Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 09/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/06/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị L - Nguyễn Ngọc A T/C chia tài sản sau ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH QUẢNG TRỊ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 09/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 25/6/2026
"V/v: Chia tài sản chung sau ly hôn"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn
Các Thẩm phán: Ông Dương Viết Hải và bà Từ Thị Hải Dương
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Anh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà
Trn ThThu Hin - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2026, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm th số 10/2026/TLPT-
HNGĐ ngày 04/5/2026 về việc “Chia tài sản chung sau ly hôndo Bản án hôn nhân
gia đình sơ thẩm số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 19/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực
4, tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số
07/2026/QĐ-PT ngày 25/5/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, giữa các đương
sự:
1. Nguyên đơn: Ch Phạm Thị L, sinh năm 1975; số CCCD: ************; địa
ch: S A đường B, khu ph C, phường P, thành ph H Chí Minh. Vắng mặt, có đơn
xin vắng mặt.
Đại din theo u quyn ca nguyên đơn: Ch Đỗ Th Diu Linh, sinh năm 1988;
địa ch: Thôn Hoàng V, xã L, tnh Qung Tr. Vắng mặt
2. B đơn: Anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1974; số CCCD: ************; địa
ch: Thôn T, xã C, tnh Qung Tr. Vắng mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn Phạm Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày: Tại quyết định công nhận thuận
tình ly hôn số 42/2024/QĐST-HNG ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện L,
tỉnh Quảng Bình đã công nhận thuận tình ly hôn giữa chị anh A; về tài sản
2
chung tự thoả thuận không yêu cu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn, chị và anh A
không tự thoả thuận giải quyết về tài sản chung nên chị yêu cầu Toà án giải quyết chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa chị và anh A, gồm:
1. Quyền sdụng đất thuộc thửa đất số 220, tờ bản đồ số 27, diện tích 206m²,
trong đó đất tại nông thôn 60,0m², đất trông cây hàng năm khác 146,0m²; địa chỉ
thửa đất: Thôn T, H, huyện L, tỉnh Quảng Bình (nay thôn T1, xã C, tỉnh
Quảng Trị) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 726027 ngày
05/11/2019 mang tên ông Nguyễn Ngọc A và bà Phạm Thị L.
2. Một ngôi nhà 02 tầng xây dựng trên thửa đất số 220, tờ bản đồ số 27, địa chỉ:
Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình cũ (nay là thôn T1, xã C, tỉnh Quảng Trị).
Chị L yêu cầu chia đôi tài sản chung theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên tại
đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 05/02/2026, chị L lại yêu cầu Toà án thực
hiện việc chia đôi tài sản (mỗi người được nhận 50% giá trị tài sản) thông qua việc
bán đấu giá các tài sản nêu trên.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 18/3/2026, chị Linh yêu cầu Toà án chia tài
sản thông qua việc bán đấu giá hai tài sản nêu trên, không đồng ý việc chia tài sản
theo kết quả định giá mà Toà án đã tiến hành định giá.
* Bị đơn, anh Nguyễn Ngọc A: Quá trình giải quyết vụ án, anh A đều vắng mặt
nhưng tại bản tự khai ngày 03/11/2025, anh A trình bày: Về quan hệ hôn nhân, con
chung giữa anh chị L đã được Toà án giải quyết bằng quyết định công nhận thuận
tình ly n số 42/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện L
Thuỷ, tỉnh Quảng Bình nhưng về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay chị L yêu cầu giải quyết, anh có quan điểm như sau: Anh thừa nhận trong thời kỳ
hôn nhân, anh chị L tạo lập được khối tài sản chung gồm quyền sử dụng đất
thuộc thửa đất số 220, tbản đồ số 27, diện tích 206m², trong đó đất tại nông thôn
60,0m², đất trông cây hàng năm khác 146,0m²; địa chỉ thửa đất: Thôn T, H, huyện
L, tỉnh Quảng Bình (nay thôn T1, C, tỉnh Quảng Trị) được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CP 726027 ngày 05/11/2019 mang tên ông Nguyễn Ngọc
A Phạm Thị L; một ngôi nhà nhà 02 tầng xây dựng trên thửa đất số 220, tờ bản
đồ số 27, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn T1, C,
tỉnh Quảng Trị). Anh yêu cầu Toà án chia đôi số tài sản chung trên theo hướng anh
nhận giá trị tài sản bằng hiện vật gồm nhà đất đtiếp tục sử dụng, anh sẽ nghĩa
vụ giao tiền chệnh lch tài sản (1/2) cho chị L theo giá trị tài sản Hội đồng định
giá đã kết luận. Về tham gia tố tụng tại Toà án: Bản thân anh đang làm việc xa nhà,
bận chăm sóc mẹ già thường xuyên đau ốm, anh không điều kiện tham gia tố tụng
tại Toà án nên anh đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt anh.
3
Xét thấy việc xem xét, thẩm định định giá tài sản cần thiết, trên sđơn
yêu cầu của nguyên đơn chị Phạm Thị L, ngày 28/01/2026, Tòa án tiến hành xem xét,
thẩm định tại chỗ và định giá đất tài sản trên thửa đất số 220, tờ bản đồ số 27, diện
tích 206m²; địa chỉ thửa đất: Thôn T, H, huyện L, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn
T1, xã C, tỉnh Quảng Trị), kết quả như sau:
* Kết quả xem xét, thẩm định: Thửa đất số 220, tờ bản đồ số 27 (nay tờ bản
đồ số 59), diện tích 206m² có vị trí tiếp giáp tứ cạnh như sau:
- Phía Tây Bắc giáp thửa đất số 80, được hiệu từ điểm 1-2, kích thước
11,57m;
- Phía Đông Bắc giáp thửa đất số 219, được ký hiệu từu điểm 2-3, có kích thước
17,26m;
- Phía Đông Nam giáp đường tông, được hiệu từ điểm 3-4, kích thước
12,20m;
- Phía Tây Nam giáp thửa đất số 225, được hiệu từ điểm 4-1, kích thước
17,49m;
Hiện trạng trên thửa đất có các tài sản sau:
- Một ngôi nhà 02 tầng, tường tông cốt thép, kết hợp móng tường xây gạch
đá, kết cấu phần thân cột dầm, sàn bê tông cốt thép, kết hợp tường chịu lực, tường xây
bao che bằng gạch, tô trát hoàn chỉnh, chiều cao tầng 3,6m, mái bằng bê tông cốt thép
xây tường thu hồi, trên lợp tôn, tường mặt chính ma tít, sơn chống thấm, tường
trong nhà và trần nhà sơn ba lớp không. Chân tường ốp cùng loại vật liệu với nền cao
bằng hoặc dưới 0,2m; nền lát gạch Ceramic loại cao cấp; cửa gỗ khuôn ngoại, cầu
thang lát đá tự nhiên, lan can cầu thang; hệ thống đèn chiếu trần tường; hthống
cấp thoát nước đồng bộ; thiết bị điện vệ sinh trang bị mức trung bình, khu vệ sinh
và bếp khép kín trong nhà. Tổng diện tích 109,2m²;
- Một bộ bàn ghế gỗ kiểu loại Á - Âu, tay 09; Một tủ kệ để ti vi bằng gỗ; Một
giường gỗ loại 1,6m; Một tủ lạnh (đã hỏng); Một ti vi (đã hỏng); Một bồn nước Sơn
Hà loại 1000 lít;
- Một ngôi nhà phụ xây gạch, tô trát hoàn chỉnh, mái lợp tôn, diện tích 11,7m²
* Kết quả định giá: Quyền sử dụng đất 206m² có giá trị 146.300.000 đồng, trong
đó 60m² đất giá trị 66.000.000 đồng 146m² đất trồng cây hàng năm khác
giá trị 80.300.000 đồng; Ngôi nhà hai tầng giá trị 583.826.880 đồng; Mái tôn
giá trị 58.216.000 đồng; Tường rào có giá trị 45.404.000 đồng; Một bộ bàn ghế có giá
trị 14.000.000 đồng; Một kgỗ để ti vi giá trị 5.000.000 đồng; Một giường gỗ loại
4
1,6m có giá trị 1.800.000 đồng; Một bồn nước Sơncó giá trị 4.381.000 đồng; Một
nhà tạm giá trị 17.643.600 đồng; Một tủ lạnh một ti vi đã hỏng, không còn giá
trị sử dụng. Tổng giá trị các tài sản là 876.571.480 đồng.
Bị đơn nhất trí với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn vắng mặt tại phiên xem
xét, thẩm định tại chỗ định giá tài sản nên Toà án đã thông báo kết quả xem xét,
thẩm định tại chỗ định gtài sản cho chị L chị L1 biết để thực hiện quyền
nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, không có ý kiến gì khác.
Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 18/2026/HNGĐ-ST ngày 19/3/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Quảng Trị đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 157, Điều
165 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 33, 37, 59, 62 của Luật Hôn
nhân gia đình; khoản 5, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu
nộp, quản sử dụng án phí l phí Tòa án: Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của chị Phạm Thị L.
1. Về tài sản chung:
1.1. Giao cho anh Nguyễn Ngọc A được quyền sử dụng đất tại thửa đất số 220,
tờ bản đồ số 27, diện tích 206m², trong đó đất tại nông thôn 60,0m², đất trồng cây
hàng năm khác 146,0m²; địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình cũ
(nay thôn T1, C, tỉnh Quảng Trị) đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số CP726027 ngày 05/11/2019 mang tên ông Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị L
được sở hữu, sử dụng một ngôi nhà hai tầng xây dựng trên thửa đất nói trên. Tổng giá
trị tài sản anh A được sở hữu, sử dụng là 730.126. 880 đồng.
Thửa đất được giao có vị trí: Phía Tây Bắc giáp thửa đất số 80, được ký hiệu từ
điểm 1-2, có kích thước 11,57m; phía Đông Bắc giáp thửa đất số 219, được ký hiệu từ
điểm 2-3, có kích thước 17,26m; phía Đông Nam giáp đường bê tông, được ký hiệu từ
điểm 3-4, có kích thước 12,20m; phía Tây Nam giáp thửa đất số 225, được hiệu từ
điểm 4-1, có kích thước 17,49m.
(Vị trí đất nhà được giao được chú thích trên đồ thửa đất đính kèm theo
bản án từ điểm 1-2, 2-3, 3-4 và 4-1).
1.2. Nghĩa vụ thanh toán tiền chênh lệch chia tài sản: Buộc anh Nguyễn Ngọc
A nghĩa vụ giao số tiền 365.063.440 đồng (Ba trăm sáu mươi lăm triệu, không
trăm sáu mươi ba nghìn, bốn trăm bốn mươi đồng) cho chị Phạm Thị L.
5
2. Sau khi bản án hiệu lực pháp luật, anh Nguyễn Ngọc A quyền liên hệ
quan thẩm quyền để làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền yêu cầu
thi hành án, quyền kháng cáo.
Ngày 07/4/2026 chị Phạm Thị L kháng cáo bản án yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm hủy bản án thẩm, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc chia tài sản
thông qua bán đấu giá.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo đơn xin xét xvắng
mặt. Bị đơn vắng mặt
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa phúc thẩm,
phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia
tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề
nghị Tòa án không chấp nhận kháng cáo của chị Phạm Thị L, ginguyên bản án
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa
và căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện
Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị L đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm
trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xác định là kháng
cáo hợp L để xét xử phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của chị Phạm Thị L thấy:
[2.1]. Chị Phạm Thị L chỉ yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng
gồm:
- Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất s220, tbản đồ số 27, diện tích 206m²,
trong đó đất tại nông thôn 60,0 m², đất trồng cây hàng năm khác 146,0m²; địa chỉ
thửa đất: Thôn T, H, huyện L, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn T1, C, tỉnh
Quảng Trị) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 726027 ngày
05/11/2019 mang tên ông Nguyễn Ngọc A và bà Phạm Thị L.
- Một ngôi nhà 02 tầng xây dựng trên thửa đất số 220, tbản đồ số 27, địa chỉ:
Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình cũ (nay là thôn T1, xã C, tỉnh Quảng Trị).
Chị L yêu cầu chia đôi tài sản chung theo quy định của pháp luật.
6
Quá trình giải quyết ván, ngày 01/10/2025 nguyên đơn Phạm Thị L đơn
u cầu xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản. Ngày 28/01/2026, Tòa án cấp
sơ thẩm đã tiến hành thẩm định và định giá đối với các tài sản chung của chị L và anh
Ngọc A (bao gồm một số vật dụng trong gia đình), cụ thể: Quyền sử dụng thửa đất
diện tích 206m² có giá trị 146.300.000 đồng, trong đó 60m² đất ở có giá trị 66.000.000
đồng và 146m² đất trồng cây hàng năm khác giá trị 80.300.000 đồng; Ngôi nhà hai
tầng giá trị 583.826.880 đồng; Mái tôn giá trị 58.216.000 đồng; Tường rào
giá trị 45.404.000 đồng; Một bộ bàn ghế giá trị 14.000.000 đồng; Một kệ gỗ để ti
vi giá trị 5.000.000 đồng; Một giường gloại 1,6m giá trị 1.800.000 đồng; Một
bồn nước Sơn giá trị 4.381.000 đồng; Một nhà tạm giá trị 17.643.600 đồng;
Một tủ lạnh và một ti vi đã hỏng, không còn giá trị sử dụng. Tổng giá trị các tài sản là
876.571.480 đồng.
Tòa án đã tiến hành thông báo về kết quả định giá cho các bên đương strong
vụ án, tuy nhiên nguyên đơn chị L người đại diện theo y quyền của chị L không
có ý kiến gì. Bị đơn anh Ngọc A hoàn toàn thừa nhận quá trình chung sống anh và chị
L tạo lập khối tài sản chung chưa chia khi ly hôn đúng như nguyên đơn đã nêu
đồng thời yêu cầu Toà án chia đôi số tài sản chung trên theo hướng anh nhận giá trị
tài sản bằng hiện vật gồm nhà và đất để tiếp tục sử dụng sau khi ly hôn, anh và con
nhỏ đã sinh sống ổn định đó đến nay. Anh sẽ nghĩa vụ giao tiền chệnh Lch tài
sản (1/2) cho chị L theo giá trị tài sản mà Hội đồng định giá đã kết luận.
Do các bên không thống nhất được phương án giải quyết tranh chấp, ngày
05/02/2026, Tòa án nhân dân khu vực 4 ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Cùng
ngày, chị L đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện yêu cầu Toà án thực hiện việc chia
đôi tài sản (mỗi người được nhận 50% giá trị tài sản) thông qua việc bán đấu giá các
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng. Nay chkháng cáo yêu cầu giải
quyết tài sản chung thông qua đấu giá rồi chia đôi.
[2.2]. Xét thấy, do các bên không thỏa thuận được việc phân chia tài sản chung;
nguyên đơn yêu cầu chia tài sản thông qua bán đấu giá nhưng bị đơn muốn nhận đất
nhà đây nơi sinh sống duy nhất của cả bị đơn con chung. Anh Ngọc A
đồng ý giao tiền chênh Lch chia tài sản chung cho chị L. Về giá trị tài sản, đã được
HĐĐG định giá theo yêu cầu của chị L. vậy, Tòa án cấp thẩm đã quyết định
giao cho anh Ngọc A được quyền sử dụng đất sở hữu ngôi nhà 02 tầng trên đất
tổng giá trị tài sản anh A được sở hữu, sử dụng 730.126. 880 đồng, đồng thời buộc
anh Nguyễn Ngọc A nghĩa vụ giao số tiền 365.063.440 đồng (ba trăm sáu mươi
lăm triệu, không trăm sáu mươi ba nghìn, bốn trăm bốn mươi đồng) cho chị Phạm Thị
L là phù hợp với Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình.
7
Từ những nhận định nêu trên, HĐXX xét thấy không căn cứ đxem xét về
yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng thông qua hình thức bán đấu giá tài sản của
nguyên đơn Phạm Thị L.
[3]. Về án phí phúc thẩm: Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng.
[4]. Những quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
án phí, l phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn về yêu cầu chia tài sản chung
của vợ chồng thông qua hình thức bán đấu giá tài sản, giữ nguyên Bản án thẩm s
18/2025/HNGĐ-ST ngày 19/3/2026 của Tòa án nn dân khu vực 4, tỉnh Quảng Trị.
2. Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng
nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp tại biên lai số: 0001842 ngày
23/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
3. Các quyết định khác của án thẩm không kháng cáo, không bị kháng
nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 25/6/2026.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XPHÚC THM
- VKSND tỉnh Quảng Trị; THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- THADS tỉnh Quảng Trị;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ; Tòa DS;
(đã ký)
Hoàng Thị Thanh Nhàn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT Bản án số 09/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất