cụ T2 và cụ B1 trồng
hiện nay do ông D quản lý, sử dụng thửa 34 hiện nay ông P đã sang lấp
hàng rào tông bao quanh thửa đất, trên đất không cây trồng do ông
Nguyễn Thanh P quản lý sử dụng.
Ngoài ra cụ T2 cụ Ba K1 còn thửa đất nào khác cũng không
nghĩa vụ tài sản với người khác.
4
Các nguyên đơn thống nhất với biên bản định giá tài sản biên bản xem
xét thẩm định tại chỗ kết quả làm việc cũng như số liệu kết quả đo đạc hiện
trạng khu đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện T cung cấp thửa
đất số 34 (thửa mới 34 - 1 và thửa 34 - 2) thửa đất số 71 (thửa mới 71 1,
thửa 71 2, thửa 71 3, thửa 71 - 4 thửa 71 -5), về giá đất các nguyên đơn
đồng ý lấy giá đất chuyển nhượng theo thị trường 1.700.000đồng/1m
2
để làm
sở giải quyết vụ án. Đối với cây trồng trên phần đất tranh chấp các nguyên
đơn không yêu cầu định giá; trường hợp ai được hưởng phần đất thì sẽ quản
và sử dụng cây trồng trên phần đất mình được hưởng.
Nay các nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
1. Yêu cầu ông Trần Quốc D trả lại phần đất chiều ngang 2 mét, chiều dài
150 mét, diện tích khoảng 300 m
2
, tại thửa 34, trong diện tích chung diện tích
806,2 m
2
(thửa mới 34 1, diện tích 727,1 m
2
thửa 34 2, diện tích 117,8
m
2
. Tổng diện tích đo đạc thực tế 844,9 m
2
), tờ bản đồ số 48, để làm đường đi
chung vào mộ của ông bà thuộc quyền sở hữu của tất cả anh chị em gồm bà Trần
Thanh B, Trần Thanh N, ông Trần Thanh T, bà Trần Hồng T1, ông Trần
Quốc K ông Trần Quốc D. Phần diện tích còn lại khoảng 506,2m
2
đồng ý
để lại cho ông Dư H, tất cả chị em còn lại không tranh chấp.
2. Yêu cầu ông Trần Quốc D trả lại phần đất chiều ngang 2 mét, chiều dài
150 mét, diện tích khoảng 300 m
2
, tại thửa 71, diện tích 1695,7 m
2
(thửa mới 71
- 1, diện tích 1147,9 m
2
; thửa 71 - 2, diện tích 100,4 m
2
; thửa 71 - 3, diện tích
94,9m
2
; thửa 71 - 4, diện tích 52,6 m
2
và thửa 71 - 5, diện tích 250,9 m
2
. Tổng
diện tích đo đạc thực tế 1646,7 m
2
), tờ bản đồ số 48, để làm đường đi chung
thuộc quyền sở hữu của tất cả anh chị em gồm bà Trần Thanh B, Trần Thanh
N, ông Trần Thanh T, bà Trần Hồng T1, ông Trần Quốc Kông Trần Quốc D.
Đối với 01 căn nhà hương hỏa cấp 4 03 ngôi mộ phần đất còn lại thuộc
thửa 71 để tất cả anh chị em cùng sử dụng, thờ cúng ông cha mẹ thống
nhất giao cho ông D quản lý.
3. Riêng nguyên đơn Trần Hồng T1 yêu cầu được hưởng phần đất
chiều ngang 10 mét, chiều dài 30 mét, diện tích 300 m
2
thuộc chiết thửa 71, tờ
bản đồ số 48, trong diện tích chung là 1695,7 m
2
để làm nền nhà ở.
Các phần đất tranh chấp nêu trên đều tọa lạc tại ấp Đ, N, huyện T, tỉnh
Vĩnh Long do Trần Quốc D đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Bị đơn ông Trần Quốc D trình bày:
Ông D thống nhất với lời trình của các nguyên đơn vhàng thừa kế thứ
nhất của cụ T2 cụ B1 gồm Trần Thanh B, Trần Thanh N, ông Trần
Thanh T, bà Trần Hồng T1, ông Trần Quốc K và bị đơn ông Trần Quốc D, ngoài
ra cụ T2 cụ B1 không có con nuôi; về đất cụ T2 và cụ B1 đã chia cho các con
lúc còn sống như các nguyên đơn tnh bày theo “Tờ di chúc” của cụ T2 ngày
10/12/2008. Riêng thửa 71, diện tích 1695,7 m
2
(theo đo đạc thực tế thửa mới 71
- 1, diện tích 1147,9 m
2
; thửa 71 - 2, diện tích 100,4 m
2
; thửa 71 - 3, diện tích
94,9 m
2
; thửa 71 - 4, diện tích 52,6 m
2
71-5, diện tích 250,9 m
2
. Tổng diện
5
tích đo đạc thực tế 1646,7 m
2
), tờ bản đsố 48 thửa 34, diện tích 806,2 m
2
(theo đo đạc thực tế thửa mới 34 -1 diện tích 727,1 m
2
thửa 34 2, diện tích
117,8 m
2
. Tổng diện tích đo đạc thực tế 844.9 m
2
), tờ bản đồ số 48 cụ T2 cụ
B1 đã tặng cho ông D lúc cụ T2 cụ B1 còn sống vào ngày 04/6/2014. Ngoài
ra lúc còn sống cT2 và cụ B1 không có nghĩa vụ tài sản với người khác.
Nay ông D không đồng ý toàn bộ các yêu cầu của các nguyên đơn yêu cầu
ông mở 02 lối đi tại thửa 34 71, đất nhà thuộc thửa 71 thuộc quyền sử
dụng chung của tất cả các anh em. do, 02 thửa đất 34 71 lúc còn sống
cụ T2 đã lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông D vào ngày
04/6/2014 theo quy định của pháp luật cụ B1 cũng không phản đối được
cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D.
Đồng thời ông D yêu cầu công nhận phần đất thửa 71 diện tích 1695,7m
2
(theo đo đạc thực tế thửa mới 71 - 1, diện tích 1147,9m
2
; thửa 71 - 2, diện tích
100,4m
2
; thửa 71 - 3, diện tích 94,9m
2
; thửa 71 - 4, diện tích 52.6m
2
và thửa 71 -
5, diện tích 250,9m
2
. Tổng diện tích đo đạc thực tế 1646,7m
2
) tờ bản đồ số 48,
loại đất đất trồng cây lâu năm do ông Trần Quốc D đứng tên Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất trên phần đất cố gắn liền căn nhà cấp 4, diện tích
khoảng 100m
2
, giá trị khoảng 50.000.000đồng, 03 ngội mộ một số cây
trồng trên đất thửa số 34, diện tích 806,2m
2
(theo đo đạc thực tế thửa mới 34
- 1 diện tích 727,1m
2
thửa 34 - 2 diện ch 117,8m
2
. Tổng diện tích đo đạc
thực tế 844,9m
2
), tờ bản đồ số 48, loại đất trồng cây lâu năm do ông Trần Quốc
D đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tất cả các thửa đất đều tọa lạc
tại ấp Đ, N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long cho ông Trần Quốc D. Ngoài ra thửa
đất 34 ông D đã chuyển nhượng cho ông P, nên để ông P tự quyết định cho
hay không mở lối đi là quyền của ông P.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh P trình bày:
Vào năm 2023 ông Trần Quốc D chuyển nhượng cho ông P phần đất
thuộc thửa 34 (theo đo đạc thục tế thửa mới 34 1, diện tích 727,1m
2
thửa
34 2, diện tích 117,8m
2
. Tổng diện tích đo đạc thực tế 844,9m
2
), loại đất trồng
cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp Đ, N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long với giá
200.000.000đồng. Khi chuyển nhượng các bên lập hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất theo quy định được Ủy ban nhân dân xã N, huyện T xác nhận
ngày 18/5/2023. Ông P đã giao đủ tiền cho ông D ông D cũng đã giao đủ đất
cho P nhận để canh tác cho đến nay. Hiện tại ông P đứng tên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất được S Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày
23/6/2023. Hiện tại trên đất ông P đã xây dựng tường rào kiên cố xung quanh và
san lấp mặt bằng. Khi chuyển nhượng quyền sử đất với ông D thì ông D cũng
không chừa lại lối đi (chuyển nhượng trọn thửa 34) như các nguyên đơn yêu cầu
và cũng không có ai tranh chấp về quyền sử dụng đất và tranh chấp về lối đi.
Ông P thống nhất với biên bản định giá tài sản, biên bản xem xét thẩm
định tại chỗ và kết quả đo đạc hiện trạng khu đất do Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai huyện T cung cấp tại thửa đất số 34 (theo đo đạc thực tế thửa mới 34 -
1 thửa 34 - 2); thống nhất giá đất chuyển nhượng theo gthị trường
6
1.700.000đồng/1m
2
để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Nay ông P yêu cầu giải quyết như sau:
1. Yêu cầu ông Trần Quốc D tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất thửa 34 (theo đo đạc thực tế thửa mới 34 1, diện tích
727,1m
2
thửa 34 – 2, diện tích 117,8m
2
. Tổng diện tích đo đạc thực tế
844,9m
2
), loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp Đ, N, huyện T, tỉnh
Vĩnh Long cho ông P, được Ủy ban nhân dân N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long
xác nhận ngày 18/5/2023.
2. Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 34 (theo đo đạc thực tế thửa mới 34 - 1, diện
tích 727,1m
2
và thửa 34 - 2 diện tích 117,8m
2
. Tổng diện tích đo đạc thực tế
844,9m
2
), loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp Đ, N, huyện T, tỉnh
Vĩnh Long cho ông P.
3. Không đồng ý mở lối đi ngang 2m dài 150m tại phần đất thửa 34 theo
yêu cầu của các nguyên đơn. do khi chuyển nhượng phần đất này ông D đã
đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông P nhận chuyển nhượng
theo đúng quy định của pháp luật; tại thời điểm chuyển nhượng không ai
tranh chấp.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 112/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2014
của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
Căn cứ khoản 5 9 Điều 26; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1, 2 4
Điều 91; khoản 2 Điều 92; khoản 5, 7 8 Điều 95; Điều 147; Điều 157; Điều
165; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 722, 723, 724, 725 726 của Bộ luật Dân sự năm
2005;
Căn cứ vào Điều 106 của Luật đất đai năm 2003;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 170 khoản 3 Điều 188 của Luật đất đai năm
2015;
Căn cứ các điều 500, 501, 502 và 503 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, khoản 1 Điều 26 và
điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn
Trần Thanh B, bà Trần Thanh N, ông Trần Thanh T, bà Trần Hồng T1, ông Trần
Quốc K vviệc yêu cầu chia thừa kế theo di chúc mở 02 lối đi tại thửa đất 34,
71, đất nhà tại thửa 71 để cho các nguyên đơn Trần Thanh B, Trần
7
Thanh N, ông Trần Thanh T, Trần Hồng T1, ông Trần Quốc K ông Trần
Quốc D sử dụng chung và chỉ giao cho ông Trần Quốc D quản lý.
2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Hồng T1 về việc yêu cầu ông D
chia thừa kế theo di chúc một nền nhà chiều ngang 10 mét, chiều dài 30 mét,
diện tích 300 m
2
tại chiết thửa 71, đất tọa lạc tại ấp Đ, N, huyện T tỉnh
Vĩnh Long.
3. Đình chỉ một phần đối với yêu cầu phản tố của ông Trần Quốc D về
việc yêu cầu công nhận thửa đất 34, diện tích 806,2m
2
(theo đo đạc thực tế thửa
mới 34 1, diện tích 727,1m
2
thửa 34 2, diện tích 117,8m
2
. Tổng diện tích
đo đạc thực tế 844,9m
2
), tờ bản đồ số 48, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại
ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
4. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Trần Quốc D về việc yêu
cầu công nhận 71 diện tích 1695,7m
2
theo đo đạc thực tế là thửa mới 71 - 1, diện
tích 1147,9m
2
; thửa 71 - 2, diện tích 100,4m
2
; thửa 71 - 3, diện tích 94,9m
2
; thửa
71- 4, diện tích 52,6m
2
thửa 71 - 5, diện tích 250,9m
2
. Tổng diện tích đo đạc
thực tế 1646,7m
2
, tờ bản đồ số 48, loại đất đất trồng cây lâu năm, đất tọa
lạc tại ấp Đ, N, huyện T tỉnh Vĩnh Long thuộc quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền trên đất của ông Trần Quốc D (kèm theo kết
quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 22/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai huyện T).
5. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Quốc D để cho các anh chị em
gồm Trần Thanh B, Trần Thanh N, ông Trần Thanh T, Trần Hồng T1,
ông Trần Quốc K đến nhà để thắp hương cho ông bà cha mẹ ông D không ngăn
cản.
6. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Quốc D để cho các anh chị em
gồm Trần Thanh B, Trần Thanh N, ông Trần Thanh T, Trần Hồng T1,
ông Trần Quốc K một lối đi riêng vào mộ ông cha mẹ thuộc thửa 71 - 4, diện
tích 100,4m
2
(kèm theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 22/8/2024 của
Chi nhánh n phòng đăng ký đất đai huyện T).
7. Đình chỉ một phần đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Thanh P
về việc yêu cầu ông Trần Quốc D tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất lập ngày 18/5/2023 giữa ông P với ông D tại thửa 34 (theo đo
đạc thực tế thửa mới 34 – 1, diện tích 727,1m
2
và thửa 34 – 2, diện tích 117,8m
2
.
Tổng diện tích đo đạc thực tế 844,9m
2
), loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc
tại ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
8. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Thanh P về việc
yêu cầu công nhận thửa 34 (theo đo đạc thực tế thửa mới 34 - 1 diện tích
727,1m
2
thửa 34 – 2, diện tích 117,8m
2
. Tổng diện tích đo đạc thực tế
844,9m
2
), loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp Đ, N, huyện T, tỉnh
Vĩnh Long thuộc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất của ông Nguyễn Thanh P (kèm theo kết quả đo đạc hiện trạng khu
đất ngày 22/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T).
8
Ông Trần Quốc D ông Nguyễn Thanh P quyền nghĩa vụ đến
quan nhà nước thẩm quyền để khai đăng biến động đất đai theo quy
định của pháp luật về đất đai.
9. Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí
dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự theo luật
định.
* Ngày 11/10/2024 nguyên đơn Trần Thanh B, Trần Thanh N, ông
Trần Thanh T, bà Trần Hồng T1, ông Trần Quốc K kháng cáo với cùng lời trình
bày và yêu cầu như sau:
Các nguyên đơn kháng cáo cùng yêu cầu bác toàn bộ yêu cầu phản tcủa
ông Trần Quốc D. Yêu cầu ông Trần Quốc D trả lại phần đất chiều ngang 2m,
chiều dài 150m, diện tích khoảng 300m
2
, tại thửa 34, trong diện tích chung diện
tích 806,2m
2
(thửa mới 34 1, diện tích 727,1m
2
thửa đất 34 2, diện tích
117,8m
2
. Tổng diện tích đo đạc thực tế 844,9m
2
). Yêu cầu ông Trần Quốc D trả
lại phần đất chiều ngang 2m, chiều dài 150m, diện tích khoảng 300m
2
, tại thửa
71, diện tích 1695,7m
2
. Đối với 01 căn nhà hương hỏa cấp 4 03 ngôi mộ
phần đất còn lại thuộc thửa 71 để tất cả anh chị em ng sdụng, thờ cúng ông
bà cha mẹ và thống nhất giao cho ông D quản lý.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà B trình bày giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm,
bác yêu cầu phản tố của ông D chấp nhận lối đi ngang 2m, dài 150m thuộc
thửa 74 lối đi ngang 2m dài 150m thuộc thửa 41 để làm lối đi ra viếng mộ
vào ruộng canh tác phần căn nhà shữu chung của hàng thừa kế của ông
T3, tất cả được đứng tên, giao cho ông D Quản lý sử dụng.
Ông K trình bày thống nhất lời trình bày của bà B.
T1 trình bày thống nhất lời trình bày của bà B, ông K.
Ông D trình bày không đồng ý theo yêu cầu kháng cáo của các nguyên
đơn và thống nhất nội dung bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xvà người
tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm.
Về nội dung:
9
Kiểm sát viên trình bày, phân tích nội dung, chứng cứ, căn cứ pháp luật
đề nghị hủy bản án thẩm, giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện
Tam Bình giải quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ được thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên
tòa; Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các đương
sự; Căn cứ vào kết quả tranh luận phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại
phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của các nguyên đơn Trần Thanh B, Trần Thanh N, Trần
Thanh T, Trần Hồng T1, Trần Quốc K còn trong hạn theo quy định tại Điều 273
Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung:
Ông Trần Bá T2 (chết năm 2019), bà Thị B1 (chết năm 2020), ông T2
B1 các người con: Trần Thanh B, Trần Thanh N, Trần Thanh T, Trần
Hồng T1, Trần Quốc K, Trần Quốc D. Ông T2 B1 qua đời để lại tài sản
đang tranh chấp thửa 34, diện tích thực đo 844,9m
2
thửa 71 diện tích thực đo
1646,7m
2
. Các nguyên đơn yêu cầu ông D trả lại phần đất theo di chúc chiều
ngang 2m, dài 150m tại thửa 34 để làm lối đi ra ruộng của ông K, ông T
viếng mộ ông bà thuộc quyền sở hữu của các anh chị em, còn lại 506,2m
2
đồng ý
để lại cho ông hưởng yêu cầu ông D trả lại phần đất theo di chúc ngang
2m, dài 150m tại thửa 71 để làm lối đi chung và nhà thắp hương.
Xét thấy ngày 26/11/2008 ông Trần T2 lập tờ di chúc cho phần đất
cho các con gồm Trần Thanh B, Trần Thanh N, Trần Hồng T1, Trần Thanh T,
Trần Quốc K, Trần Quốc D. Thời điểm lập di chúc giấy chứng nhận khám
sức khỏe ông T2 bình thường, giao tiếp tốt. Di chúc thể hiện ông T2 tên
ghi họ tên được chứng thực tại Ủy ban nhân dân N Các đương sự Trần
Thanh B, Trần Thanh N, Trần Hồng T1, Trần Thanh T, Trần Quốc K, Trần
Quốc thừa N1 di chúc do cụ Trần T2 lập các đương sự công nhận di
chúc đúng. Thực hiện di chúc, các con của cụ T2 đã nhận đất xong, riêng
Trần Hồng T1 chưa nhận đất theo di chúc do cụ thành lập ngày 26/11/2008,
đồng thời di chúc còn thể hiện đường đi cập Trần Thanh T đo qua 2m ngang dài
đến sông từ lđến sông và đường từ lộ ra ruộng 2m chị tôi qua đời các con i
sử dụng ruộng vườn hương quả tại nhà thu hoạch cúng nhang đèn mua đồ để
cúng”, nguyên đơn yêu cầu thực hiện theo di chúc. Cấp sơ thẩm căn cứ vào
10
hợp đồng tặng cho ngày 14/6/2014 được Ủy ban nhân dân do P1 chủ tịch
Trung T4 thể hiện không chữ ký, chữ viết, họ tên của cụ Trần T2, ch
một dấu điểm chỉ ngón trỏ trái của cụ Trần Bá T5, không có chữ ký xác nhận
điểm chỉ đầy đủ trang của hợp đồng, cấp sơ thẩm chưa thu thập lời khai của cán
bộ địa chính, P2 chủ tích chứng thực đúng do cụ T2 điểm chỉ trước mặt
người chứng thực không? Các bên thừa nhận phần đất thửa 34 71 của cụ
T2, cụ B1 tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng không chữ ký, chữ
viết của cụ B1, cấp thẩm nhận định cụ T2 lập tờ tặng cho ông D thửa 34,71
nên không còn di sản để chia cho nguyên đơn chưa đảm bảo quyền lợi của
nguyên đơn. Hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn yêu
cầu được hưởng 2 phần đất để làm lối đi tổng cộng 600m
2
(mỗi lối đi 300m
2
) và
các hàng thừa kế đứng tên chung phần đất căn nhà của cụ T2, cụ B1 để lại
đứng tên chung phần mộ của ông bà nhưng khi tiến hành đo đạc, khảo sát cấp sơ
thẩm không đo vẽ theo yêu cầu của các nguyên đơn, chỉ đo vẽ theo ý kiến của bị
đơn, sơ đồ đo đạc chưa đầy đủ. Đồng thời đâyvụ án tranh chấp thừa kế, tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cấp sơ thẩm không định giá
tài sản thừa kế chưa đầy đủ để xử lý án phí đối với trường hợp được hưởng di
sản thừa kế. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn thửa 71 và công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông P thửa 34 là xem xét,
đánh giá chứng cứ chưa toàn diện, ảnh hưởng quyền lợi của các đương sự.
Như phân tích trên, cấp thẩm giải quyết, xem xét đánh gchứng cứ
chưa toàn diện, thu thập chứng cứ không đầy đủ, vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng, cấp phúc thẩm không bổ sung được nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát
viên, hủy Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, giao hồ sơ cho
Tòa án nhân dân huyện Tam Bình giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
Do hủy án nên các đương sự không phải chịu án phí. Án phí sẽ được giải
quyết lại trong quá trình giải quyết sơ thẩm sau.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Chấp nhận một phần kháng cáo của các nguyên đơn đề nghị của Kiểm
sát viên.
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12, Điều 14, Điều 15, Điều
26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
11
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Hủy Bản án dân sự thẩm số 112/2024/DSST ngày 30/9/2024 của
Tòa án nhân dân huyện Tam Bình chuyển hồ vụ án cho Tòa án cấp
thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Án phí, chi phí tố tụng sẽ xem xét giải quyết khi Tòa án nhân dân
huyện Tam Bình giải quyết lại vụ án.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND Cấp cao;
- VKSND Cấp cao;
- VKSNDTVL;
- TAND TB;
- Các ĐS;
- HCTP;
- KTNV&THA;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Đăng
Tải về
Bản án số 43/2025/DS-PT Bản án số 43/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 43/2025/DS-PT Bản án số 43/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất